ĐỀ TÀI: Thực trạng và các biện pháp để thu hút vốn đầu tư của cả trong và ngoài nước vào các KCN tỉnh Bình Dương - Pdf 24

Mở đầu
Hiện nay một thực tế của chúng ta đó là Việt Nam vẫn là một nước
đang phát triển với một nền nông nghiệp lạc hậu. Nhận thức được vấn đề này
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn cố gắng tìm những giải pháp, hình thức thích
hợp để thúc đẩy đất nước phát triển, rút ngắn khoảng cách với các nước công
nghiệp đi trước.
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá(CNH - HĐH) đất
nước ta hiện nay thì việc xây dung các khu công nghiệp(KCN) là một trong
những chiến lược quan trọng. Tuy nhiên các KCN nước ta gặp rất nhiều khó
khăn, đó là việc ra đời muộn hơn các nước khác trên thế giới và ngay cả trong
khu vực, đầu tư cho cơ sở hạ tầng Ýt, hệ thống pháp lý ổn định, gây trở ngại
cho đầu tư nước ngoài.
Bình Dương là một trong những tỉnh mới được tách ra(từ Sông Bé) đã
ý thức được điều này và đã vươn lên thành một trong những tỉnh có nhiều
KCN nhất cả nước. Tỉnh đã thu hút được rất nhiều nguồn lao động vào các
KCN, tạo ra bước phát triển lớn về công nghiệp.
Tuy nhiên với sự nghiệp chung của đất nước hiện nay là CNH - HĐH,
thì đó là những bước thành công ban đầu của một mô hình, những khó khăn
thử thách vẫn còn đó đòi hỏi các nhà lãnh đạo các doanh nghiệp phải có chiến
lược phát triển lâu dài.
Vậy thực trạng các KCN ở Bình Dương hiện nay và các biện pháp để
thu hút vốn đầu tư của cả trong và ngoài nước vào các KCN đó sẽ như thế
nào? Đó là vấn đề mà em nghiên cứu và mong được sự hướng dẫn của thầy.
Vì thời gian và năng lực bản thân của em có hạn nên trong đề án này
không tránh khỏi những thiếu xót, nhưng với sự góp ý và chỉ dạy của Th.s
Nguyễn Thành Hiếu và các thầy cô trong khoa QTKD, em hy vọng rằng đề án
này sẽ được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
- 1 -
MỤC LỤC


- 2 -
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KCN.
i. Khái niệm chung về KCN.
Ngày nay cụm từ khu công nghiệp (KCN) đã không còn xa lạ gì với
chúng ta, tuy nhiên ở nước ta dẫ bắt đầu hình thành và phát triển loại hình này
khá muộn, tận đến năm 1991 mới cấp giấy phép thành lập khu chế xuất đầu
tiên với quy mô 300ha tại Tân Thuận Đông, huyện Nhà Bè, Thành Phố Hồ
Chí Minh. Từ 1991 đến cuối tháng 8/1998 đã hình thành một mạng lưới KCN
phân bố rộng trên các vùng của đất nước với 57 KCN trên tổng diện tích
khoảng 9000ha, thu hút khoảng 5,5 tỷ USD vốn đầu tư đăng ky, tạo việc làm
cho 100000 lao động, đóng góp 11-12% giá trị xuất khẩu của cả nước và một
tỷ lệ đáng kể trong GDP (tạp chí KT & PT sè 28/1999). Điều đó cho thấy tốc
độ phát triển về quy mô của các KCN thời gian đầu là tương đối mạnh mẽ.
Vậy KCN được hiểu: “Là khu vực tập trung các doanh nghiệp chuyên
sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có
ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ
tướng chính phủ ra quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp
chế xuất và khu công nghệ cao”.(Lý luận chính trị số 1/2001).
ii. Phân loại các KCN.
Việc phân loại các KCN có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau:
1. Căn cứ vào mục đích sản xuất:
Người ta chia ra KCN và khu chế xuất (KCX). KCN bao gồm các cơ sở
sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. KCX là một dạng
của KCN chuyên làm hàng xuất khẩu.
2. Căn cứ theo mức độ mới - cũ:
KCN chia làm 3 loại:
- Các KCN cũ xây dùng trong thời kỳ bao cấp (từ trước khi có chủ
trương xây dựng KCN năm 1990) như KCN Thượng Đình (Hà Nội). KCN
Việt Trì, KCN Gang thép Thái Nguyên

học, làm đầu tàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu kinh tế
xã hội dài hạn.
7. Căn cứ theo chủ đầu tư :
Có thể chia thành 3 nhóm:
- Các KCN chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước.
- Các KCN hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước
và nước ngoài.
- Các KCN chỉ gồm các doanh nghiệp, các dự án 100% vốn đầu tư nước
ngoài.
8. Căn cứ theo tính chất của thực thể kinh tế xã hội :
- Các KCN hoàn chỉnh bao gồm cả khu dân cư và các công trình dịch
vụ cho sản xuất, sinh hoạt như các trung tâm thương mại, bệnh viện, trường
học, trung tâm văn hoá và giải trí. Ở các KCN này dần dần sẽ trở thành các thị
trấn, thị xã hay thành phố vệ tinh. Đó là sự phát triển toàn diện của KCN .
9. Căn cứ theo tính chất ngành công nghiệp :
Có thể liệt kê các ngành cấp II như : Khu chế biến nông, lâm, hải sản;
KCN khai thác quặng; KCN khai thác dầu khí; KCN hoá dầu; KCN luyện
kim; KCN cơ khí nặng; KCN điện tử, tin học; KCN điện, năng lượng; KCN
phục vụ vận tải (hàng không, đường biển, đường bộ ); KCN vật liệu xây
dựng.
10. Căn cứ theo lãnh thổ địa lý:
Có thể phân chia các KCN theo 3 miền : Bắc, trung, nam; theo các
vùng kinh tế xã hội (hoặc theo các vùng kinh tế trọng điểm); và theo các tỉnh
thành để phục vụ cho việc khai thác thế mạnh của mỗi vùng, làm cho kinh tế
xã hội của các vùng phát triển tương đối đồng đều, góp phần bảo đảm nền
kinh tế quốc dân phát triển bền vững.
iii. Sự cần thiết hình thành và phát triển các KCN.
KCN là công cụ của chính sách công nghiệp nhằm thúc đẩy CNH
hướng về xuất khẩu, đồng thời cũng là địa bàn để thực hiện chiến lược CNH -
- 5 -

án đầu tư mới, vốn đăng ký 847 triệu USD (so với năm 2002 giảm 18% số dự
án, nhưng tăng 11% về vốn); và 309 dự án xin tăng vốn thêm 657 triệu USD
(so với năm 2002, tăng 73% về số dự án và tăng 34% về vốn). Như vậy tổng
vốn đầu tư tăng thêm của các dự án đầu tư nước ngoài vào các KCN trong
năm 2003 là 1,5 tỷ USD tăng khoảng 20% so với năm 2002.
Doanh thu của các doanh nghiệp KCN (kể cả trong nước và nước
ngoài) năm 2003 ước đạt gần 7,3 tỷ USD, tăng 30% so với 2002 và tăng 62%
so với 2001. Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 3 tỷ USD. Nộp ngân sách khoảng
421 triệu USD (tăng 1,8 lần năm 2002, và tăng 2,3 lần năm 2001).
Cùng với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì việc tiếp thu công
nghệ hiện đại và học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nhà đầu tư
được các nước đang phát triển hết sức quan tâm. Để tạo ra các sản phẩm có
sức cạnh tranh, các nhà đầu tư thường đưa vào các KCN những công nghệ
tương đối hiện đại. Mặc dù ở các KCN người ta chủ yếu thực hiện các hoạt
động sản xuất hàng tiêu dùng, gia công, lắp giáp, xong quá trình chuyển giao
công nghệ vẫn diễn ra với nhiều hình thức: Đào tạo công nhân, chuyển giao
một số công nghệ, giúp đỡ kỹ thuật, học hỏi được kinh nghiệm tính chất điều
hành quản lý tiên tiến.
Thứ hai, KCN góp phần tạo công ăn việc làm:
Việc xây dựng các xí nghiệp sản xuất dịch vụ hỗ trợ bên ngoài đã giải
phóng được một số lương lao động khá lớn. Đến nay chỉ tính riêng tống số lao
động làm việc trong các KCN trên thế giới khoảng 4-5 triệu (trong khi đó vào
những năm 80 là 500000 người). Các KCN trong nước thu hút và tạo việc làm
cho khoảng 512 ngàn lao động trực tiếp (tăng gấp 1,4 lần so với năm 2002, và
gấp 2 lần năm 2001).
Có thể nói hình thành những yêu cầu về chiến lược phát triển kinh tế
đối ngoại cũng như sự cần thiết phải có một môi trường đầu tư hơn cả về cơ
sở hạ tầng lẫn hành lang pháp lý nhưng vẫn đảm bảo sự kiểm soát của nhà
- 7 -
nước về mặt kinh tế xã hội đã dẫn đến sự tất yếu của công việc thiết kế xây

3,
đá xây dựng 1,3 tỷ m
3
, ngoài ra còn có sét chịu lửa, bô xít, sa
khoáng
Nhìn tổng thể trong tương lai gần các KCN tỉnh Bình Dương sẽ khai
thác tối đa các lợi thế đường sắt, đường bộ xuyên Á và ga hàng hoá quốc tế
Sóng Thần.
II. Hoạt động các KCN của tỉnh.
1. Các KCN của tỉnh.
Hiện nay tỉnh Bình Dương có 7 KCN đang hoạt động.
- 9 -
KCN Bình Đường, có tổng vốn đầu tư là 24037 triệu đồng, có diện
tích là 24 ha trong đó diện tích đất cho phép thuê lại là 197900 m
2,
diện

tích đã
cho thuê 181500 m
2
đạt tỷ lệ 92%, giá cho thuê đất là 37 USD/m
2
/43 năm.
Chủ đầu tư là Công ty thương mại xuất nhập khẩu Thanh Lễ. Địa điểm KCN
ở Êp Bình Đường, xã An Bình, huyện Dĩ An.
KCN Đồng An, có tổng vốn đầu tư là 247959 triệu đồng, có tổng diện
tích 122,5 ha trong đó diện tích được phép cho thuê là 796250 m
2
, diện tích đã
cho thuê là 669265 m

USD/m
2
/ năm. Chủ đầu tư là công ty cổ phần phát triển KCN Sóng Thần. Các
lĩnh vực đầu tư : sản xuất các sản phẩm nhựa, đồ chơi, mỹ phẩm, các bao bì
đóng gói, sản xuất và lắp giáp các sản phẩm điện. Địa diểm KCN thị trấn Dĩ
An, huyện Dĩ An .
- 10 -
KCN Tân Đông Hiệp (khu A), có tổng vốn đầu tư 63825 tỷ đồng, tổng
diện tích 47,6 ha trong đó diện tích được phép cho thuê là 331500 m
2
. Các
lĩnh vực đầu tư gồm có công nghệ gia công lắp giáp cơ khí, may mặc, điện,
điện tử, máy móc thiết bị vận chuyển, các dụng cụ thể dục thể thao, các ngành
công nghiệp kỹ thuật cao và công nghiệp sạch khác. Địa điểm của KCN xã
Tân Đông Hiệp, Thái Bình và Đồng Hoà huyện Dĩ An.
KCN Tân Đông Hiệp (khu B),có tổng diện tích là 164 ha. Các lĩnh
vực đầu tư gồm có công nghiệp điện, gia công và lắp giáp cơ khí, chế biến
hàng tiêu dùng và xuất khẩu từ nông lâm sản, các ngành dệt may, thêu, dược
liệu, dụng cụ y tế, sứ vệ sinh cao cấp Địa điểm của KCN xã Tân Đông Hiệp,
huyện Dĩ An.
KCN Việt Hương, có tổng số vốn đầu tư 176 tỷ đồng, tổng diện tích
là 46 ha, trong đó diện tích được phép thuê lại là 300300 m
2
, diện tích đã cho
thuê là 152000 m
2
, đạt 51%, giá cho thuê đất là 35 USD/m
2
/45 năm. Chủ đầu
tư là công ty cổ phần Việt Hương, lĩnh vực đầu tư gồm có kinh doanh kho

và thu nhập ổn định cho 17000 lao động, 5 tháng đầu năm 2000 đã thu hút
thêm 19 dự áĐảng và Nhà nước mới với tổng vốn đăng ký 170 triệu USD và
14 tỷ đồng VN, tạo thêm hàng trăm việc làm mới.
2. Các quan điểm phát triển KCN của tỉnh.
Đầu tư phát triển các KCN tạo ra nền tảng kinh tế xã hội tác động
mạnh mẽ đến đầu tư cả trong nước và ngoài nước, thúc đẩy sản xuất công
nghiệp để sản xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng tiêu dùng trong nước,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế .
Giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động, từng bước
nâng cao trình độ kỹ thuật tay nghề, bậc thợ, hình thành tác phong công
nghiệp, sẵn sàng đón nhận các công nghệ tiên tiến.
Phát triển KCN nhằm mục tiêu khai thác và sử dụng có hiệu quả các
tiềm năng và nguồn lực trong nước, địa phương như lao động chất xám, các
nguồn vốn, tài nguyên rừng, thuỷ sản, khoáng sản, để công nghiệp hoá đất
nước.
- 12 -
KCN là địa bàn cụ thể thực hiện các cơ chế, chính sách quản lý tiếp
cận dần với thông lệ quốc tế, là diều kiện giúp cho việc hội nhập với khu vực
và thế giới nhằm khai thác thu hút ngày càng nhiêù và có hiệu quả hơn các
nguồn lực từ bên ngoài vào phát triển địa phương, đất nước.
Phát triển các KCN phải gắn với việc kiểm soát chất thải công nghiệp,
bảo vệ môi trường sinh thái nhằm bảo vệ lợi Ých lâu dài của địa phương và
đất nước.
Các KCN với kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội phát triển theo quy
hoạch đã góp phần hình thành các đô thị vệ tinh mới, thu hẹp sự chênh lệch
trong phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị.
Các mục tiêu cơ bản của tỉnh:
Phấn đấu từ nay đến năm 2010 sẽ phát triển định hình 13 KCN trên
địa bàn tỉnh, với tổng diện tích là 6200 ha.
Đến năm 2005 đón nhận các dự án đầu tư để lấp đầy 100% diện tích 7

yếu là các vùng chuyên sản xuất nông nghiệp sẽ giúp cho lực lượng lao động
tại đây được giải quyết. Tại khu phía Bắc hiện đã có KCN Mỹ Phước rộng
377 ha, đến nay đã lấp đầy 65% diện tích. Bình Dương đang chuẩn bị mở
rộng thêm khoảng 800 ha nữa. Tỉnh tiếp tục đầu tư thêm KCN Việt Hương 2
rộng 110 ha và KCN Mai Trung rộng 45 ha. Thêm một KCN mới rộng 20 ha
ở Tân Uyên. ().
Bước đột phá trong việc thu hút đầu tư vào KCN này là đền bù và giải
toả toàn bộ mặt bằng để sau đó thu hút đầu tư bằng cách giao mặt bằng đã
được sử lý xong cho các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư. Cho đến cuối năm
2003, Bình Dương đã đền bù và giải toả được 498 ha, và đến năm 2004 tỉnh
sẽ tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư , tất cả những khó khăn, vướng mắc của
nhà đầu tư sẽ được coi chính là những khó khănvà vướng mắc của tỉnh để có
thể cùng hợp tác cải thiện môi trường đầu tư cho lành mạnh và thông thoáng
hơn nhiều.
- 14 -
Số dự án đầu tư trong và ngoài nước ở ngoài KCN nhiều hơn số dự án
đầu tư trong KCN, điều đó thể hiện KCN chưa thật sự hấp dẫn đối với nhà
nhà đầu tư. Những nguyên nhân là:
Đối với đầu tư trong nước:
• Các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN chịu thuế suất cao hơn
(32%) so với đầu tư nước ngoài (25%).
• Các doanh nghiệp trong nước chỉ được miễn thuế thu nhập doanh
nghiệp 4 năm so với 8 năm đối với đầu tư nước ngoài.
• Đầu tư vào các KCN các doanh nghiệp trong nước phải chịu sự
quản lý của 2 đầu mối: vừa chịu tách nhiệm với sở chủ quản, vừa chịu trách
nhiệm với ban quản lý KCN.
Đối với đầu tư nước ngoài:
• Môi trường đầu tư của Việt Nam nói chung kém hấp dẫn hơn các nước
trong khu vực. Theo diễn đàn kinh tế thế giới, về sức cạnh tranh, nước ta
xuống 5 bậc trong năm 2000 (Việt Nam xếp hạng 53/58 nước được xếp

cho thuê (ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng sè
DN
1 Sóng Thần 1 180.33 153 152.5 99.67 47
2 Sóng Thần 2 354 250 81 32.4 25
3 Đồng An 120 85 56.5 66.47 24
4 Việt Hương 46 32 18.46 57.68 16
5 Bình Đường 26 19 11.54 60.73 5
6 VSIP 500 226 68 30.08 28
7 Tân Đông Hiệp 211 148 0 0 0
Tổng cộng 1437.33 913 388 42.49 145
Ban quản lý các KCN tỉnh Bình Dương cho biết, trong năm 2004 tỉnh
này sẽ phấn đấu lấp đầy khoảng từ 70% đến 80% diện tích các KCN đã đi vào
hoạt động.
Trong đó, tỉnh dự kiến sẽ thu hút từ 45 đến 50 dự án có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký khoảng từ 90 đến 100 triệu USD
và vốn FDI bổ sung khoảng 50 triệu USD. Riêng đầu tư trong nước sẽ thu hút
thêm 25 dự án với tổng vốn điều lệ từ 30 tỷ đến 40 tỷ đồng.
Từ năm 2003, với việc thực hiện rút ngắn thời gian cấp phép chỉ 1 đến
2 ngày đối với các dự án đầu tư có mức vốn dưới 1 triệu USD và 7 ngày đối
với các dự án đầu tư có vốn trên 1 triệu USD, cộng với chính sách trải thảm
đỏ, Bình Dương đang thu hút mạnh các nhà doanh nghiệp.
Hiện tại có 386 dự án đang hoạt động tại các KCN của tỉnh. Trong đó,
246 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký trên 886
triệu USD và 140 dự án đầu tư trong nước có tổng vốn điều lệ là 748437 triệu
đồng. ().
3.2. Việc làm và thu nhập của người lao động.
- 17 -

5 Bình Đường 3460 3209 512 14.8 813.9
6 VSIP 2512 1074 882 35.11 1688.3
Tổng 30103 19271 4533
Các KCN tỉnh Bình Dương đến nay đã tạo việc làm cho 16000 lao
động , với mức thu nhập bình quân từ 750000-880000 đồng/người, tăng 10%
so với cùng kỳ năm 2003.
3.3. Doanh thu các KCN .
Doanh thu của các doanh nghiệp KCN không ngừng tăng lên: Từ
60620457 USD năm 1997 đến cuối năm 1999 đã tăng lên137963305 USD, tỷ
- 18 -
lệ gia tăng doanh thu bình quân trung bình của các KCN đạt 60%. Giá trị sản
xuất của doanh nghiệp trong KCN so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn
tỉnh từ 17% năm 1997 tăng lên 32% năm 1999. Giá trị sản xuất của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh : Năm 1997 chỉ chiếm 9,8% giá
trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, đến cuối năm 1999 tỷ lệ này là 45,6%.
Bảng 3:Doanh thu các doanh nghiệp trong các KCN (giai đoạn 1997- 1999).
Năm 1997 1998 1999
DT các KCN
(triệu USD)
60.62 129.723 138
GT SXCN
(tỷ đồng)
3977.9 4474 6031
Tỷ lệ (%) 17 37.7 32
Tỷ giá: 1997: 12500đ/USD ; 1998: 13000đ/USD ; 1999:
14000đ/USD.
Doanh thu các doanh nghiệp KCN 6 tháng đầu năm 2000 đạt
109369806 USD bằng 40% so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.
KCN Sóng Thần 1 đạt 57135787 USD, chiếm 52,2% doanh thu các KCN,
KCN VSIP doanh thu đạt 23717200 USD, kế tiếp là KCN Việt Hương

tỉnh, phát triển bình quân 35% năm trong giai đoạn 1997 – 1999. Điều cần
chú ý là chỉ riêng tháng 6 năm 2000, tỷ lệ xuất khẩu của các doanh nghiệp
trong các KCN sẽ tăng lên 30% vào cuối năm 2000. Nguyên nhân chính giá
trị xuất khẩu tăng là do nhiều doanh nghiệp trong các KCN được xây dựng từ
những năm trước (1997-1999) bắt đầu đi vào hoạt động.
Bảng 5: Giá trị xuất khẩu các KCN tỉnh Bình Dương (1997-2000).
Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 6 tháng đầu 2000
Các KCN tỉnh35400000 55154607 62793236 703960963
Toàn tỉnh 362700000 363500000 430200000 259000000
Tỷ lệ (%) 9.7 15.2 14.6 27
ĐVT: USD
Trong các KCN, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 6 tháng
đầu năm 2000 đạt 365151777 USD, trong khi các doanh nghiệp đầu tư trong
nước chỉ đạt 33881786 USD. Số lượng các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
nhiều hơn so với các doanh nghiệp đầu tư trong nước (95DN/50DN), doanh
thu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lớn gấp đôi so với doanh
nghiệp đầu tư trong nước (71082163 USD / 38287643 USD). Phải chăng mục
- 20 -
tiêu chung của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là đầu tư sản xuất
để tiêu thụ trong thị trường Việt Nam là chính?
Phân tích các số liệu doanh rhu, xuất khẩu từng KCN sẽ cho chóng ta
câu trả lời về vấn đề này.
KCN VSIP có 28 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, tổng doanh thu đạt
23717200USD nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đạt 3774468 USD, chiếm 15,9%
trong khi KCN Sóng Thần 1 với 20 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, tổng
doanh thu đạt 32683501 USD,giá trị xuất khẩu 22339409 USD, chiếm
68,35%.
Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp trong KCN VSIP quá thấp, do
đó Ban quản lý KCN VSIP cần chú ý quản lý việc thực hiện chỉ tiêu xuất
khẩu các doanh nghiệp sau khi được cấp giấy phép.

Toàn tỉnh 305400000 366300000 47500000 230250000
Tỷ lệ (%) 18 24.4 26 31.8
ĐVT : USD
Các doanh nghiệp trong KCN nhập khẩu chiếm 31,8% giá trị nhập
khẩu toàn tỉnh và tạo ra giá trị xuất khẩu chỉ chiém 27% giá trị xuất khẩu toàn
tỉnh. Số liệu này một lần nữa đặt ra và đòi hỏi vai trò của Nhà nước đối với
các doanh nghiệp trong các KCN về việc thực hiện chỉ tiêu xuất khẩu trong
các dự án đầu tư.
- 22 -
Bảng 8: Kim ngạch nhập khẩu các doanh nghiệp trong KCN tỉnh Bình
Dương (đến ngày 30/6/2000).
ĐVT : USD

TT
Tên
KCN
Kim ngạch nhập khẩu
Tổng sè ĐT trong nước ĐT nước ngoài
1 Sóng Thần 1 31519243 24849642 6669592
2 Sóng Thần 2 12924659 5109143 7815516
3 Đồng An 5650371 2928214 2722157
4 Việt Hương 6902878 0 6902887
5 Bình Đường 3974602 2108143 1866459
6 VSIP 12259032 0 12259032
Tổng cộng 73230785 34995142 38235643
Toàn tỉnh 230,25 triệu
% so với toàn tỉnh 31,8%
3.5. Nộp ngân sách.
Các doanh nghiệp trong KCN nộp ngân sách giai đoạn 1997-1999 đạt
17046672 USD, tỷ lệ từ 5,2% năm 1997 ngân sách tỉnh tăng lên 13% năm

thành phần kinh tế khác ngoài KCN.
Kết quả lớn hơn của các KCN tỉnh Bình Dương là tác động phát triển
các ngành nghề dịch vụ khác như giao thông, vận tải, ngân hàng, hình thành
tác phong lao động công nghiệp.
Bên cạnh những thành tựu đó, còn có những tồn tại cần được giải
quyết để phát triển KCN bền vững.
2. Những tồn tại.
Thu hút đầu tư : Các doanh nghiệp mới chỉ thu hút được 1/3 đầu tư
nước goài và 1/3 đầu tư trong nước vào KCN. Phản ánh tỷ lệ cho thuê đất,
nhà xưởng mới đạt 42,9% (so với vùng kinh tế trọng điểm phía nam là 33%).
Vấn đề môi trường : Trong các KCN tỉnh Bình Dương, ngoại trừ KCN
VSIP đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh bảo vệ môi trường trong
sạch, các KCN còn lại đang trong quá trình hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Vấn đề
cấp bách nhất của các KCN còn lại là phải xây dựng hệ thống sử lý nước thải
trong từng KCN trước khi đưa nước thải ra mạng lưới thoát nước chung ngoài
KCN.
Vấn đề nhà ở cho công nhân : Có 86% lao động hiện nay trong các
KCN là người ngoài đị phương đặt ra vấn đề giải quyết nhà ở cho công nhân
rất cấp bách.
Vấn đề lao động lành nghề : Vấn đề lao động qua đào tạo là một cản trở
để phát triển các KCN. Lao động qua đào tạo ( đại học, cao đẳng, trung cấp)
các KCN tỉnh Bình Dương mới đạt 15,05% (4533/30103).
Vấn đề quản lý Nhà nước : Quản lý Nhà nước đối với sự phát triển các
KCN còn nhiều tồn tại thể hiện qua các chính sách thuế thu htú đầu tư, hỗ trợ
đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN, sự uỷ quyền cho
- 24 -
các địa phương điều hành xây dựng KCN theo quy hoạch đã được chính phủ
phê duyệt. Sự yếu kém trong quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp
trong KCN ở địa phương còn thể hiện qua việc quy hoạch pt chuyên ngành
công nghiệp từng KCN , thực hiện các chỉ tiêu xuất khẩu đối với các dự án


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status