MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng, sơ đồ 4
Danh mục các hình 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC P1
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
AL A Lưới
BB Buôn bán
CITES Công ước Quốc tế về buôn bán các loài động thực vật
hoang dã.
CR Rất nguy cấp
CS Cộng sự
EN Nguy cấp
GN Gây nuôi
HT Hương Trà
IUCN Danh lục đỏ thế giới
LC Cân nhắc đưa vào danh lục đỏ
MN Mỹ nghệ
NĐ Nam Đông
NĐ 32 Nghị định 32/2006/NĐ – CP
NT Sắp bị đe dọa
NR Ngâm rượu
PĐ Phong Điền
loài bò sát đang bị khai thác tại huyện Hương Trà 45
Bảng 3.12 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các
loài bò sát đang bị khai thác tại huyện Phong Điền 46
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ mạng lưới buôn bán các loài bò sát bất hợp pháp ở
tỉnh Thừa Thiên Huế 52
3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Ảnh 3.1: Rượu rắn tại huyện Hương Trà 26
Ảnh 3.2: Rượu ngâm các loài bò sát tại huyện Quảng Điền 26
Ảnh 3.3: Rượu ngâm các loài bò sát tại huyện Phú Vang 27
Ảnh 3.4: Rượu ngâm các loài bò sát tại huyện Phú Lộc 27
Ảnh 3.5: Rượu rắn tại thị xã Hương Thủy 27
Ảnh 3.6: Rượu rắn được ngâm bán tại TP Huế 30
Ảnh 3.7: Rượu rắn được ngâm bán tại TP Huế 30
Ảnh 3.8: Món thịt rồng đất bóp tại nhà hàng ở TP Huế 33
Ảnh 3.9: Sản phẩm từ các loài bò sát 36
Ảnh 3.10: Các loài bò sát bị buôn bán tại huyện Phú Lộc 49
Ảnh 3.11: Các loài bò sát bị buôn bán tại chợ A Lưới 50
Ảnh 3.12: Các loài bò sát bị buôn bán huyện Nam Đông 51
4
MỞ ĐẦU
1. Tầm quan trọng của bò sát nói chung
Trong môi trường sống tự nhiên, bò sát là mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn
vì chúng vừa là sinh vật tiêu thụ thức ăn vừa là sinh vật bị tiêu thụ. Như vậy trong
quần xã, bò sát vừa là kẻ thù, vừa là con mồi của nhiều động vật khác. Trong lịch sử
tiến hóa, các loài bò sát đã hình thành những thích nghi sinh thái để tự vệ và tấn công
góp phần giữ cân bằng trong hệ sinh thái.
Bò sát tiêu diệt những loài có lợi và cả những loài có hại. Là động vật ăn thịt,
nhiều loài bò sát tiêu diệt số lượng lớn côn trùng, chuột phá hoại nông nghiệp. Nếu
nong, rắn ráo, hổ trâu, rắn sọc dưa. Mỡ rắn cũng được nhân dân ta sử dụng từ lâu,
thường dùng để chữa bỏng. Ở Trung Quốc, mỡ rắn lục xanh dùng trị bỏng và mảnh
đạn đâm vào thịt. Đáng chú ý hơn là việc dùng nọc rắn chữa bệnh như động kinh,
hen, hủi, ung thư [6].
Không chỉ rắn, mà nhiều loài bò sát khác như: tắc kè, kỳ đà, đồi mồi, rùa, thằn
lằn, ba ba, cũng có giá trị dược liệu quý. Tắc kè có tác dụng bồi bổ cơ thể, tăng
cường sinh lực, chữa suy nhược nhất là suy nhược thần kinh và được sử dụng chủ
yếu dưới dạng rượu. Trong những năm gần đây, tắc kè trở thành hàng hóa buôn bán
và xuất khẩu có giá trị cao (50-70 nghìn đồng/con) nên chúng bị khai thác rất nhiều
và đang ở mức độ cạn kiệt ngoài thiên nhiên. Ở Myanmar, máu và thịt rùa biển
(cretta) dùng chữa bệnh trĩ. Yếm rùa nấu cao (cao quy bản) chữa bệnh còi xương của
trẻ em. Mật kỳ đà, thịt thằn lằn dùng chữa hen suyễn. Thạch sùng chữa đau xương
khớp, trúng phong, trị cam lị, rắn rết cắn. Nhân dân Trung Quốc dùng thạch sùng
dưới hình thức phơi hay sấy khô tán bột để uống nhằm mục đích chữa mụn nhọt,
thần kinh suy nhược, bệnh về dạ dày và ruột, kém ăn, bán thân bất toại, viêm khớp
mãn tính, nhức đầu kinh niên mà không rõ nguyên nhân [4], [19].
Nhiều di tích khảo cổ đã chứng minh từ xa xưa con người đã biết dùng các
phương tiện và hình thức khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến hiện đại
để săn bắt các loài động vật ở nhiều vùng sinh thái khác nhau dùng làm thức ăn và
các mục đích khác.
Với truyền thống khai thác, sử dụng các sản phẩm tự nhiên của các nước Đông
Á, bò sát được xem như là một loại thực phẩm quan trọng trong suốt chiều dài lịch
6
sử phát triển của con người. Chúng cũng được xem là một phần thức ăn quan trọng
trong đời sống của nhiều gia đình và cộng đồng. Các sản phẩm từ bò sát cũng đóng
một vai trò quan trọng trong thu nhập của họ. Chính vì vậy, ngoài vai trò sinh thái và
y học, bò sát còn có vai trò kinh tế to lớn đối với con người. Chúng thường được
dùng làm thực phẩm cho con người. Các loài rùa, ba ba cho thịt, trứng. Các loài rắn,
kỳ đà, cá sấu… cho dược liệu, mỹ nghệ…
Nhân dân các nước phương tây thích dùng trứng và thịt rùa trong khẩu phần ăn.
lượng cá sấu đã giảm sút rõ rệt, nên con người đã nghĩ đến việc gây giống loài bò sát
này. Ví dụ trại cá sấu ở Loirt (Mỹ) nuôi 12 nghìn con cá sấu và sản xuất 3 nghìn tấm
da mỗi năm [19]. Da trăn, rắn cũng được sử dụng để làm thắt lưng và túi xách. Thật
không may, điều này đã đe dọa nhiều loài rắn lớn và trăn. Một số quốc gia đã có
pháp luật để ngăn chặn việc nhập khẩu các mặt hàng như vậy.
2. Lý do chọn đề tài
Với những vai trò quan trọng của bò sát kể trên đã dẫn đến việc khai thác và sử
dụng các loài động vật này ngày càng gia tăng như hiện nay. Do đó đã ảnh hưởng
một cách nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên động vật, đặc biệt là động vật rừng.
Hiện nay nhiều người và nhiều nơi ở nước ta khai thác, gây nuôi nhiều loài động
vật hoang dã cho các mục đích lấy thịt, chữa bệnh, làm cảnh. Việc buôn bán động
vật hoang dã cũng diễn ra thường xuyên đã làm nguồn tài nguyên động vật bị suy
giảm nghiêm trọng. Hậu quả là dẫn đến mất cân bằng về sinh thái mà con người là
chủ thể bị thiệt thòi nhiều nhất.
Những năm gần đây, việc điều tra, khảo sát tình hình khai thác và sử dụng các
loài bò sát đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa có được một sự đánh giá đầy đủ và
chính xác. Mặt khác, tình hình khai thác và sử dụng ở mỗi thời điểm khác nhau là
không giống nhau.
Với mong muốn nắm rõ tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát trên địa
bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (TT Huế) để góp phần vào việc khai thác, bảo tồn một cách
bền vững và có hiệu quả loài vật này nên chúng tôi chọn đề tài: “Điều tra tình hình
8
khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh Thừa Thiên Huế” cho luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ chuyên ngành động vật học.
3. Mục đích nghiên cứu
- Nắm được tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh TT Huế hiện nay.
- Lập được danh sách các loài bò sát đang được khai thác và sử dụng.
- Có cơ sở đưa ra các khuyến cáo góp phần bảo tồn và phát triển động vật hoang dã
nói chung và bò sát nói riêng.
9
đã làm phá hủy rất nhiều quần thể.
Từ khi mở rộng việc sử dụng da rắn làm các mặt hàng xuất khẩu, ở nhiều nước
nhiệt đới châu Mỹ (Colombia, Mehico, Brazin), châu Phi và châu Á, trữ lượng rắn
nhất là rắn lớn giảm sút nghiêm trọng. Chỉ tính riêng Ấn Độ, năm 1932 xuất khẩu tới
2,5 triệu tấm da bò sát [35].
Theo báo cáo của WWF (World Wildlife Fund – quỹ bảo tồn động vật hoang dã
thế giới), Việt Nam là nước thứ 23 cam kết thực hiện công ước quốc tế về mua bán
các loài động vật và thực vật đang bị đe doạ (Convention on International Trade in
Endangered Species of Wild Fauna and Flora – CITES).
Trong công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp
(CITES) ký tại Washington tháng 3 năm 1973 đã nêu rõ những nguyên tắc cơ bản
bao gồm:
- Phụ lục I bao gồm những loài bị đe doạ tuyệt diệt do hoặc có thể do buôn
bán. Việc buôn mẫu vật của những loài này phải tuân theo những quy chế
nghiêm ngặt để không tiếp tục đe doạ sự tồn tại của chúng và chỉ có thể thực
hiện được trong những trường hợp ngoại lệ.
- Phụ lục II bao gồm tất cả những loài mặc dù hiện tại chưa bị đe doạ tuyệt
diệt nhưng có thể dẫn đến đó nếu việc buôn bán những mẫu vật của những
loài đó không tuân theo những quy chế nghiêm ngặt.
- Phụ lục III bao gồm tất cả các loài mà mỗi nước thành viên quy định theo
luật pháp của họ nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế việc khai thác và cần thiết
phải có sự hợp tác với các nước thành viên khác để kiểm soát việc buôn bán
[1].
Có 185 loài bò sát trong phụ lục I, II, III trong đó phụ lục I có 61 loài, phụ lục II
có 86 loài, phụ lục III có 32 loài. Tuy trong công ước CITES đã nêu rõ danh mục
những loài động vật nguy cấp, cấm và hạn chế khai thác vì mục đích thương mại
11
nhưng các hoạt động khai thác này vẫn diễn ra. Cụ thể trong phạm vi đề tài đã điều
tra được có 5 loài trong phụ lục II và 1 loài trong phụ lục I CITES [1].
2 Lịch sử nghiên cứu về khai thác và sử dụng các loài bò sát ở Việt Nam
(Physignathus cocincinus) của Ngô Đắc Chứng và CS ở Thừa Thiên Huế và Bến Tre
và nuôi Rắn lục xanh (Viridovipera stejnegeri) ở tỉnh Tiền Giang [9] Trong dân
gian, đã có nhiều nơi nuôi các loài bò sát thương phẩm như trăn, cá sấu, ba ba,
nhông cát, thằn lằn bóng, Nhưng hệ thống lại thành quy trình để phổ biến rộng rãi
thì chỉ có bộ sách “Chương trình 100 nghề cho nông dân” do Nguyễn Lân Hùng làm
chủ nhiệm trong đó có quy trình nuôi nhiều loài bò sát khác nhau [16].
Về điều tra khảo sát việc sử dụng bò sát với các mục đích khác nhau, năm
2012 có cuộc điều tra khảo sát của Hoàng thị Nghiệp và Trương Lê Huy Hoàng ở
trường đại học Đồng Tháp. Điều tra được có 17 loài bị buôn bán và gây nuôi ở
huyện Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp [17].
Ngoài những việc nghiên cứu gây nuôi, nhà nước cũng ra Nghị định nhằm
quản lý việc khai thác và gây nuôi cho hợp lý. Nghị định 32 của Chính Phủ về quản
lý động vật, thực vật rừng, nguy cấp, quý, hiếm ký vào ngày 30 tháng 3 năm 2006.
Trong Nghị định nói rõ các động vật nguy cấp, quý, hiếm gồm 2 nhóm:
- Nhóm IB: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Gồm
những loài động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc
có giá trị cao về kinh tế, số luợng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có
nguy cơ tuyệt chủng cao.
- Nhóm IIB: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Gồm những
loài động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về
kinh tế, số luợng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có thể gây nguy cơ
tuyệt chủng.
13
Trong Nghị định cũng nêu rõ danh mục gồm 88 loài động vật rừng trong nhóm
IB và IIB. Tuy nhiên, trong khi điều tra khảo sát vẫn phát hiện việc buôn bán trái
phép các loài có tên trong danh mục trên. Cụ thể điều tra được 10 loài gồm 3 loài
trong nhóm IB và 7 loài trong nhóm IIB [3].
Mặc dù hàng loạt các nghiên cứu đã được tiến hành trên nhiều khu vực khác
nhau trong cả nước nhưng so với tiềm năng đa dạng sinh học ở Việt Nam là chưa
đầy đủ. Đặc biệt trong vấn đề nghiên cứu, điều tra các loài bò sát được sử dụng
kho
a
học
Mẫ
u
Địa
điểm
Mục
đích sử
dụng
Nguồn gốc
Cách
chế
biến
Giá
thành
trước
khi chế
biến
Giá
thành
sau khi
chế biến
Gây
nuô
i
Đánh
bắt
Phỏng vấn trực tiếp hoặc gián tiếp qua nhiều đối tượng khác nhau theo các nội
Khi thực hiện điều tra trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế gồm thị xã Hương
Thủy, thành phố Huế và 7 huyện: Phong Điền, Hương Trà, Quảng Điền, A Lưới,
Nam Đông, Phú Vang, Phú Lộc. Trong thời gian thực hiện từ đầu tháng 12/2012 đến
tháng 06/2013, đã điều tra được 84 điểm có khai thác và sử dụng các loài bò sát.
Bước đầu thu thập được 25 loài thuộc 3 bộ, 14 họ của Lớp Bò sát đang bị khai thác
và sử dụng với nhiều hình thức. Trong đó có 18 loài thuộc Bộ Có vảy (Squamata)
(chiếm 72 % trong tổng số loài), 6 loài thuộc Bộ Rùa (Testudinata) (chiếm 24 %
trong tổng số loài), 1 loài thuộc Bộ Cá sấu (Crocodylia) (chiếm 4 % trong tổng số
loài) (Bảng 3.1).
Bảng 3.1: Thành phần các loài bò sát bị khai thác và sử dụng
tại tỉnh TT Huế.
Số
TT
Tên Loài
Tên Việt Nam Tên địa phương Tên khoa học
I. Bộ Có vảy Squamata
1. Họ Rắn nước Colubridae
1 Rắn ráo thường Rắn lồng Ptyas korros (Schlegel, 1837)
2 Rắn ráo trâu Rắn hổ trâu
Ptyas mucosa
(Linnaeus, 1758 )
3 Rắn sọc dưa Rắn nẹp nống
Coelognathus radiatus
(Boie, 1827)
4 Rắn vòi Rắn vòi
Rhynchophis boulengeri
(Mocquard, 1897)
5
Rắn hổ mây
hamtơn
14 Trăn đất Trăn
Python molurus
(Linnaeus, 1758)
5. Họ Rắn biển Hydrophiidae
15 Đẻn cạp nong Đẻn
Hydrophis fasciatus atriceps
(Gunther, 1864)
6. Họ Tắc kè Gekkonidae
16 Tắc kè Tắc kè
Gekko gecko
(Linnaeus, 1758)
7. Họ Nhông Agamidae
17 Rồng đất Rồng đất
Physingathus cocincinus
(Cuvier, 1829)
8. Họ Kỳ đà Varanidae
18 Kỳ đà Kỳ đà
Varanus salvator
(Laurenti, 1786)
II. Bộ Rùa Testudinata
9. Họ Rùa đầm Emydiae
19 Rùa cổ sọc Rùa cổ sọc
Mauremys sinensis
(Gray, 1834)
20 Rùa hộp ba vạch Rùa hộp Cuora trifasciata (Bell, 1825)
10. Họ Rùa hộp Emydidae
21 Rùa tai đỏ Rùa tai đỏ Trachemys scripta elegans
18
(Wied, 1838)
11.Họ Rùa đầu to Platysternidae
loài Rất nguy cấp (CR), 2 loài Nguy cấp (EN), 1 loài Sắp nguy cấp (VU) 1 loài Sắp
bị đe dọa (NT), 3 loài cân nhắc đưa vào Danh lục đỏ (LC). Theo Nghị Định
32/2006/NĐ - CP có 7 loài nằm trong nhóm IIB (hạn chế khai thác và sử dụng) 3
19
loài nằm trong nhóm IB (nghiêm cấm khai thác và sử dụng). Trong công ước CITES
(2006) có 6 loài. Điều này cho thấy việc khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh
Thừa Thiên Huế đang diễn ra phức tạp, chưa được kiểm soát chặt chẽ theo đúng quy
định (Bảng 3.2).
Bảng 3.2: Mức độ quý hiếm của các loài bò sát.
Số
TT
Tên Loài
SĐVN
IUCN
NĐ32
CITES
Tên Việt Nam Tên khoa học
1 Rắn ráo thường Ptyas korros (Schlegel, 1837) EN
2 Rắn ráo trâu
Ptyas mucosa
(Linnaeus, 1758 )
EN LC IIB II
3 Rắn sọc dưa
Coelognathus radiatus
(Boie, 1827)
VU
4 Rắn cạp nong
Bungarus fasciatus
(Schneider, 1801)
EN LC IIB
(Gray, 1834)
EN
13 Rùa hộp ba vạch Cuora trifasciata ( Bell, 1825) CR EN IB
20
14 Rùa đầu to
Platysternon megacephalum
(Gray, 1831)
EN IIB
15 Rùa biển
Chelonia mydas
(Linnaeus, 1758)
EN
16
Cá sấu xiêm Crocodylus porosus
(Schneider, 1801)
CR CR IB I
Ghi chú: SĐVN – Sách đỏ Việt Nam (2007): CR – Rất nguy cấp; EN – Nguy cấp; VU - Sẽ
nguy cấp; IUNC – Danh lục đỏ thế giới (2012): EN – Nguy cấp; VU – Sắp nguy cấp; NT –
Sắp bị đe dọa; LC – Cân nhắc đưa vào danh lục đỏ; NĐ32: Nghị định 32/2006/NĐ – CP:
IB – Nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại; IIB – Hạn chế khai thác sử
dụng vì mục đích thương mại; CITES – Công ước CITES (2006): I – Các loài chưa có nguy
cơ tuyệt chủng nhưng việc buôn bán chúng cần được kiểm soát để tránh nguy cơ tuyệt
chủng; II – Các loài được pháp buôn bán nhưng được kiểm soát.
3.2. Mục đích sử dụng của các loài bò sát bị khai thác tại tỉnh TT Huế
Như đã trình bày ở trên, số lượng các loài bò sát bị khai thác và sử dụng có tới
25 loài trong 84 điểm điều tra. Tuy nhiên, chúng lại được sử dụng với nhiều mục
đích khác nhau. Sử dụng làm thực phẩm có ở 31 điểm (chiếm 36,90% trong tổng số
điểm điều tra), sử dụng trong buôn bán có ở 9 điểm (chiếm 10,71% trong tổng số
điểm điều tra), sử dụng để ngâm rượu có ở 34 điểm (chiếm 40,48% trong tổng số
điểm điều tra), gây nuôi có ở 8 điểm (chiếm 9,52% trong tống số điểm điều tra) và
21
4 Rắn vòi
Rhynchophis boulengeri
(Mocquard, 1897)
2
5
Rắn hổ mây
hamtơn
Pareas hamptoni
(Boulenger, 1905)
1
6
Rắn nước
chính thức
Xenochrophis flavi punctatus
(Schneider, 1799)
1
7 Rắn cườm
Chrysopelea ornata
(Shaw, 1802)
1
8
Rắn cạp
nong
Bungarus fasciatus
(Schneider, 1801)
18 9 30
9 Rắn cạp nia
Bungarus candidus
(Linnaeus, 1758)
Đẻn cạp
nong
Hydrophis fasciatus atriceps
(Gunther, 1864)
1
16 Tắc kè
Gekko gecko
(Linnaeus, 1758)
8
17 Rồng đất
Physingathus cocincinus
(Cuvier, 1829)
28 9 15 1
18 Kỳ đà
Varanus salvator
(Laurenti, 1786)
10 2 2
19 Rùa cổ sọc
Mauremys sinensis
(Gray, 1834)
1
20
Rùa hộp ba
vạch
Cuora trifasciata
(Bell, 1825)
2
21 Rùa tai đỏ Trachemys scripta elegans 1
22
(Wied, 1838)
thuộc Phân bộ Thằn lằn (Bảng 3.4)
Bảng 3.4 Thành phần loài bò sát sử dụng vào mục đích ngâm rượu.
Số
TT
Tên Loài
PL (3)
P V (5)
NĐ (2)
A L (2)
PĐ (3)
HT (8)
TXHT (5)
TP Huế (5)
QĐ (1)
Tổng (34)
Tên Việt
Nam
Tên khoa học
1
Rắn ráo
thường
Ptyas korros
(Schlegel, 1837)
3
(*)
4 6 5 2 10 8 2 1 34
2 Rắn ráo trâu
Ptyas mucosa
(Linnaeus, 1758 )
1 1 1 1 2 6
(Schneider, 1801)
7 9 3 2 5 11 12 11 14 73
9 Rắn cạp nia
Bungarus candidus
(Linnaeus, 1758)
2 3
10 Rắn hổ chúa
Ophiophagus hannah
(Cantor, 1836)
2 1 1 1 4 9 3 7 1 28
11
Rắn hổ
mang nam
Naja kaouthia
(Lesson, 1831)
3 4 6 2 15
12
Rắn hổ
mang bắc
Naja atra
(Cantor, 1842)
1 1 2 5 25 34
13 Rắn lục mép
Trimeresurus albolabris
(Gray, 1842)
1 2 12 15
14 Trăn đất
Python molurus
(Linnaeus, 1758)
1 3 3
Pelodiscus sinensis
(Wiegmann, 1835)
13 14 27
Tổng số cá thể bắt gặp 24 33 11 10 20 79 192 125 34 550
Tổng số loài bị sử dụng 9 9 4 8 9 12 9 13 7
Ghi chú: PL – Phú Lộc; PV – Phú Vang; NĐ – Nam Đông; AL – A Lưới; PĐ – Phong
Điền; HT – Hương Trà; TXHT – thị xã Hương Thủy; TP Huế - Thành phố Huế; QĐ –
Quảng Điền; (*): Số cá thế bắt gặp khi điều tra.
Về số lượng các thể bắt gặp: điều tra 34 điểm sử dụng bò sát để ngâm rượu bắt
gặp 550 cá thể được sử dụng ngâm rượu. Trong đó phải kể đến những loài bắt gặp số
lượng cá thể nhiều nhất là tắc kè 196 cá thể, rắn ráo 34 cá thể, rắn sọc dưa 45 cá thể,
24
rắn cạp nong 73 cá thể, hổ chúa 28 cá thể, hổ mang 34 cá thể, các loài chỉ bắt gặp 1
cá thể là rắn hổ mây hamton, rắn cườm và rùa cổ sọc.
Về số loài sử dụng: phần lớn tại các địa phương thường khai thác những loài có
sẵn. Điều tra được 21 loài bị sử dụng ngâm rượu thì ở thành phố Huế chiếm nhiều
nhất có tới 13 loài (chiếm 61,9% tổng số loài dùng ngâm rượu), 5 điểm điều tra với
125 cá thể đang bị sử dụng ngâm rượu. Giải thích cho sự đa dạng về thành phần loài
này là do TP Huế là trung tâm tiêu thụ từ các huyện đổ về.
Điều tra 8 điểm có sử dụng bò sát ngâm rượu tại Hương Trà bắt gặp 79 cá thể
thuộc 12 loài (chiếm 57,14% tổng số loài dùng ngâm rượu). Chủ yếu là ở xã Bình
Điền là nơi diền ra hoạt động buôn bán
các loại rượu rắn về TP Huế nhiều
nhất.Tại Nam Đông điều tra 2 điểm, bắt
gặp 11 cá thể thuộc 4 loài (chiếm
19,04% tổng số loài dùng ngâm
rượu).