MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Tôn giáo là một nhu cầu của bộ phận văn hóa tinh thần của từng con người,
của từng cộng đồng xã hội. Như C.Mác đã nói “Tôn giáo là tiếng thở dài của
chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó
là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. “Tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân”. Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo với cái đích là cứu con
người thoát khỏi nổi khổ.Nó xuất hiện cuối thế kỉ 6 TCN ở Ấn Độ. Nội dung cơ
bản của triết học Phật giáo là đề cập đến việc lý giải căn nguyên của nổi khổ và tìm
con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ triền miên đó. Phật giáo khởi thủy ở
Ấn Độ truyền đi khắp các xứ lân cận.Trước hết sang các nước Trung Á rồi sang
Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản và các nước miền Nam Châu Á.
Việt Nam là một quốc gia phương Đông – nơi mà tôn giáo có ảnh hưởng rất
lớn đến đời sống văn hóa xã hội, tùy giai đoạn phát triển lịch sử của các nước thì
tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh mẽ đến nếp sống tinh thần, thói
quen, suy nghĩ của con người. Phật giáo đến với người Việt Nam từ rất lâu đời. Do
bản chất từ bi hỉ xã, đạo Phật đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng và bám rễ vững
chắc trên đất nước ta. Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của
người Việt.
Ngày nay, để đạt được những tựu trong cuộc cải tiến cách mạng theo định
hướng đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì tôn giáo đã có những chuyển biến,
nhưng tôn giáo chưa thể mất đi được, mà nó còn tồn tại lâu dài và có ảnh hưởng
nhất định đến quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phật giáo cũng không phải là
một ngoại lệ. Với chủ đề tìm hiểu về Phật giáo, nhóm chúng em đã tìm hiểu, chắt
lọc nhiều nguồn tài liệu, sách báo, website,... khác nhau, sau đó tổng hợp lại thành
một bài hoàn chỉnh gồm 2 phần chính:
Phần I: Khát quát chung về Phật giáo
Phần II: Sự hình thành và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam.
Các trường phái Phật giáo khác nhau ở quan điểm về bản chất của con đường
đưa đến giải thoát, tính chính thống của các bài giảng đạo và kinh điển, đặc biệt là
ở phương thức tu tập.
2. Giáo luật của Phật giáo
Giáo luật Phật giáo được Đức Phật chế ra xuất phát từ thực tế trong khi điều
hành Tăng đoàn với những điều quy định, cấm nhằm duy trì tổ chức tăng đoàn,
hướng mọi người tới chân - thiện - mỹ, phát triển hạnh từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha,
biết làm lành lánh dữ để đạt tới giác ngộ và giải thoát. Cốt lõi của giáo luật Phật
giáo là “Ngũ giới” và “Thập thiện”.
Ngũ giới là 5 giới cấm: Không sát sinh; Không nói sai sự thật; Không tà dâm;
Không trộm cắp; Không uống rượu.
Thập thiện là mười điều thiện nên làm, trong đó:
+ Ba điều thiện về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm;
+ Bốn điều thiện về khẩu: không nói dối, không nói hai chiều, không nói điều
ác, không nói thêu dệt;
+ Ba điều thiện về ý: không tham lam, không giận dữ, không tà kiến.
3
Phật giáo
Trên cơ sở của quy định Ngũ giới và Thập thiện, Phật giáo đã quy định chi
tiết và cụ thể đối với từng loại xuất gia.
-
Đối với hàng đệ tử xuất gia đã thụ giới Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni:
• Theo Luật Tứ phận thì kinh Giới bản quy định: Tỳ kheo phải giữ 250
giới; Tỳ kheo Ni phải giữ 348 giới.
• Theo Nam truyền Luật tạng thì: Tỳ kheo phải giữ 227 giới.
Phật giáo
3. Giáo lý của Phật giáo
Toàn bộ giáo lý Phật giáo là khối lượng lớn những phương pháp linh hoạt,
thích hợp với nhiều mặt, nhiều lúc, nhiều nơi, và nhất là những căn tính khác nhau
của con người có thể đi từ tự giác, giác tha và cuối cùng đạt đến giác hạnh viên
mãn. Qua giáo lý mang tính khế cơ của đạo Phật, chúng ta thấy không có lời dạy
nào của Ngài mà không bao hàm hai điểm lớn: "Xây dựng trên căn bản của con
người" và "Dẫn đến giác ngộ tối thượng cho mỗi người". Giáo lý cơ bản của đạo
Phật gồm:
3.1.
Duyên khởi
Phật giáo quan niệm các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ luôn luôn vận động và
biến đổi không ngừng theo quy luật Thành - Trụ - Hoại - Không (mỗi sự vật đều có
quá trình hình thành, phát triển và tồn tại một thời gian, rồi biến chuyển đi đến huỷ
hoại và cuối cùng là tan biến) và đều bị chi phối bởi quy luật nhân - duyên, trong
đó nhân là năng lực phát sinh, là mầm để tạo nên quả và duyên là sự hỗ trợ, là
phương tiện cho nhân phát sinh, nảy nở.
Phật giáo quan niệm con người được sinh ra không phải là sản phẩm của một
đấng tối cao nào đó, càng không phải tự nhiên mà có. Sự xuất hiện của một người
là do nhiều nhân, nhiều duyên hội hợp và người đó không còn tồn tại khi nhân
duyên tan rã. Nhân - duyên ở đây được Phật giáo khái quát thành một chuỗi 12
nhân duyên (Vô minh; Hành; Thức; Danh sắc; Lục nhập; Xúc; Thụ; Ái; Thủ; Hữu;
Sinh; Lão tử.), là sợi dây liên tục nối tiếp con người trong vòng sinh tử luân hồi.
Phật giáo cho rằng 12 nhân duyên có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, cái này là
quả của cái trước nhưng lại là nhân, là duyên cho cái sau. Cuộc đời con người vui
thường thấy do tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ. Cần truy tìm đúng nguyên nhân
sinh ra khổ, nguồn gốc sâu xa sinh ra khổ trong sinh tử luân hồi là do vô minh và ái
dục, những mắt xích liên quan nằm trong 12 nhân duyên.
- Diệt đế - chân lí về diệt khổ: là trạng trạng thái không có đau khổ, là một sự
an vui giải thoát chân thật, là một hạnh phúc tuyệt vời khi chấm dứt lòng ham
muốn, và có sự hiểu biết của trí tuệ chấm dứt vô minh.
- Đạo đế - chân lí về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đi đến sự
diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Phương tiện hay pháp
môn để thành tựu con đường bát chánh đạo là 37 phẩm trợ đạo.
3.3. Bát chính đạo
3.3.1. Nhóm trí tuệ
- Chính kiến - hiểu biết chân chính: hiểu biết về nhân quả, duyên khởi, hiểu
biết về sự vật hiện tượng chân thực, như chúng đang là, không kèm theo cảm xúc,
cảm tính, hiểu biết 4 chân lý về khổ và cách thoát khổ, từ đó biểu hiện thái độ sống
không làm khổ mình, khổ người.
- Chính tư duy - suy nghĩ chân chính: suy nghĩ dựa trên nền tảng hiểu biết, suy
nghĩ tích cực, suy nghĩ giải quyết vấn đề.
3.3.2. Nhóm đạo đức:
- Chính ngữ - lời nói chân chính: lời nói sự thật, lời nói hòa hợp, đoàn kết,
mang tính xây dựng, mang lại an vui hạnh phúc cho người khác.
- Chính nghiệp - hành vi chân chính: không sát sinh, không trộm cắp, không
ngoại tình, không sử dụng rượu bia ma túy. Các hành vi được khuyến khích: trồng
cây bảo vệ môi trường, chia sẻ sở hữu hợp pháp với những người kém may mắn
6
Phật giáo
Kinh tạng: bao gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử. Kinh
tạng tiêu biểu văn hệ Pali được chia làm năm bộ: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh,
Tương ưng bộ kinh, Tăng chi bộ kinh và Tiểu bộ kinh.
Luật tạng: chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng già cũng như các giới luật
của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi
Phật nhập Niết-bàn.
Luận tạng: chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lí học.
7
Phật giáo
4. Giáo chủ của Phật giáo:
-
-
-
-
-
-
-
Theo kinh sách phát triển đạo Phật có ba vị Giáo Chủ:
Bảy vị Phật giáo Chủ ở quá khứ.
theo phái Đại thừa, chịu ảnh hưởng văn hóa Tàu, thờ nhiều Phật, nhiều nhân vật
của Phật giáo. Nhiều chùa còn thờ thêm thần thánh của đạo Lão, của tín ngưỡng
dân gian.
4.2.
Phật giáo chủ Thích Ca Mâu Ni:
Siddhārtha Gautama hay Tất Đạt Đa Cồ Đàm (phiên âm Hán Việt từ tiếng
Phạn) cũng được gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni Buddha) hay gọi tắt
8
Phật giáo
là Đức Phật, là một nhà hiền triết và đạo sư Ấn Độ cổ đại,vốn là con đầu vua Tịnh
Phạn. Thích Ca Mâu Ni sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 trước công nguyên, và mất
năm 483 trước công nguyên. Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vương giả
của một thái tử để đi tu, tìm đường diệt khổ cho chúng sinh. Sau 6 năm, ông đã
“ngộ đạo” và trở thành Thích Ca Mâu Ni (35 tuổi). Khi ấy ông lấy hiệu là Buddha
có nghĩa là “người giác ngộ” (Trung quốc dịch là Phật). Người ta gọi ông là Sakyamuni (nhà hiền triết xứ Sakya).
Qua 40 năm hoằng pháp và truyền đạt Giáo lý khắp đất nước Ấn Độ,ông mất
ở tuổi 80. Ông để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý
báu. Lời dạy cuối cùng của Đức Phật là: "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường,
chịu biến hoại, hãy tinh tiến tu học (để đạt giải thoát)!"
Phật giáo chủ Đức Phật Di Lặc:
Di Lặc là một vị Bồ Tát hay là Chuyển luân thánh vương và cũng là vị Phật
cuối cùng sẽ xuất hiện trên Trái Đất.
4.3.
Ngài người dòng Bà La Môn ở Nam Thiên Trúc; thân sinh tên là Ba Bà Lợi,
5.1.1. Thành phần:
- Chủ lễ (chủ sám): Thay mặt toàn thể kinh sư và gia chủ thưa thỉnh, điều khiển buổi
lễ
- Cử chuông (duy na): Ðánh chuông trong buổi lễ
- Cử mõ (duyệt chúng): Ðánh mõ trong buổi lễ
- Kích tử: Xử dụng tan, linh...
- Công văn: Thiết lập bàn lễ, sớ điệp
- Kinh sư hộ niệm: góp nguyện lực
5.1.2. Nhiệm vụ
- Chủ lễ (chủ sám): Trước khi lễ phải sắp xếp,kiểm soát kinh sách, kinh sư, gia chủ,
lễ vật và sớ điệp với sự phụ giúp của công văn. Phân nhiệm, mời thỉnh hay cắt cử
nhân sự cho buổi lễ. Trong khi hành lễ phải chú tâm hướng thượng, quán chiếu,
trình thỉnh, tán tụng với lòng chí thành. Tư cách khiêm cung, kính cẩn, tránh lời nói
hay hành động thô, ngoài cuộc lễ.Sau khi lễ khuyến tấn gia chủ, bổ khuyết những
thiếu sót, sám hối những lỗi lầm.
- Cử chuông (duy na): Kiểm soát kinh sách, Pháp khí (chuông), chuẩn bị nhang cho
chủ lễ. Tư thế đứng, cầm dùi chuông cho nghiêm trang, sử dụng chuông đúng chỗ,
đúng lúc để buổi lễ được uy nghiêm, thanh tịnh.
- Cử mõ (duyệt chúng): Kiểm soát kinh sách, pháp khí (mõ), chuẩn bị nhang cho chủ
lễ. Thông thường duy na đốt nhang cho chủ lễ, duyệt chúng nhận nhang từ chủ lễ
cắm vào lư hương sau khi chủ lễ kỳ nguyện xong. Tư thế đứng, cầm dùi mõ nghiêm
trang. Sử dụng mõ đúng bài bản; thông thường mõ giữ đều về trường canh và cao
độ (lớn nhỏ), chỉ thay đổi khi cần.
- Kích tử (sử dụng tan, linh): Tùy theo bài bản của buổi lễ, mục đích làm tăng phần
uy nghiêm, trang trọng của buổi lễ. Cần được thực tập nhiều, tránh lắc người, nhảy
nhót, đứng nghiêng một bên.
- Công văn: Công văn chính là một thư ký phối hợp chặt chẽ với chủ lễ để biết cách
hành lễ như thế nào? Dâng lễ ra sao? Dâng lễ cho ai, phẩm vật gì, nhiều hay ít.
Công cố vấn cách hành lễ cho gia chủ, hoàn thành bản văn dâng cúng gọi là sớ,
o. Tam tự quy. Nguyện dĩ thử công đức...
5.2.2. Niệm hương bạch Phật:
5.2.2.1. Khóa lễ hằng ngày
Thì thầm đọc hoặc đọc lớn tiếng bài "nguyện hương", trí quán tưởng pháp vị
của hương biến thành đài mây hương thơm ngát để dâng cúng mười phương Tam
bảo.
Nguyện hộ trì cho mình và tất cả chúng sinh nhờ vào công đức này mà tâm bồ
đề kiên cố, lòng đạo mở mang, tu thành chính quả.
5.2.2.2. Các khóa lễ cầu an
Như phần trên, nhưng quán tưởng đến câu "hộ trì cho đệ tử/bệnh nhân...."
được nhờ công đức này, tật bệnh tiêu trừ, thân thể bình phục. Nếu bịnh tình quá
nặng, vô phương cứu chửa thì quán tưởng đến câu "nếu bệnh nhân đã đến ngày
mãn kiếp, xin rủ lòng thương xót, tiếp dẫn về Cực lạc, siêu thoát Luân hồi".
5.2.2.3. Các khóa lễ cầu siêu
Quán tưởng như trên và xin cho hương linh, âm linh được nhờ công đức này,
nghiệp chướng tiêu trừ, trí huệ khai minh, phát bồ đề tâm, siêu sinh Cực lạc, liên
hoa hóa sinh, chứng ngôi bất thoái.
11
Phật giáo
Thời gian (ngày..., tháng..., năm...). Không gian (địa chỉ: nhà, tang nghi quán,
chùa hay bất cứ ở đâu). Nơi này có thờ Phật hay không (phụng Phật, kiến diện
phụng Phật, kiến đàn phụng Phật, hay vọng Phật...), tu hương phúng kinh (lý do
hành lễ). Kim... (tên gia chủ...), cầu nguyện cho ai... (tên người được cầu an, hay
cầu siêu...) phiền não đoạn diệt, nghiệp chướng tiêu trừ, vĩnh ly khổ ách. Phổ
nguyện: âm siêu dương thái, hãi yến hà thanh, pháp giới chúng sinh, tề thành Phật
đạo (nếu cầu an). Phiền não đoạn diệt, nghiệp chướng tiêu trừ, tốc xã mê đồ, siêu
sinh tịnh độ, ngưỡng kỳ chư Phật từ bi, phóng quang tiếp độ hương linh vãng sinh
chủ mà mình đã quy ngưỡng tôn thờ.
Đạo Phật không phải là một tôn giáo chỉ chú trọng về phương diện nghi lễ,
nhưng nhờ có sinh hoạt nghi lễ mà đưa người vào đạo Phật một cách dễ dàng. Ví
dụ: cầu an cho người bệnh hoạn, tai nạn..., cầu siêu bạt độ cho kẻ lâm
chung.v.v...Đó là những phương tiện thực tế để điều hòa lý trí, gieo rắc tình cảm
12
Phật giáo
của con người, an ủi tinh thần cho người còn cũng như kẻ mất.Vì thế, nghi lễ cũng
là vấn đề quan trọng và có nhiều lợi lạc trong đạo Phật.
Vậy kẻ hành giả cần phải học tập và hiểu rõ ý nghĩa những vấn đề thuộc về
nghi lễ trước khi hành lễ. Mỗi khi hành lễ, muốn được điều hòa âm thanh nhịp
nhàng, trầm bỗng để tăng phần trang nghiêm và linh cảm cần phải có những pháp
khí để làm phương tiện hộ tương trong những khóa lễ như sau:
Đây là bài kệ: chuông trống bát nhã (song hành), Bát nhã hội (3lần), Thỉnh
Phật thượng đường (1 lần), Đại chúng đồng văn (1 lần), Bát nhã âm (1 lần), Phổ
nguyện pháp giới (1 lần), Đẳng hửu tình (1 lần), Nhập Bát Nhã (1 lần) Ba La Mật
Môn (5, 10 lần).
Trước hết câu từ 3 hồi chung bản qua chuông trống, phải đổ một hồi ngắn, kế
đánh 3 hồi chính thức dài y đúng bài kệ trên, sau cùng dứt 4 tiếng.
Lễ thường đánh 3 hồi dài, lễ lớn đánh 9 hồi dài.
5.5.
Ý nghĩa đánh chuông mõ
- Tiên khởi tam (trước đánh 3 tiếng)
- Thứ lôi thất (tiếp nhịp 7 tiếng)
- Tịnh đã tam (và đánh 3 tiếng)
Niệm: Tưởng niệm danh hiệu và tướng tốt của Đức Phật.
Nếu nói rõ, tụng niệm là mục đích để làm cho tâm và miệng được hợp nhất
vào câu Kinh tiếng Pháp của Phật.
Tụng niệm để giữ 3 nghiệp cho được thanh tịnh, trang nghiêm và huân tập
những điều hay tốt, đồng thời ôn lại những lời Phật dạy để làm phương châm đời
sống hằng ngày và huân tập giống Bồ đề giải thoát tâm thức cho mình cùng người.
Tụng niệm để làm cho Pháp âm lưu chuyển trong nhân gian, cảm hòa mọi
người cải tà qui chánh và khuyến khích nhắc nhở mình cùng người trên đường làm
lành học Đạo.
Tóm lại, người tu hành luôn luôn phải tụng niệm để sám hối tội lỗi cầu mong
sớm đạt được mục đích giải thoát và giác ngộ. Lại nữa, tụng niệm để cầu an cho
người bệnh hoạn và cầu siêu cho kẻ lâm chung chóng thoát luân hồi, siêu sinh Tịnh
Độ.
Vậy, là Phật tử bất luận tại gia hay xuất gia, ai ai cũng cần phải học và hiểu ý
nghĩa Nghi lễ để tụng niệm.
6. Niềm tin của Phật giáo
Niềm tin là cơ sở của mọi tôn giáo, nhưng trong đạo Phật, niềm tin phải đi đôi
với nhận thức đúng đắn. Niềm tin trong đạo Phật là chính tín, tức niềm tin đó phải
chân chính, có chính kiến.
Niềm tin trong đạo Phật là niềm tin trên cơ sở hiểu biết, trí tuệ. Đức Phật đã
từng dạy: “Đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy từng được nghe nói đến, đừng
nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được quảng bá rộng rãi, đừng nên tin bất cứ
điều gì chỉ vì điều ấy do truyền thống để lại, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều
ấy được kinh điển truyền tụng, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do một vị
giáo chủ nói ra, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ do suy đoán, đừng nên tin bất cứ
điều gì chỉ do suy luận, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì mình thấy điều đó có lý,
đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều đó phù hợp với thành kiến, quan điểm nhận
thức của mình, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do thầy mình nói ra.
Nhưng chỉ khi nào tự mình biết rằng những điều đó là không đúng, những điều đó
không chính đáng, những điều đó bị người hiền trí phê phán, và khi chấp nhận, khi
trưởng và kiên cố thêm. Kinh Niết Bàn nói: “Lòng tin làm nhân cho nghe pháp và
nghe pháp làm nhân cho lòng tin”.
Đến với đạo Phật không phải để cầu đảo van xin, không phải để nương tựa
thần quyền. Niềm tin trong đạo Phật hướng về những điều mà Đức Phật đã giác
ngộ, đó là duyên sinh, nhân quả nghiệp báo, là vô thường, khổ, không, vô ngã…
Nếu xây dựng niềm tin không vững chắc, hoặc niềm tin có được trên cơ sở nhận
thức cảm tính mà không xuất phát từ lý trí, từ kinh nghiệm thực tiễn thì sớm muộn
niềm tin ấy cũng bị đổ vỡ.
Ngoài ra còn một điều hết sức quan trọng là lòng tự tín của người Phật tử. Đây
là niềm tin căn bản nhất không thể thiếu. Lòng tự tín là lòng tin vào khả năng giác
ngộ của chính mình, tin rằng mình sẽ thành Phật nếu nỗ lực tu hành. Đức Phật đã
dạy: “Hãy tự xem con là hải đảo của con. Hãy tự xem con là chỗ nương tựa của
con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác” (Kinh Niết Bàn), và “Các con phải tự
mình nỗ lực, các đấng Như Lai chỉ là người thầy dẫn đường”(Pháp Cú, 276).
Tóm lại niềm tin căn bản trong đạo Phật là niềm tin Tam bảo: Phật, Pháp,
Tăng và niềm tin tự thân, tin vào khả năng giác ngộ của chính mình, tin mình có
thể đạt đến chỗ toàn Chân, Thiện, Mỹ và giác ngộ giải thoát. Một khi có niềm tin
nơi Tam bảo là những gì được xem là chân lý, là thánh thiện thì con người sẽ phấn
đấu hướng đến những gì tốt đẹp nhất để đạt được mục tiêu an lạc hạnh phúc trong
15
Phật giáo
hiện tại và tương lai, cũng như con thuyền đã xác định phương hướng, đã có bến
đỗ.
7. Tổ chức của Phật giáo
Tổ chức Phật giáo không chặt chẽ. Phật giáo không có giáo quyền, không
thống nhất cách tu hành, có nhiều tông phái và sơn môn. Người theo đạo Phật được
chia làm hai loại:
tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan
trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện
cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được
phiên âm trực tiếp thành Bụt, từ Bụt được dùng nhiều trong các truyện dân gian.
Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như một vị
16
Phật giáo
thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5, do
ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ Bụt bị mất đi và được thay thế
bởi từ Phật. Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành Phật đà, Phật đồ rồi
được rút gọn thành Phật.
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần,
Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn
đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật
giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ 18, vua Quang Trung cố gắng chấn
hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều
kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo
Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng
góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu.
2. Quá trình phát triển Phật giáo ở Việt Nam
2.1.
Phật Giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ II đến hết thế kỷ thứ V, thời kỳ du
nhập và hình thành Phật Giáo Việt Nam
Nhờ sự nỗ lực hoạt động truyền giáo của các tăng sĩ Ấn Độ, tại Luy Lâu, thủ
phủ của Giao Chỉ lúc bấy giờ đã trở thành một trung tâm Phật Giáo lớn nhất trong
vùng. Tại đây, với những sinh hoạt hoằng pháp của ngài Khâu Đà La (người Ấn Độ
dòng thiền có tích các dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu
việt của Phật Giáo vừa biểu lộ được đời sống thực tế và đơn giản của quần chúng
nghèo khổ Việt Nam.
Dòng thiền thứ hai: là thiền phái Vô Ngôn Thông, do thiền sư Vô Ngôn Thông
người Trung Hoa sáng lập. Đây là thiền phái chịu ảnh hưởng Phật Giáo Trung Hoa
sâu đậm.
Dòng thiền thứ ba: là thiền phái Thảo Đường, do thiền sư Thảo Đường (người
Trung Hoa) sáng lập. Thiền phái này có khuynh hướng thiền tông trí thức và văn
chương, do đó chỉ ảnh hưởng được tới một số trí thức và vua quan có khuynh
hướng văn học.
Dòng thiền thứ tư: đó là thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông (12581368) khai sáng. Vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia vào năm 1299 với đạo hiệu
là Trúc Lâm Đầu Đà, ngài đã lên tu ở núi Yên Tử (tỉnh Quãng Ninh) và tại đây,
ngài đã lập ra thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Việt Nam đầu tiên, mang tính
chất độc lập Việt Nam với sự kết hợp hài hòa của Phật Giáo A Hoa. Lập ra thiền
phái Trúc Lâm này, vua Trần Nhân Tông đã thống nhất được các thiền phái tồn tại
trước đó và toàn bộ Giáo Hội Phật Giáo đời Trần về một mối.
Nhìn chung thiền phái Trúc Lâm là một dòng thiền đại diện cho quý tộc, nông
dân và nho sĩ. Sự tổng hợp đó, đã tạo nên nét đặc thù của thiền phái Trúc Lâm mà
các thiền phái trước đó không có được, đưa Đạo Phật đi vào xã hội với tinh thần
nhập thế cụ thể, giáo hội được tổ chức chặt chẽ, cũng cố tinh thần đạo pháp và dân
tộc xây dựng phồn vinh cho đất nước.
I.2.2. Tịnh Độ Tông
Tịnh Độ Tông chủ trương phải dựa vào tha lực tức sự giúp đỡ từ bên ngoài.
Chính Đức Phật Thích Ca đã nhờ vào tự lực của mình để đến giác ngộ thì sự giúp
đỡ, sự trợ lực hay tha lực này rất quan trọng. Sự giúp đỡ đó còn cho thấy bản thân
của người tín đồ cần thường xuyên đi chùa dâng hương, cúng dường, bố thí, làm
những điều thiện, tránh các điều ác và thường xuyên niệm danh hiệu Đức Phật A Di
Đà.
Nhờ cách thức tu tập đơn giản như vậy nên Tịnh Độ Tông là tông phái phổ
biến khắp Việt Nam. Tượng Phật A Di Đà cũng thuộc loại tượng Phật lâu đời và
chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều (Quảng Ninh); Tháp Bảo Thiên ở chùa Sùng
Khánh, phía Tây Hồ Lục Thủy (tức Hồ Gươm Hà Nội ngày nay); Chuông Quy
Điền chùa Diên Hựu; Vạc Phổ Minh tại chùa Phổ Minh (làng Tức Mặc, Nam Hà).
I.4.
Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ XX, thời kỳ phục hưng
Sang đến đời Hậu Lê rồi Nguyễn Triều, Phật Giáo nhường bước cho Nho giáo,
lúc ấy đang chiếm vai trò độc tôn. Ngoài ra, Ki Tô giáo đã du nhập vào Việt Nam
và dân tộc Việt Nam lại tiếp nhận thêm một tôn giáo mới của phương Tây. Tuy tinh
thần khai phóng dung hợp của Phật Giáo suốt mấy thế kỷ qua không còn được thể
hiện trong chính sách quốc gia, văn hóa và xã hội vào thế kỷ XX nhưng Phật Giáo
vẫn là tôn giáo chính của dân tộc, đóng vai trò hòa giải giữa các thế lực tranh chấp,
góp phần xây dựng tinh thần dân tộc, bảo vệ nền độc lập của quốc gia.
Vào khoảng những năm 1920-1930, trong không khí tưng bừng của phong
trào chấn hưng Phật Giáo trên thế giới, một số tăng sĩ và cư sĩ đã phát động phong
trào chấn hưng Phật Giáo tại Việt Nam, từ đó đưa đến sự thành lập Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam tại miền Bắc vào năm 1934 đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ, và xuất bản
tạp chí Đuốc Tuệ. Ở miền Trung, Hội An Nam Phật Học cũng ra mắt tại chùa Từ
Đàm và cho xuất bản tạp chí Viên Âm vào 1934. Tại miền Nam, năm 1920, Hội
nghiên cứu Phật Học Nam Kỳ ra đời, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn; xuất bản tạp chí
Từ Bi Âm (1932).
Nhờ phong trào chấn hưng Phật Giáo này mà chùa chiền được xây dựng khắp
nơi, nhất là hệ thống chùa phật học ở các thành thị.. Bên cạnh đó, trong thời kỳ này,
có nhiều hệ phái, tôn phái phật giáo ra đời, như giáo phái Khất Sĩ Việt Nam, Phật
Giáo Hoa Tông ...
Đến tháng 11/1981, thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng
Thích Đức Nhuận làm pháp Chủ Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương, Hòa Thượng
Thích Trí Thủ làm chủ tịch Hội Đồng Trị Sự Trung Ương.
19
Giáo
Đây là một nét đặc trưng rất riêng biệt của Phật Giáo Việt Nam so với các
quốc gia Phật Giáo láng giềng. Việt Nam thì dung hòa và điều hợp cả Nam Tông và
Bắc Tông. Chính vì tinh thần khế lý khế cơ của Phật Giáo cộng với tinh thần khai
phóng của Phật Giáo Việt Nam mới có được kết quả như vậy. Tuy thiền tông chủ
trương bất lập văn tự, song ở Việt Nam các thiền viện điều tụng kinh gõ mõ như
các tự viện Tông Tịnh Độ. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi thì kết hợp với Mật Giáo,
có nhiều thiền sư phái này như ngài Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh
Không điều nổi tiếng là giỏi phép thuật trong việc trừ tà, chữa bệnh.
4.4.
Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các thế hệ chính trị xã
hội
Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật Giáo Việt Nam có chủ
trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất là các thời Đinh, Lê,
Lý, Trần. Trong các thời này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh điều được
mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọng của quốc
gia. Trong đó đặc biệt thiền sư Vạn Hạnh đã có công xây dựng triều đại nhà Lý khi
đưa Lý Công Uẩn lên làm vua. Ngày nay, tinh thần nhập thế này cũng không ngừng
phát huy, đó là sự có mặt của các thiền sư Việt Nam trong quốc hội của nước nhà.
4.5.
Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học và nghệ thuật Việt Nam
3.5.1. Văn học
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam ta thấy có
nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng của Phật Giáo. Tuy nhiên không phải ai cũng biết
những từ ngữ này được phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như tội nghiệp, từ bi, hỷ
xã, giác ngộ, sám hối đã được người dân Việt Nam quen dùng như tiếng mẹ đẻ mà
không chút ngượng ngập lạ lùng. Sự ảnh hưởng phật giáo không ngừng ở phạm vi
từ ngữ mà nó còn lan rộng, ăn sâu vào những ca dao dân ca và thơ ca của người dân
Việt Nam. Hình ảnh đất vua, chùa làng, phong cảnh, hình tượng Bụt, tiếng chuông
chùa, quan niệm hiếu hạnh,… đã đi vào những bài ca dao, điệu hát nhằm nhắc nhở,
và nhanh chóng quá thân qua hình ảnh của bộ tượng Tứ Pháp ở chùa Dâu, ngôi
chùa Phật Giáo đầu tiên của Việt Nam ở Luy Lâu (Hà Bắc ngày nay), đó là bộ
tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điễn, một hình ảnh sống động, gần
gũi với người dân trong việc cầu xin phước lộc, cầu đảo, cầu siêu, cầu xin tất cả
những gì mà cuộc sống con người đòi hỏi. Người Phật tử trong thời kỳ sơ khai này
quan niệm rằng Phật là đấng cứu thế, có thể ban cho con người mọi điều tốt lành.
Chùa làng đã từng một thời đóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần của cộng
đồng làng xã Việt Nam, chùa không những là nơi giảng đạo cầu kinh, thờ cúng Phật
mà còn là nơi hội họp, di dưỡng tinh thần, tham quan vãn cảnh.
Nhìn chung không khó khăn gì khi ta đi tìm dấu ấn Phật Giáo trong quan niệm
dân gian và ta có thể phát hiện rằng nếu không có sự hiện diện của Phật Giáo ở Việt
Nam thì ta sẽ mất đi hơn một nữa di tích và danh lam thắng cảnh mà hiện nay ta tự
hào, sẽ không có chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp sầm uất trong ngày trẩy hội đầu
xuân, không có chùa Keo bề thế, không có chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sông
Hương. Và cũng không có những chuyện dân gian đầy tính nhân bản như truyện
Tấm Cám, truyện Quan Âm Thị Kính…. Sẽ không có những lễ hội tưng bừng như
hội Lim, hội Chùa Hương…. và trong tâm tư truyền thống cũng vắng tư tưởng bố
22
Phật giáo
thí vị tha, lòng hưởng thiện và niềm tin vững chắc vào một tương lai sáng sủa, vắng
tinh thần lạc quan ngây thơ của người dân Việt.
23
Phật giáo