Chương 1
1. Khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị đoan? Tại sao trong QLNN cần có sự
phân biệt 3 khái niệm trên.
a. Khái niệm
- Tôn giáo là sự sùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc
các mối quan hệ của con người đối với thần linh.
VD: đạo phật, đạo công giáo, đạo tin lành, đạo hồi
- Tín ngưỡng là :
+Một niềm tin theo 1 tôn giáo nào đó.(theo từ điển tiếng việt)
VD: tín ngưỡng phồn thịnh,
- Mê tín dị đoan là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực
xã hội, là những gì trái với lợi ích của xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người
tin theo mê muội.
VD: bói toán, gọi hồn
b. so sánh:
*Sự giống và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo:
- Sự giống nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng
Một là, những người có tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành,…) và có sinh
hoạt tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín
ngưỡng thờ Mẫu,…) đều tin vào những điều mà tôn giáo đó và các loại hình tín ngưỡng
đó truyền dạy, mặc dù họ không hề được trông thấy Chúa Trời, đức Phật hay cụ kỵ tổ tiên
hiện hình ra bằng xương bằng thịt và cũng không được nghe bằng chính giọng nói của
các đấng linh thiêng đó.
Sự giống nhau thứ hai giữa tôn giáo và tín ngưỡng là những tín điều của tôn giáo và tín
ngưỡng đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá thể với nhau, giữa cá thể
với xã hội, với cộng đồng, giải quyết tốt các mối quan hệ trong gia đình trên cơ sở giáo lý
tôn giáo và noi theo tấm gương sáng của những đấng bậc được tôn thờ trong các tôn giáo,
các loại hình tín ngưỡng đó.
- Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng
Một là, nếu tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố cấu thành, đó là: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và
điều mà mắt mình không trông rõ, tai mình không nghe thấy thân hình và giọng nói của
đấng thiêng liêng và của đối tượng thờ cúng; hạ là, những tín điều của tín ngững dân gian
và mê tín dị đoan đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với con
người, giữa con người với xã hội, với cộng đồng, điều chỉnh hành vi ứng xử trong gia
đình trên cơ sở những tín điều mà người ta tin theo và noi theo tấm gương sáng của
những đấng bậc và những đối tượng tôn thờ trong các loại hình tín ngưỡng và trong mê
tín dị đoan.
Sự khác nhau giữa tín ngưỡng với mê tín dị đoan
Một là, xét về mục đích, nếu sinh hoạt tín ngưỡng có mục đích là thể hiện nhu cầu của
đời sống tinh thần, đời sống tâm linh thì người hoạt động mê tín dị đoan lấy mục đích
kiếm tiền là chính. Người hoạt động trong lĩnh vực này chỉ làm việc với khách hàng khi
có tiền.
Hai là, nếu trong lĩnh vực sinh hoạt tín ngưỡng không có ai làm việc chuyên nghiệp hay
bán chuyên nghiệp, thì những người hoạt động mê tín dị đoan hầu hết là hoạt động bán
chuyên nghiệp hoặc chuyên nghiệp. Nhiều người sống và gây dựng cơ nghiệp bằng nghề
này.
Ba là, nếu sinh hoạt tín ngưỡng có cơ sở thờ tự riêng (đình, từ đường, miếu,…) thì những
người hoạt động mê tín dị đoan thường phải lợi dụng một không gian nào đó của những
cơ sở thờ tự của tín ngưỡng dân gian để hành nghề hoặc hành nghề tại tư gia.
2
Bốn là, nếu những người có sinh hoạt tín ngưỡng thường sinh hoạt định kỳ tại cơ sở thờ
tự (ngày mùng Một, ngày Rằm âm lịch hàng tháng ra đình làm lễ Thánh; hàng năm đến
ngày giỗ bố mẹ ông bà, phải làm giỗ,…) thì những người hoạt động mê tín dị đoan hoạt
động không định kỳ, vì người đi xem bói chỉ gặp thầy bói khi trong nhà có việc bất
thường xảy ra (mất của, chết đuối, ốm đau, hỏa hoạn,…), còn bình thường, có lẽ họ
chẳng gặp thầy bói làm gì.
Năm là, nếu sinh hoạt tín ngưỡng được pháp luật bảo vệ, được xã hội thừa nhận thì hoạt
động mê tín dị đoan bị xã hội lên án, không đồng tình.
c.Trong QLNN cần có sự phân biệt giữa 3 khái niệm trên.:
thiện, nhân đạo.
-Vận động nhân dân bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống về văn hóa, đạo đức,
lối sống tốt đẹp, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan.
-Nâng cao trình độ dân trí và hướng dẫn sâu rộng trong nhân dân về sự khác nhau của tôn
giáo và mê tín dị đoan. Cần có những hình thức xử phạt với những người hành nghề mê
tín dị đoan, tàng trữ mua bán các ấn phẩm mê tín dị đoan. Công an và cơ quan văn hóa
cần làm tốt nhiệm vụ quản lí của mình để giảm thiểu các hoạt động mê tín dị đoan, ngoài
ra ngành văn hóa thông tin cần có trách nhiệm xây dựng và hướng dẫn nhân dân những
nghi thức phù hợp trong tín ngưỡng.
-Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của
nhân dân, xây dựng các tiêu chuẩn về nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đó có
bài trừ mê tín dị đoan. Tóm lại, nếu có sự quản lí chặt chẽ của nhà nước kết hợp với ý
thức của nhân dân cùng với sự đồng lòng, đoàn kết thì mê tín dị đoan nhất định sẽ bị loại
bỏ.
- Cần phát huy những mặt tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo
2. Phân tích nguồn gốc hình thành nên tôn giáo?
a.Nguồn gốc kinh tế- xã hội của tôn giáo:
- Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém con người
cảm thấy yếu đuối và bất lực với trước thien nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gắn
cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa những sức mạnh đó. Từ
đó họ xây dựng những biểu hiện tôn giáo để thờ cúng.
- khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước
sức mạnh của thế lực giai cấp thống trị. Họ không giải thích được nguồn gốc của sự phân
hóa giai cấp và áp bức, bốc lột, tội ác tất cả họ quy về số phận và định mệnh. Từ đó họ
đã thần thánh hóa một số người thành những thần tượng có khả năng chi phối suy nghĩ và
hành động người khác mà sinh ra tôn giáo.
=>Sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế, áp
bức, bóc lột về chính trị , bất lực trước những bất công của xh là nguồn gốc sâu xa dẫn
đến sự ra đời của tôn giáo.
b.Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo:
trận Tổ quốc và các đoàn thể. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ
chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp phát huy sức
mạnh và hiệu quả công tác.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
3. Tại sao nói đặc điểm tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng của
nước ta(Vai trò của tôn giáo)
Do tôn giáo có sự đồng hành lâu dài với con người trong lịch sử, nên có thể xem
nó như một phần tài sản văn hóa của nhân loại. Trong quá trình phát triển, lan truyền trên
bình điện thế giới, tôn giáo không chỉ đơn thuần chuyển tải niềm tin của con người, mà
còn có vai trò chuyển tải, hoà nhập văn hóa và văn minh, góp phải duy trì đạo đức xã hội
5
nơi trần thế. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của con người. Với tư
cách một bộ phận của ý thức hệ, tôn giáo đã đem lại cho cộng đồng xã hội, cho mỗi khu
vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc những biểu hiện độc đáo thể hiện trong cách ứng xử, lối
sống, phong tục, tập quán, trong các yếu tố văn hóa vật chất cũng như tinh thần.
Điều dễ nhận thấy là, những hệ thống đạo đức của tôn giáo rất khác nhau về niềm
tin, rất xa nhau về địa lý vẫn có một mẫu số chung là nội dung khuyên thiện. Điểm mạnh
trong truyền thụ đạo đức tôn giáo là, ngoài những điều phù hợp với tình cảm đạo đức của
nhân dân, nó được thực hiện thông qua tình cảm tín ngưỡng, mềm tin vào giáo lý. Do đó,
tình cảm đạo đức tôn giáo được tín đồ tiếp thu, tạo thành đức tin thiêng liêng bên trong và
chi phối hành vi ứng xử của họ trong các quan hệ cộng đồng. Họat động hướng thiện của
con người được tôn giáo hóa sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, nhiệt thành hơn.
Là hình thức phản ánh đặc thù, phản ánh hư ảo thế giới hiện thực, tôn giáo đã góp
phần chế ngự các hành vi phi đạo đức. Do tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của
các tôn giáo, nhiều tín đồ đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày
đến mục đích siêu nhiên, hướng đến chốn Thiên đường của Chúa hay cõi Niết bàn của
Phật, dẫu sao vẫn có những tác động tích cực đến đạo đức cá nhân và xã hội.
* Giải pháp
- Tuyên truyền và giáo dục nhân dân triển khai thực hiện tốt pháp lệnh tôn giáo, thực hiện
quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo.
-Vận động, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện hành đạo theo đúng quy định của pháp luật,
đoàn kết giữa các tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức của tôn giáo phù hợp
với giai đoạn mới theo phương châm sống “Tốt đời, đẹp đạo”, tham gia các hoạt động từ
thiện, nhân đạo.
-Vận động nhân dân bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống về văn hóa, đạo đức,
lối sống tốt đẹp, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan.
-Nâng cao trình độ dân trí và hướng dẫn sâu rộng trong nhân dân về sự khác nhau của tôn
giáo và mê tín dị đoan. Cần có những hình thức xử phạt với những người hành nghề mê
tín dị đoan, tàng trữ mua bán các ấn phẩm mê tín dị đoan. Công an và cơ quan văn hóa
cần làm tốt nhiệm vụ quản lí của mình để giảm thiểu các hoạt động mê tín dị đoan, ngoài
ra ngành văn hóa thông tin cần có trách nhiệm xây dựng và hướng dẫn nhân dân những
nghi thức phù hợp trong tín ngưỡng.
-Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của
nhân dân, xây dựng các tiêu chuẩn về nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đó có
bài trừ mê tín dị đoan. Tóm lại, nếu có sự quản lí chặt chẽ của nhà nước kết hợp với ý
thức của nhân dân cùng với sự đồng lòng, đoàn kết thì mê tín dị đoan nhất định sẽ bị loại
bỏ.
- Cần phát huy những mặt tích cực của tôn giáo
4. Xu thế hiện nay của các tôn giáo trên thế giới?Những xu thế đó tác động vào VN ?
Cã 4 xu híng chÝnh sau ®©y:
-ThÕ tôc ho¸:
+Hướng chủ yếu của xu thế này là những hành vi nhập thế của mọi tôn giáo bằng cách
tham gia vào những hoạt động trần tục phi tôn giáo như xã hội, đạo đức, giáo dục, y tế…
nhằm góp phần cứu nhân độ thế.
+Xu thế thế tục hóa cũng biểu hiện trong cuộc đấu tranh của bộ phận tiến bộ trong từng
mỗi dân tộc , xu thế này trong điều kiện hiện nay càng đợc nâng cao do các dân tộc có ý
thức về bản thân mình muốn tồn tại hay không là do giữ đợc bản sắc văn hoá của dân tộc
mình hay không?Bởi vậy dới giác độ văn hoá mà tôn giáo là một bộ phận của các dân tộc
có xu thế bảo vệ tôn giaó truyền thống của mình coi đó là một vũ khí chống lại sự đồng
hoá văn hoá dân tộc. Mt tụn giỏo mun du nhp vo nc s ti phi thay i sao cho
phự hp vi np sng dõn tc; giỏo lys, giỏo lut ca nc ú(Tụn vinh cỏc tụn giỏo bn
a)
-Xu thế đa dạng hoá tôn giáo:+ Là xu thế một tôn giáo chính nó phân ly thành những tôn
giáo nhỏ và hiện nay đây là hiện tợng phổ biến của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới.
+ Trong những thập kỷ gần đây đã phát sinh hàng loạt các tôn giáo mới ( VN cú trờn 50
tụn giỏo mi). và đã đợc sự chấp nhận của các cộng đồng ngời và tồn tại nh một thực thể
khách quan trong đời sống tôn giáo của nhân loại. cần lu ý sự xuất hiện của các giáo phái
mới phi nhân tính, phản văn hoá, đã có nơ gây ra những hậu quả.
8
+ Xut hin nhiu tụn giỏo. ( VN cú 13 tụn giỏo ó c cụng nhn v 40 t chc tụn
giỏo)
-Xu thế các xung đột tôn giáo: đan xen voí xung đột dân tộc đây là xu thế mang tính toàn
cầu hóa, hiện đang xảy ra khắp nơi trên thế giới. Vì vậy đây là đây là một xu thế quan
trọng nhà nớc cần đặc biệt quan tâm.
-Các xu thế khác:
+Các tôn giáo lớn tìm cách hoà giải với nhau để phân chia lại khu vực ảnh hởng của mình
trên thế giới trên phạm vi toàn cầu trong thế kỷ mới.
+Phát huy vai trò của tôn giáo để giải quyết mối quan hệ các vấn đề toàn cầu.
+ Xuất hiện các Đảng phái chính trị mang màu sắc tôn giáo.
+Thực tế đời sống của xã hội loại ngời đang có chuyển biến sâu sắc trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội , việc nhận biết sự chuyển biến này rất cần thiết trong quản lý nhà nớc.
+Trong mt tụn giỏo hoc kt hp gia cỏc tụn giỏo phõn ly hoc hỡnh thnh cỏc tụn
giỏo mi.
+Phỏt huy nh hng ca tụn giỏo trong quỏ trỡnh gii quyt cỏc vn ton cu trong
quỏ trỡnh ton cu húa.
lại ở Việt Nam số tín đồ tham gia sinh hoạt tôn giáo ở các nơi thờ tự ngày càng tăng, nếu
ở phương Tây có xu hướng dường như ra khỏi tôn giáo nhất định, nhưng trở lại tâm thức
tôn giáo bàng bạc, hay "cái tôn giáo", thì các tín đồ tôn giáo Việt Nam nói chung lại gắn
bó với tôn giáo cụ thể nhiều hơn và cũng khó đến với "cái tôn giáo". Nếu như người
phương Tây chú ý nhiều đến lý luận tôn giáo, phân tích những quan điểm lạc hậu, bảo thủ
của giáo lý tôn giáo nhằm yêu cầu khắc phục, hoặc có xu hướng đi vào suy tư thần học
mới bằng những chiêm nghiệm cá nhân, thì ở Việt Nam lại đơn giản hoá những vấn đề lý
luận, trọng thực hành nhiều hơn, thường vận dụng linh hoạt những giáo điều trong giáo lý
vào đời sống thực tiễn hàng ngày. Mặt khác, xu thế thế tục hoá trong các tôn giáo ở Việt
Nam còn được thể hiện ở các tôn giáo bên cạnh thực hiện việc đạo, họ còn thực hiện việc
đời, đó là tham gia hoạt động xã hội: chính trị, y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo ở tất cả
các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo
Thứ hai, dân tộc hóa tôn giáo:
Các tôn giáo khi du nhập vào Việt nam đều phải có những thay đổi nhất định để
phù hợp với sự phát triển của đất nước
Ở VN: tín ngưỡng thờ cúng, tổ tiên luôn luôn được tôn vinh và được tôn vinh là
tôn giáo bản địa
Thứ ba, xu thế đa dạng hoá tôn giáo
Có thể nói, xu thế đa dạng hoá tôn giáo là hậu quả tất yếu của toàn cầu hoá. Bởi vì toàn
cầu hoá là quá trình mở rộng dần không gian lãnh thổ, nên con người không chỉ tiếp cận
với một/ các tôn giáo của dân tộc mình, mà còn biết tới tôn giáo khác, thậm chí không
phải tiếp thu một cách thụ động, mà còn chủ động tiếp thu với tính chất phê phán. Hậu
quả tất yếu của đa dạng hoá tôn giáo là, nếu như tôn giáo truyền thống nào không đáp
ứng được nhu cầu quần chúng (do hạn chế về giáo lý, nghi lễ ) thì sẽ bị thay thế bởi một
tôn giáo nào đó phù hợp hơn. Trong giai đoạn này, hiện tượng tín đồ khô đạo, nhạt đạo
nảy sinh, trường hợp trong một con người song hành nhiều tôn giáo. Lịch sử đã từng
chứng kiến sự tách ra của đạo Tin Lành từ Công giáo ở thế kỷ XVI, rồi Tin Lành lại phân
rẽ ra nhiều giáo phái, từ từng giáo phái lại tách ra thành các nhánh nhỏ và nhiều khi nó xa
lạ với giáo phái ban đầu. Xu thế này lý giải vì sao ở Châu Âu hiện nay số lượng tín đồ
của các tôn giáo khác đi theo Phật giáo khá nhiều. Đó là sự biểu hiện đa dạng hoá tôn
của mỗi tôn giáo, tồn tại trong làng xóm hay trong cộng đồng. Đó cũng là di sản văn hoá
để tiếp xúc với văn minh phương Tây, cũng như du nhập tôn giáo độc thần như Kitô giáo.
Khi đã du nhập đến lượt mình Kitô giáo cũng phải biến đổi ít nhiều để phù hợp với sự đa
dạng của các hình thức tôn giáo Việt Nam bằng nội dung hội nhập văn hoá của Công
đồng Vatican II (1962 - 1965).
Sự đa dạng tôn giáo lại được biểu hiện rõ ràng nhất trong đời sống thực hành tôn giáo.
Một tín đồ của một tôn giáo có thể tham gia nhiều hành vi sinh hoạt tôn giáo khác nhau.
Những người theo tôn giáo được coi là độc thần: Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo cũng
không ít người còn tham gia và sinh hoạt tôn giáo khác ở chùa, đền, các lễ hội tôn giáo.
Họ tin tưởng rằng, ngoài Chúa của họ thì các lực lượng siêu nhiên khác cũng sẽ mang lại
cho họ những điều tốt lành. Sự đan xen, lồng ghép tôn giáo, trong giáo lý, trong tâm thức
và thực hành tôn giáo xuất phát từ nhận thức giản đơn của cư dân nông nghiệp "có thờ có
thiêng, có kiêng có lành”.
11
Đối với việt Nam, hiện tượng tôn giáo mới có những đặc trưng điển hình, một mặt
xuất hiện muộn hơn nhiều so với thế giới, mặt khác, xuất hiện, tồn tại trong nền kinh tế
chậm phát triển và mang nặng tính chất sản xuất nông nghiệp, nên hiện tượng tôn giáo
mới chỉ là hiện tượng mang tính chất tôn giáo, nhưng lại lẻ tẻ và chưa thành một phong
trào rõ rệt như ở một số nước khác. Hơn nữa, những nhóm có tính chất tôn giáo ở đây
thường không chú ý tới việc thể chế hoá, mà lưu tâm đến tính cộng đồng, làm sao nhiều
người biết đến, ủng hộ, tham gia. Bên cạnh đó, hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam, một
mặt xuất hiện từ bên trong mang tính chất nội sinh, mặt khác được du nhập từ bên ngoài,
chưa được "tiêu hoá" hết, nên mang tính lộn xộn mà được biểu hiện từ ngay những tên
gọi, giáo lý, nghi lễ.
Theo số liệu khảo sát của một số đề tài nghiên cứu khoa học của Việt Nam, hiện nay ở
nước ta có khoảng 50 hiện tượng tôn giáo mới, trong đó có 8 hiện tượng xâm nhập từ
nước ngoài vào, còn lại 42 hiện tượng khác mới phát sinh từ trong nước: Thanh Hải vô
thượng sư, Tam Tổ thánh hiền, ô mô tô giáo, đạo Bahai, Long Hoa Di Lặc, Ngọc Phật Hồ
Chí Minh, Chân tu tâm kính, Đạo Chân Không, Vô Vi pháp
Như vậy có thể thấy, xu hướng đa dạng tôn giáo hiện nay ở nước ta là xu thế có tính nổi
trận Tổ quốc và các đoàn thể. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ
chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp phát huy sức
mạnh và hiệu quả công tác.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
CHƯƠNG 2:
Câu 1: tại sao nói Việt nam là một quốc gia đa tôn giáo?
*Nguyên nhân:
-Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi
trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập
các luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế giới.
-Ở Việt Nam, do đặc điểm lịch sử liên tục bị xâm lược từ bên ngoài nên việc Lão giáo,
Nho giáo - những tôn giáo có nguồn gốc ở phía Bắc thâm nhập; Công giáo - một tôn giáo
gắn với văn minh Châu Âu vào truyền đạo và sau này đạo Tin lành đã khai thác điều kiện
chiến tranh ở miền Nam để truyền giáo thu hút người theo đạo là điều dễ hiểu.
-Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo,
Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin lành; có tôn
giáo được sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh
(có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo
sơ khai. Có những tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có những tôn giáo chưa ổn
định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
-Việt Nam có lịch sử lâu đời và nền văn minh hình thành sớm, lại kề bên hai nền văn
minh lớn của loài người là Trung Hoa và Aán Độ, nên tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng
sâu đậm từ hai nền văn minh này.
-Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm, nhưng người có cộng lớn trong việc giúp
dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ phụng. Trong tâm thức của
- Ở Việt Nam có một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số theo các tôn giáo. Hầu hết các
dân tộc thiểu số vẫn giữ tín ngưỡng nguyên thủy thờ đa thần với quan niệm vạn vật hữu
linh và thờ cúng theo phong tục tập quán truyền thống. Sau này, theo thời gian các tôn
giáo dần dần thâm nhập vào những vùng đồng bào các dân tộc thiểu số hình thành các
cộng đồng tôn giáo, cụ thể:
+ Cộng đồng dân tộc Khơme theo Phật giáo Nam tông. Hiện nay có 1.043.678 người
Khơme, 8.112 nhà sư và 433 ngôi chùa trong đồng bào Khơme.
+ Cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo. Có khoảng gần 100 nghìn người Chăm, trong
đó số người theo Hồi giáo chính thống (gọi là Chăm Ixlam) là 25.703 tín đồ, Hồi giáo
không chính thống (Chăm Bàni) là 39.228 tín đồ. Ngoài ra còn có hơn 30 nghìn người
theo đạo Bàlamôn (Bà Chăm). Hồi giáo chính thức truyền vào dân tộc Chăm từ thế kỷ
XVI. Cùng với thời gian, Hồi giáo đã góp phần quan trọng trong việc hình thành tâm lý,
đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, văn hóa của người Chăm.
+ Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo Công giáo, Tin lành. Hiện nay ở khu
14
vực Tây Nguyên có gần 300 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo và gần 400
nghìn người theo đạo Tin lành.
+ Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc một số theo Công giáo, Tin lành. Hiện nay ở Tây
Bắc có 38 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo; đặc biệt, khoảng 20 năm trở lại
đây có đến trên 100 nghìn người Mông theo đạo Tin lành dưới tên gọi Vàng Chứ và hơn
10 nghìn Dao theo đạo Tin lành dưới tên gọi Thìn Hùng.
*Yêu cầu trong công tác quản lý:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là trong chức sắc,
chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo. Đi đôi với công tác tuyên truyền, cần quan
tâm phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các tôn
giáo.
- Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, làm
cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Mặt khác tạo điều kiện để hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường đúng pháp luật đồng
thời phát hiện, xử lý kịp thời các vi phạm của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến
chính sách tín ngưỡng tôn giáo theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý. Kiểm
tra, hướng dẫn đôn đốc các địa phương các ngành chức năng thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về tôn giáo. Xây dựng khối Đoàn kết dân tộc giữa đồng bào có đạo
và không có đạo.
Câu 2: Những đặc điểm cơ bản của hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta:
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều thành phần dân tộc cũng là quốc gia đa tôn
giáo. Mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự,
vị trí, vai trò xã hội và đặc điểm khác nhau, đó là do nước ta nằ giữa ngã ba Đông Nam
Châu á, là nơi giao lưu giữa các luồng tư tưởng, văn hoá khác nhau, có địa hình phong
phú đa dạng, lại ở vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vừa ưu đãi vừa đe doạ cộng đồng
người sống ở đây. Do đó thường nãy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy vào lực lượng tự nhiên.
Việt Nam có lịch sử lâu đời và nền văn minh hình thành sớm, lại kề bên hai nền
văn minh lớn của loài người là Trung Hoa và Aán Độ, nên tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh
hưởng sâu đậm từ hai nền văn minh này.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm, nhưng người có cộng lớn trong việc
giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ phụng. Trong tâm thức
của người Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”. Điều đó thể hiện
rất rõ trong đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của họ.
Từ đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hoá đó đã tác động sâu sắc đến tín ngưỡng,
tôn giáo Việt Nam, làm cho tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam có những đặc điểm sau:
-Một là, Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau đang tồn tại.
Ước tính, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn
giáo, trong đó có khoảng gần 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo đang hoạt động bình thường,
Cụ thể:
+ Phật giáo: Gần 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo),
+ Thiên chúa giáo: Hơn 5,5 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố
+ Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ
Tản Viên, bà Chúa Liễu Hạnh, thậm chí với Thần Độc cước, Tam Bành, Huyền Đàn, bà
Đà.
+Thứ hai, tam giáo đồng nguyên và đại đạo tam kỳ phổ độ: Tư tưởng về Tam giáo đồng
nguyên đã xuất hiện ở nước ta từ rất sớm. Vì vậy, không lấy gì làm lạ là nhiều sư tăng
thông thạo Nho học và có người còn giỏi về địa lý phong thủy của đạo Lão. Điển hình là
nhà sư Vạn Hạnh. Có thể nói, trí thức ngày xưa xuất thân từ giới tu hành và không ít
người tài ba được đào tạo tại nhà chùa. Không ít người vừa là sư tăng, vừa là đạo sĩ và
Nho sĩ. Họ không chỉ có lòng yêu nước nồng nàn, tự tôn dân tộc mà còn có học vấn uyên
bác về nhiều lĩnh vực; không chỉ thấu hiểu giáo lý của đạo mình theo; mà còn am tường
kinh điển, học thuyết của các tôn giáo, tín ngưỡng khác. Đại đạo tam kỳ phổ độ của Đạo
Cao Đài: "Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhất". Tam giáo là Nho, Thích, Đạo. Ngũ
chi là : Nhân Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo. Do vậy, Đạo Cao Đài là
một tôn giáo có tính dung hợp các tôn giáo lớn chủ yếu là Phật giáo, Đạo giáo, Nho
17
giáo và Kitô giáo. Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống
lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ
tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem
sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục
tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi.
+Tôn giáo nào cũng dạy con người làm điều lành, tránh làm điều dữ; gạt điều dở, giữ
điều hay, hướng con người vươn tới chân, thiện, mỹ:Nếu Khổng giáo dạy con người về
nhân nghĩa, thì Đạo giáo giáo dục con người biết quý trọng và sống hài hòa với tự nhiên,
nếu Công giáo dạy con người ta bác ái thì đạo Phật dạy người ta về từ bi, hỷ xả vô ngã vị
tha, gạt bỏ tham, sân, si
+Thứ tư, Giáo lý của các tôn giáo lớn ở Việt Nam có không ít những điều khác biệt và
trong lịch sử đã xuất hiện những mâu thuẩn nhất định, nhưng nhìn chung, chưa có sự đối
đầu dẫn đến chiến tranh tôn giáo
-Ba là,tính trội của yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưõng, tôn giáo ở Việt Nam.
- Nguyên nhân:
Lịch sử Việt Nam là lỉch sử chống ngoại xâm, người phụ nữ có vai trò quan trọng trong
Gia đình là tế bào của xã hội, dù nghèo hay giàu, song nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên,
ông bà, cha mẹ-những người đã khuất.
Làng xóm có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ. Mỗ làg có phong tục, lối sống riêng. Trong
phạm vi làng xã từ lâu đã hình thành tục thờ cúng thần địa phương và việc thờ cúng này
trở nên phổ biến ở nhiều tộc người.
Những người có công với gia đình làng xóm, đất nước đều được người Việt Nam tôn
vinh, sùng kính.
-Biểu hiện:
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có hai lớp chủ yếu là trong gia đình và ngoài dòng họ
nhằm củng cố và thắt chặt quan hệ huyết thống của gia đình hạt nhân và gia đình mở
rộng. Tuy vậy, thờ cúng tổ tiên còn được hiểu ở mức độ rộng hơn, đó là thờ những người
có công với làng xã, quê hương, được cộng đồng dân cư tôn vinh là thành hoàng.
Thành hoàng của người Việt rất phong phú và đa dạng. Hầu hết các vị được tôn vinh
thành hoàng là những người có công đánh giặc giữ nước hoặc cứu thế hộ dân, có vị khai
làng lập ấp, có người tạo nghề nghiệp mới, hoặc chính là tổ của một dòng họ. Có làng chỉ
phụng thờ một vị thành hoàng, nhưng cũng có thôn xóm thờ đến hai, ba thậm chí thờ cả
bảy, tám vị là thành hoàng.Không kể thân thế, sự nghiệp ra sao (giàu sang hay nghèo hèn,
quan lại hay thứ dân) nếu được làng xã tôn vinh là thành hoàng đều được cả dân làng
sùng kính. Trung tâm thờ cúng thành hoàng hay thần làng là ngôi đình. Đó là nơi tụ tập
dân làng để giải quyết cả việc đời lẫn việc đạo, từ việc vui chơi giải trí đến bàn luận lo
toan việc làng, nước.Tín ngưỡng thờ thành hoàng có sức quy tụ, lôi cuốn đối với cư dân
làng xã, không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh mà còn tạo sự đồng thuận trong đời sống thế
tục.
-Năm là, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động.
Việt Nam là một nước xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đa
số trong tổng dân số của cả nước.Đời sống của những người nông dân còn gặp nhiều khó
khăn nên họ tìm đến tôn giáo như một món ăn tinh thần nhằm xoa dịu nỗi đau và mong
muốn được che chở, bảo vệ.Biểu hiện cụ thể:
+Số tín đồ là nông dân của Thiên chúa giáo chiếm đến 80-85%
+Số tín đồ là nông dân của Cao Đài, Phật giáo, Hòa Hảo: 95%
người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống
những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan; chủ động đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch phản động, lợi dụng chiêu bài tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
nhân quyền để chống phá Nhà nước Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực
hiện âm mưu diễn biến hòa bình, gây mất ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Đối với
số đối tượng lợi dụng tôn giáo ngoan cố chống đối, làm tay sai cho địch cần điều tra làm
rõ, xử lý nghiêm minh.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
20
- đối với mỗi tín ngưỡng và tôn giáo cầnn có một chính sách cụ thể để điều chỉnh
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế cũng nh ư phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhà
nước Việt Nam. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo không những
tạo ra một hành lang pháp lý nhằm đảm bảo các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường
mà còn là công cụ hữu hiệu cho nhà nước thi hành chức năng của chủ thể quản lý
- Cần nhìn nhận tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo, sinh hoạt
bình thường trong khuôn khổ pháp luật. Hướng dẫn, tạo diều kiện để các tôn giáo hoạt
động hợp pháp, động viên, khuyến khích chức sắc, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt
phương châm sống “Tốt đời, đẹp đạo” “Kính chúa yêu nước”, tham gia có hiệu quả các
phong trào ở địa phương.
- Mặt khác tạo điều kiện để hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường đúng pháp luật đồng
thời phát hiện, xử lý kịp thời các vi phạm của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến
chính sách tín ngưỡng tôn giáo theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý. Kiểm
tra, hướng dẫn đôn đốc các địa phương các ngành chức năng thực hiện chức năng
- Gắn bó với dân tộc: Phật giáo du nhập vào Việt Nam trở thành một tôn giáo gắn bó
giữa đạo với đời, thể hiện tinh thần nhập thế. Phật giáo Việt Nam có truyền thống yêu
nước, gắn bó với dân tộc, đồng hành trong những giai đoạn thăng trầm của đất nước, góp
phần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Trong Phật giáo Việt Nam đã ghi
nhận hai trường hợp đặc biệt: Lý Công Uẩn – một vị sư xả pháp, xuất tu để ra đời làm
bậc quân vương khai mở triều đại nhà Lý, và Trần Nhân Tông – một vị hoàng đế từ bỏ
ngai vàng để vào núi ẩn tu trở thành một vị Tổ sư của Phật giáo đời Trần. Trong thời kỳ
hội nhập, Phật giáo luôn chia sẻ những khó khăn, hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh
khốn khó, gặp thiên tai, địch họa để chung tay cùng đất nước góp phần ổn định xã hội,
xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội.
- Đoàn kết nội bộ: Phật giáo Việt Nam có tinh thần đoàn kết, gắn bó nội bộ. Tuy có nhiều
tông phái Phật giáo cùng tồn tại và phát triển, nhưng tất cả đều sinh hoạt trong một tổ
chức chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Năm 1981, trải qua một năm vận động thống
nhất, 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trên toàn quốc đã thống nhất thành lập tổ chức Giáo hội
Phật giáo Việt Nam. Trong Hiến chương của mình Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng
định “Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho tăng ni,
Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước”. Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam còn đoàn kết với
các tầng lớp trong xã hội và đoàn kết với các tôn giáo bạn để chung tay xây dựng và phát
triển đất nước. Đây là điều chưa có một tổ chức Phật giáo nước ngoài nào có thể làm
được.
-Tính sơn môn, pháp phái: Du nhập vào Việt Nam, Phật giáo hình thành và phát triển
theo truyền thống của cư dân, phát triển như dòng họ thế tục. Việc quản lý, kỷ luật sư sãi
đều do Sơn môn, Pháp phái giải quyết. Giáo hội chung chỉ chủ trương và định hướng
những công tác Phật sự lớn và có tính tổng thể. Còn các hoạt động tôn giáo cụ thể như: tiếp
độ tăng ni, truyền thụ giới luật, trì giảng kinh điển, các nghi thức tôn giáo… đều mang tính
Sơn môn, Hệ phái, và do người đứng đầu Sơn môn, Hệ phái chỉ đạo thực hiện.
- Là thành tố tạo nên tính đặc trưng văn hóa: Văn hoá, đạo đức Phật giáo như quan điểm
“ở hiền gặp lành” “báo đáp tứ trọng ân” “người Phật tử hiếu hạnh” “hành thiện tránh ác”,
“từ bi cứu khổ”, “tôn trọng con người”, “bình đẳng tâm, không phân biệt đẳng cấp, sang
hèn”, “yêu chuộng hòa bình”… đã thấm đậm trong tâm tưởng mỗi con người Việt Nam
- Tăng cường sự đồng thuận giữa những nhà tu hành và những người không tín ngưỡng,
tôn giáo; giữa những tín đồ của Đạo phật với những người có các tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê
tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.
- Đối với đội ngũ chức sắc tham gia vào công việc Nhà nước không chỉ là những người
am hiểu về giáo lý, giáo luật của Đạo phật mà cần phải hiểu biết và các chủ trương, chính
sách và pháp luật; đặc biệt cần quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức
chung cũng như kiến thức chuyên môn về quản lý Nhà nước đối với đội ngũ này
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
23
- Cần quan tâm và sâu sát hơn đối với các hoạt động từ thiện, quyên góp của các nhà tu
hành để tránh tình trạng bị lợi dụng và xuất hiện hành vi vi phạm pháp luật như ở chùa
Bồ đề
Câu 4: Công giáo?
*các cách hiểu về công giáo
- Công giáo (Thiên Chúa giáo) là thuật ngữ dùng để chỉ Giáo hội Công giáo Rôma, đây là tôn
giáo thuộc Kitô giáo. Đạo Công giáo là một trong những tôn giáo có sỗ lượng tín đồ, giáo sĩ lớn
nhất thế giới.
-Công giáo được dùng với một số nghĩa như sau:
+Do ảnh hưởng lịch sử và hiện tại của Giáo hội Công giáo Rôma, "Công giáo" thường được
dùng để chỉ hệ thống niềm tin tôn giáo của giáo hội này.
+Trong cách dùng không chính thức, thuật ngữ này có thể được giới hạn thêm nữa để chỉ các
thành viên, truyền thống hay thần học của nghi lễ La Tinh thuộc Giáo hội Công giáo Rôma.
+Thuật ngữ này cũng được dùng để chỉ mọi giáo hội 'Công giáo về bản chất' qua việc họ tuyên
bố giữ niềm tin Công giáo và có tính tông truyền vì đã ở phía Công giáo trong cuộc Đại li giáo,
Rhodes (Đắc Lộ) năm 1627 đã mang biếu Chúa Trịnh chiếc đồng hồ chạy bằng bánh xe
và cuốn Kỷ hà nguyên bản của nhà toán học Euclide, đồng thời giảng giải cho Trịnh
Tráng nghe. Giáo sĩ Badinoti (người Ý) năm 1626 cũng được vời về phủ chúa để giảng
về thiên văn, địa lý và toán học. Các giáo sĩ Da Coxta, Langerloi đã mang vào Đàng
Trong phương pháp chữa bệnh theo lối Tây y nên được nhà chúa cho mở nhà thương
(bệnh viện).
- Công giáo với việc xây dựng chữ Quốc ngữ: Chữ Quốc ngữ là công trình tập thể của
nhiều giáo sĩ nước ngoài với sự cộng tác của người Việt. Dĩ nhiên mục đích của các nhà
truyền giáo lúc đầu là để truyền giáo được dễ dàng hơn nhưng nó lại phù hợp với tiến
trình phát triển và tinh thần độc lập, tự cường dân tộc nên các chí sĩ của phong trào Đông
kinh nghĩa thục coi đó là “một trong sáu phương kế để mở mang dân trí”
- Văn hoá Công giáo làm phong phú văn hoá Việt:Tôn giáo là một thành tố quan trọng
của văn hoá và bản thân tôn giáo cũng là văn hoá nên việc đạo Công giáo vào Việt Nam
đã làm phong phú cho văn hoá Việt không chỉ thêm một tôn giáo mới mà còn bổ sung rất
nhiều sắc thái mới khác nữa.Cả một kho tàng ca dao, tục ngữ Công giáo cũng đã được
lưu hành để phản ánh về phong tục, tập quán của cộng đoàn này. Ví dụ các câu ghi kinh
nghiệm sản xuất:- Lễ Rosa (7-10) thì tra hạt bí Lễ Các thánh (1-11) thì đánh bí ra Lễ
Các thánh gánh mạ đi gieo Lễ Sinh nhật (25-12) giật mạ đi cấy…
- Giáo lý Công giáo góp phần xây dựng lối sống lành mạnh trong xã hội:Cũng như nhiều
tôn giáo khác, đạo Công giáo cũng luôn buộc các tín hữu phải sống lành mạnh, hướng
thiện. Giáo lý Công giáo không chỉ cấm giáo dân làm điều ác mà cấm cả suy nghĩ không
lành mạnh, Đạo Công giáo cũng cổ vũ cho các hoạt động bác ái, từ thiện.
* Giải pháp
-Thường xuyên tổ chức các buổi diễn thuyết và tường thuật trực tiếp trên web để người
dân tiện theo dõi, như vậy thông tin sẽ đa chiều và sẽ có nhiều người có cơ hội tiếp cận
hơn với giáo lý của Công giáo
-Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
công dân, bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động
theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ không chỉ trong hoạt
động tôn giáo mà còn nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo trong mọi