tiểu luân sinh học giá trị của đa dạng sinh vật - Pdf 24

- 1 -
1/ Đặt vấn đề :
Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính
đa dạng sinh học cao nhất thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối,
rạn san hô… tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số lồi chim và
thú hoang dã trên thế giới.
Việt nam được Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3
trong hơn 200 vùng sinh thái tồn cầu; Tổ chúc bảo tồn chim quốc tế (Birdlife)
công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên
thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật.
Việt Nam còn là một trong 8 “trung tâm giống gốc” của nhiều loại cây
trồng, vật nuôi, trong đó có hàng chục giống gia súc và gia cầm. Đặc biệt các
nguồn lúa và khoai, những kồi được coi là có nguồn gốc từ Việt Nam, đang là
cơ sở cho việc cải tiến các giống lúa và cây lương thực trên thế giới.
Hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú, bao gồm 11.458 lồi động
vật, hơn 21.000 lồi thực vật và khoảng 3.000 lồi vi sinh vật, trong đó có nhiều
lồi được sử dụng để cung cấp vật liệu di truyền.
Trong 30 năm qua, nhiều lồi động thực vật đuợc bổ sung vào danh
sách các lồi của Việt Nam như 5 lồi thú mới là sap la, mang lớn, mang
Trường Sơn, chà vá chân xám và thỏ vằn Trường Sơn, 3 lồi chim mới là
khướu vằn đầu đen, khướu Ngọc Linh và khướu Kon Ka Kinh, khoảng 420
lồi cá biển và 7 lồi thú biển. Nhiều lồi mới khác thuộc lớp bò sát, lưỡng cư và
động vật không xương sống cũng đã đuợc mô tả.
Về thự vật, tính từ năm 1993 đến 2002, các nhà khoa học đã ghi
nhận thêm 2 họ, 19 chi và trên 70 lồi mới. Tỷ lệ phát hiện lồi mới đặc biệt là
ở họ Lan.
Đa dạng sinh học đóng vai trò rất quan trọng cho nền kinh tế tồn cầu
và của mỗi quốc gia.Vấn đề giá trị của đa dạng sinh vật đối với con người,
một mặt xem xét nó trị giá bao nhiêu tiền, hoặc đáng giá bao nhiêu. Do đó,
khi đề cập đến giá trị của đa dạng sinh vật người ta đều tính mọi cái ra giá trị
tiền. Mặt khác các giá trị khác ngồi tiền ra, đa dạng sinh vật có những giá trị

I/ Đa dạng di truyền 4
II/ Đa dạng lồi 4
- 3 -
III/ Sự đa dạng tổ hợp 5
IV/ Sự đa dạng sống và thích nghi 5
III/ Đa dạng hệ sinh thái 5
Phần II- Khả năng mất dần đi tính đa dạng sinh học 6
Phần III- Giá trị của đa dạng sinh vật 6
I/ Giá trị trực tiếp 7
1/ Là nguồn cung cấp lương thực và thực phẩm 7
2/ Nguồn cung cấp gỗ 9
3/ Nguồn cung cấp song mây 10
4/ Nguồn cung cấp chất đốt 10
5/ Nguồn cung cấp thuốc chữa bệnh 10
6/ Nguồn cung cấp cây cảnh 11
II/ Giá trị gián tiếp của đa dạng sinh vật 13
1/ Sản phẩm của hệ sinh thái 13
2/ Giá trị về môi trường 13
3/ Mối quan hệ giữa các lồi 15
4/ Giá trị tiêu khiển, giải trí 15
5/ Giá trị khoa học và đào tạo 16
III/ Giá trị lực chọn cho tương lai 16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Phần 1: ĐA DẠNG SINH HỌC LÀ GÌ?
Đa dạng sinh học là tổng hợp tòn bộ các gen, các lồi và các hệ sinh thái.
Đó là sự biến đổi liên tục theo tiến hóa để tạo ra các lồi mới trong điều kiện
sinh thái mới khi những lồi khác biến đi (McNeely, 1991).
I.Đa dạng di truyền:
PHẦN NỘI DUNG

nào cũng là nói đến các mối quan hệ giữa các lồi và nhóm lồi với nhau.
Có thể chia sinh giới làm 3 nhóm:
-Nhóm sinh vật sản xuất.
-Nhóm sinh vật tiêu thụ.
-Nhóm sinh vật phân hủy.
IV.Sự đa dạng sống và thích nghi :
- 5 -
Sinh vật sống theo môi trường hóa lý rất phức tạp của Trái Đất. Chúng
có thể sống trong điều kiện 80-90
o
C và ngược lại âm, 80-90
o
C nơi có độ ẩm
cao, nơi thấp, bức xạ mặt trời gay gắt.
Sự thích nghi biểu hiện ở hình thái cá thể, ở phương thức sinh sản đơn
giản hay phức tạp với vòng đời và chu trình phát triển từ trứng đến trưởng
thành khác nhau.
IV.Đa dạng hệ sinh thái :
Sinh giới và điều kiện tự nhiên có quan hệ mật thiết, hai chiều. Sự đa
dạng sinh vật được nhân lên khi gắn kết với sự đa dạng sinh cảnh.
Hệ sinh thái là một cộng đồng gồm các lồi sinh vật sống trong một điều
kiện nhất địnhvà mối tương hỗ giữa các sinh vật đó với các nhân tố môi
trường. Các nhân tố đó nương tựa vào nhau để tồn tại, tạo ra một thế cân
bằng nhất định.
Như vậy, hệ sinh thái bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh. Các
nhân tố hữu sinh gồm có nhóm sinh vật tự dưỡng hay còn gọi là sinh vật sản
xuất như thực vật lấy năng lượng mặt trời, nước và muối lhống để tạo ra các
hợp chật hữu cơ trên hành tinh chúng ta, sinh vật tiêu thụ như động vật và
sinh vật phân hủy, như vi sinh vật và nấm.
Sự đa dạng hệ sinh thái thể hiện bằng sự khác nhau cả các kiểu quần xã

nhân loại, Nhiều đầm lầy, hay vùng ngập nước trở nên khô cạn, nhiều vùng
đất bị biển bao phủ, rừng bị phá sạch, nhiều vùng đất bị san bằng và rất nhiều
tác động do việc ưu tiên phát triển các lồi có giá trị kinh tế đó. Trong quá
trình đó nhiều lồi thực vật, động vật chưa biết có thể mất đi và cũng không
biết là mất bao nhiêu, đối với nhiều lồi côn trùng, nấm và động vật nhỏ,
chúng ta không có cách tính tốn nó tồn tại bao nhiêu trước khi chúng ta tiến
hành sản xuất nông nghiệp.
Phần 3: GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH VẬT.
Mặc dù tính đa dạng sinh học mất đi nhưng có thể không ảnh hưởng đến
sự ổ định và tồn bộ năng suất của hệ sinh thái, nhưng nó sẽ phá huỷ về mặt
kinh tế. Cho đến nay, có nhiều mối quan hệ về lợi nhuận với sự thay đổi mặt
đất như: tăng số lượng thực phẩm, tăng sức khỏe, kinh tế cao hơn do kết quả
nâng cao tiêu chuẩn sống của con người. Hoạt động của con người cũng thể
hiện được sự thành công nhưng cũng có nhiều điều không thuận lợi như đất
bị ô nhiễm và mất đi rừng hay đồng ruộng bị mất đi.
Khi đề cập tới vấn đề giá trị của đa dạng sinh vật, McNeely (1988 ),
McNeely et al. (1990) đã chia thành hai loại giá trị: giá trị trực tiếp và giá trị
gián tiếp. Giá trị trực tiếp bao hàm hai phạm vi tiêu thụ mang tính thương
nghiệp trên phạm vi quốc tế và tiêu thụ trong phạm vi địa phương. Còn giá trị
gián tiếp bao gồm những cái mà con người không thể bán, những lợi ích đó
bao gồm số lượng và chất lượng nước, bảo vệ đất, tái tạo, giáo dục, nghiên
cứu khoa học, điều hòa khí hậu và cung cấp những phương tiện cho tương lai
của xã hội lồi người.
I.GIÁ TRỊ TRỰC TIẾP
1.Là nguồn cung cấp lương thực và thực phẩm
Một trong những giá trị của bản chất đa dạng sinh vật là cung cấp thức
ăn cho thế giới. 3000 lồi / 250000 giống cây được coi là nguồn thức ăn, 75%
chất dinh dưỡng cho con người là do bảy lồi của Lúa, Mỳ, Ngô, Khoai tây,
Mạch, Khoai lang và Sắn mà 3 lồi đầu cung cấp hơn 50% chất dinh dưỡng
cho con người. Một số khác cung cấp thức ăn gia súc. 200 lồi được thuần hố

esculentum)
14.010 135.551
7. Mía (Saccharum officinate) 23.676 121.524
8. Khoai lang (Ipomeas
batatas)
7.880 110.651
9. Lúa miến (Sorgum spp) 91.859 104.592
10. Đậu nành (glycine soja) 52.638 100.809
11. Nho (Vitis vinifera) 9.564 60.279
12. Bông (Gossypium spp) 34.721 49.712
13. Yến mạch (Avena sativa) 25.288 49.630
14. Dừa (Cocus nucifera) 41.040
15. Lúa mạch đen (Secale
cereale)
16.738 32.288
16. Đậu phộng (Arachis
hypogea)
18.728 20.708
17. Đậu xanh (Phaseolus spp) 25.665 14.909
18. Đậu hà lan (Pisum 8.832 13.199
- 8 -
sativum)
19. Thuốc lá (Nicotiana
tabacum)
4.111 6.559
20. Cà phê (Coffea arabica) 10.547 6.006
Ba lồi thưcï vật trong nhóm ngũ cốc như kúa mì, lúa, bắp,chiếm 49%
trong tổng số năng lượng cần thiết của con người.
Một trong những đòi hỏi khác của người dân ở vùng nông thôn là
protein mà họ thu bằng cách săn bắn thú rừng. Nhiều nơi ở Châu Phi, thịt thú

các tỉnh vùng cao, rừng họ dầu địa hình thấp, rừng ngập mặn với cây đước
chiếm ưu thế ở ven biển của đồng bằn sông Cửu Long, sông Hồng, rừng tràm
- 9 -
ở Nam Bộ, rừng tre nứa ở nhiều nơi. Rừng Việt Nam được xếp hàng thứ 16
trên thế giới về đa dạng sinh học với 12.000 lồi thực vật có mạch.

3.Nguồn cung cấp song mây
Sau gỗ, song mây là nguồn tài nguyên quan trọng thứ hai để xuất khẩu.
Hầu hết chúng là lồi mọc hoang ở Nam và Đông Nam Á. Các nước có công
nghiệp song mây lớn là Philipin,Trung Quốc, Aán Độ, Srilanca và Thái Lan .
90% nguyên liệu thô của tồn thế giới lấy từ Inđônêsia. Trung tâm đa dạng của
song mây là bán đảo Malaysia với 104 lồi, trong đó 38% là đặc hữu.
4.Nguồn cung cấp chất đốt
Chất đốt không phải là nhân tố quan trọng đối với nạn phá rừng mà
hầu hết chất đốt lấy từ savan, rú bụi, đất nông nghiệp (Eckholm & al., 1984:
Myer, 1980). Tuy nhiên, nhu cầu về củi đốt đang tăng nhanh vì dân số đang
tăng. Trái lại, việc tiêu thụ nông nghiệp là một nguyên nhân phá rừng
(Eckholm, 1954). Trong khi chỉ có hai lồi bị khai thác làm chất đốt có thể là
an tồn thì 98 lồi được xếp vào lồi nguy cấp (Kiew & Dranfield, 1987). Giá trị
tiêu thụ chất đốt cũng có thể tính qua số củi đốt dùng để sưởi và đung nấu lấy
từ rừng và trảng cây bụi. Ở các nước như Nêpal, Tanzania, Malawi phần lớn
năng lượng nguyên sinh là do củi và phân thú vật (Pearce, 1987). Giá trị củi
đó có thể tính bằng cách xem bao nhiêu người mua xăng hay chất đốt khác.
Nhiều nơi trên thế giối, nông dân đã dựa hồn tồn vào củi lấy từ rừng vì họ
không có tiền mua củi.
5.Nguồn cung cấp thuốc chữa bệnh
Schultes thông báo có 300 lồi được người bản xứ ở Amazôn trồng là
nguồn thuốc chữa bệnh. Đông Nam Á có 6500 lồi, ở Aán Độ 2500 lồi, Trung
Quốc có 5000 lồi và Việt Nam có 4000-5000 lồi. Theo Farnswarth (1988) có
tới 80% số người trên thế giới sử dụng thuốc truyền thống. Ở Hồng Kông,

hố chất trong các cây hoang dại. Thật may mắn, chúng ta lại tìm được một
thứ Cinchona cho sản lượng quinine cao hơn. Điều đó đã giúp cho việc điều
trị sốt rét trên tồn thế giới. Một ví dụ khác, chất diosgenin lấy từ cây
Dioscorea deltoidea mọc ở chân Himalaya, thuộc Bắc Aán. Diosgenin đang
bị mất đi do sản xuất công nghiệp vì các công ty công nghiệp đã làm ngơ về
sự thu hẹp khu phân bố và chỉ còn những mẫu nhỏ có năng suất thấp hơn
15% diosgenin tìm thấy trong các củ lớn mà các loại củ đó như đang bị teo
lại. Câu chuyện về sự mất năng suất dẫn chúng ta đến việc phải quan tâm
đến sự bảo tồn đa dạng sinh học.
6.Nguồn cung cấp cây cảnh
a.Nguồn cung cấp hoa
Cây cảnh là mặt hàng có giá trị trên thị trường quốc tế. Việc phát hiện,
thuần hố và gieo trồng cây cảnh đã có một lịch sử lâu dài so với các lồi cây
thực phẩm. Ví dụ hoa Lili đã được trồng ở Trung Hoa với mục đích làm cảnh
và làm thuốc đã từ 2000 năm nay. Trong thời kỳ Hylạp, hoa Hồng, hoa Lili,
hoa Tím, Anemone đã được trồng ở châu Aâu, ở Anh có 3000 lồi được trồng
phổ biến và có thể có nhiều ví dụ khác nữa. Tổng giá trị xuất khẩu trên thế
giới về hoa Cúc, lá Cúc và cây thế là 2.488 triệu USD trong năm 1985. Giá trị
buôn bán thế giới về hoa và cây cảnh từ 1981-1985 trung bình nhập hoa cắt là
1238,79 triệu USD và nhập cây sống là 915,76 triệu USD, nhiều nhất là Đức,
sau đó là Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Sĩ và Thụy Điển. Xuất khẩu hoa cắt 1101,79
triệu USD nhiều nhất là Hà Lan, tiếp theo là Côlômbia, Ixraen và Ý xuất
khẩu cây sống 8882,15 triệu USD nhiều nhất là Hà Lan, Đan Mạch và Đức.
b.Nguồn cung cấp Phong lan
Trên 5000 Phong lan được CITES ghi nhận. Khoảng 90% lồi Phong
lan buôn bán là được nuôi nhân tạo. Hầu hết lồi buôn bán là lai nhân tạo. Tuy
- 11 -
nhiên trên thị trường quốc tế vẫn có nhu cầu lớn về các lồi lan tự nhiên. Nước
buôn bán lớn nhất là Thái Lan (Dendrobium). Hai chi Paphiopedilum ở châu
Á và Phramipedium đang bị nguy cấp cần được bảo vệ.

con người. Người ta đã tính rằng, các vùng cửa sông ven biển ở Mỹ bị hủy
diệt do ô nhiễm hàng năm đãõ bị mất đi 2 triệu USD số tiền bán cá tôm cua
và cũng như số tiền bán cá cho cảng ( McNeely et ai.,1990 )
Giá trị này đôi khi người ta có thể tính tốn được, ví dụ như việc côn
trùng hoang dại thụ phấn cho cây trồng. Ơû Mỹ có khoảng 100 lồi cây trồng
đòi hỏi côn trùng thụ phấn (USDA, 1977). Giá trị đó có thể cho phép tính
bằng số tiền thu hoạch tăng lên bao nhiêu hoặc người nông dân phải trả bao
- 12 -
nhiêu tiền để thuê các tổ ong phục vụ cho sự thụ phấn. Xác định giá trị các
dịch vụ của các hệ sinh thái khác là rất khó, đặc biệt trên phạm vi tồn cầu.
1.Sản phẩm của hệ sinh thái
Khả năng quang hợp cho phép cây và tảo lấy năng lượng mặt trời để
tạo ra các sản phẩm cho lồi người. Đó cũng là điểm xuất phát của một chuỗi
thức ăn không thể tính được và từ đó dẫn đến những sản phẩm của động vật,
là nguồn thức ăn cho con người. Do đó việc phá thảm thực vật bằng các cách
khác nhau như dẫm đạp quá mức, khai thác quá mức về gỗ, đốt rừng quá
nhiều sẽ hủy diệt khả năng sử dụng ánh sáng mặt trời và cuối cùng làm mất đi
sự sản xuất sinh khối của thực vật và mất đi cả xã hội động vật, kể cả con
người (Likens et al., 1977)
2.Giá trị về môi trường
a.Bảo vệ nguồn nước
Hệ sinh thái có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước cho
các sinh vật trên trái đất tồn tại, hạn chế lũ lụt và hạn hán. Tán lá, thân cây, lá
khô làm giảm tốc độ hạt nước rơi xuống đất, hạn chế sự tác động trực tiếp lên
bề mặt đất tức là ngăn cản dòng chảy. Rễ cây, hệ động vật đất làm cho đất tơi
xốp, tăng độ thông khí, tăng độ thấm của nước cũng góp phần làm giảm dòng
chảy, phân bố lượng nước từ ngày này qua ngày khác. Theo Daniel và
Kulasingham (1974), rừng trồng cao su, cọ dừa ở Malayxia chỉ giữ được một
lượng nước nhỏ trong lúc đó rừng tự nhiên giữ lượng nước suốt trong mùa
khô lớn hơn hai lần so với rừng trồng. Những hiện tượng lụt đột ngột và

nguồn tái tạo O
2
mà các lồi động vật và người rất cần đến để tồn tại.
d.Làm sạch môi trường
Ơû những vùng có các kim loại nặng, các hóa chất diệt côn trùng, nước
cống rãnh làm ô nhiễm môi trường thì vai trò của vi khuẩn và nấm hết sức
quan trọng. Giá trị quản lý môi trường được thể hiện bằng các lồi chỉ thị cho
môi trường đã giúp cho việc bảo vệ môi trường trong sạch. Nhiều lồi địa y có
khả năng hấp thụ các kim loại nặng làm sạch môi trường
(Hawksworth,1990). Một số lồi thân mềm, thực vật nước như bèo tây, bèo
cái… cũng có khả năng hấp thụ kim loại độc và các hóa chất độc. Ơû
California người ta đã phân tích và khẳng định rằng lồi Mytilus spp. Và
Corbicula fluminea chứa hàm lượng chất độc trong cơ thể rất cao.
3.Mối quan hệ giữa các lồi
Nhiều lồi cần cho con người. Nếu các lồi đó bị mất sẽ ảnh hưởng tới
con người. Ví dụ các lồi thú hay cá đều cần cho con người, nhưng chúng lại
tùy thuộc vào các lồi cây, tảo, côn trùng, việc giảm các lồi cây, các lồi côn
trùng thì các lồi đó cũng giảm theo. Tương tự như các lồi cây trồng cần côn
trùng, chim để thụ phấn, và đến lược mình các loại này lại cần cây để lấy
thức ăn, từ mật hoa hay hoa quả, thậm chí cả những ký sinh trùng và sâu bệnh
hại cây. Nhiều lồi cây phụ thuộc vào các lồi động vật ăn quả như chim, dơi để
phát tán hạt giúp chúng.
Một ví dụ điển hình là các lồi cây và động vật đất cung cấp cho đất
chất dinh dưỡng: các vi khuẩn, nấm phá hủy các xác thực vật, động vật để lấy
năng lượngvà thải các muối khống vào đất làm cho đất tốt lên làm nguồn
thức ăn cho cây. Các sợi nấm làm tăng khả năng hấp thụ của rễ cây đối với
nước và muối khống, một số vi khuẩn hút Nitơ không khí giúp cho cây hấp
thụ, cuối cùng đến lược cây lại giành một phần thức ăn cho vi khuẩn đó tồn
tại.
Đa dạng sinh vật được thể hiện trong hệ thống nông nghiệp: Đa dạng

hủy nhất là những khu rừng nguyên sinh mà ở nhiều nơi, các nhà khoa học
muốn tìm hiểu và nghiên cứu cũng không còn. Những khu bảo tồn mà hiện
nay các quốc gia đang bảo vệ là những tài sản không những quý về nguồn tài
nguyên phục vụ trước mắt, về nguồn gen để tạo giống cho các thế hệ mai sau,
là nơi để bảo vệ môi trường cực kì có hiệu quả và đa năng mà chúng còn là
địa bàn để phục vụ cho nghiên cứu khoa học để tìm hiểu thiên nhiên, tìm
những bí ẩn trong đó mà đến nay con người vẫn chưa biết được. Các nhà văn,
nhà thơ, nhà nhiếp ảnh, nhà quay phim đã nhờ vào rừng núi, nhờ vào đáy các
đại dương mênh mông và tính đa dạng các sinh vật của chúng để sáng tạo nên
những tác phẩm nghệ thuật bất hủ phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con
người ngày càng nâng cao. Nhiều bộ phim, nhiều cuốn sách, nhiều chương
trình tivi dựa trên các mặt khác nhau của đa dạng sinh vật đã ra đời.
III.GIÁ TRỊ LỰA CHỌN CHO TƯƠNG LAI:
Hiện nay người ta đang tìm kiếm những lồi để phục vụ cho chữa bệnh
hiểm nghèo như: ung thư, HIV. Người ta đã dự tính nghiên cứu những vùng
lạ như dưới đáy biển sâu, trong những suối nước nóng, trong các vỉa san hô
để tìm ra chủng vi khuẩn chịu nóng, chịu áp lực cao…
- 15 -
Tương tự như thế, các lồi thực vật có chứa nhiều thành phần hóa học
mà cho đến nay chưa được phát hiện, việc nghiên cứu và ứng dụng các thành
phần hóa học đó rất có triển vọng trong tương lai. Thuốc chống sốt rét được
điều chế từ một số cây trong các họ Simaroubaceae, Celastraceae,
Saxifragaceae, Meliaceae. Sinh vật biển hiện nay đã trở thành dối tượng đáng
chú ý của các nhà y học. Các lồi với những sản phẩm y học độc đáo, có hoạt
tính sinh học cao được phát hiện ngày càng nhiều, đặc biệt là các lồi sống ở
độ sâu lớn trong môi trường yếm khí, áp lực cao. Hiện nay, việc nghiên cứu
hàm lượng chất dinh dưỡng cao trong sinh vật biển cò ít được chú ý. Qua
phân tích các chất tinh chế từ sinh vật biển, Soejarto (1998) cho thấy:
- 16% chất có hoạt tính sinh học cao
- 15% chất có hoạt tính sinh học trung bình

Những giá trị kinh tế trực tiếp là những giá trị của các sản phẩm được
con người thu lượm và sử dụng. Những giá trị trực tiếp được phân chia
thành giá trị sử dụng cho đời sống đối với những sản phẩm được sử dụng
cho cuộc sống ở địa phương và giá trị sử dụng cho thương mại cho các
sản phẩm dùng để bán ra thị trường.
Những giá trị gián tiếp là những khía cạnh khác của đa dạng sinh học
như các quá trình xảy ra trong môi trường và các chức năng của hệ sinh
thái là những mối lợi không đo đếm được hay nhiều khi là vô giá. Do
những lợi ích này không phải là hàng hóa hay dịch vụ nên thường không
được tính đến trong quá trình tính tốn giá tri GDP của quốc gia. Tuy vậy,
chúng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
của từng quốc gia.
Trong thiên nhiên, giữa các lồi tồn tại mối quan hệ chằng chịt và phức
tạp, là một phần của các quần xã tự nhiên. Việc mất mát một lồi sẽ có ảnh
hưởng đến những thành viên khác trong quần xã. Hậu quả cộng hưởng là
một số lồi khác rất có thể sẽ bị tuyệt chủng kéo theo như phản ứng dây
chuyền trong chuỗi những hiện tượng tuyệt chủng. Những quá trình tự
nhiên trên tòa cầu được phát hiện tương đối nhiều như tính chất hóa học
và vật tý của khí quyển, của khí hậu và của đại dương liên quan đến
những quá trình sinh học trong một cơ cấu tự điều chỉnh và điều hòa
tương hỗ. Học thuyết của Gaia nêu ra rằng Trái đất là một hệ sinh thái
khổng lồ, trong đó quần xã sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc
hình thành và duy trì những điều kiện phù hợp cho sự sống (Lovelock,
1998). Cho nên, chúng ta ý thức được sự cần thiết bảo tồn các lồi, bảo tồn
đa dạng sinh học cũng chính là để bảo vệ mình. Khi thế giới tự nhiên đạt
được sự phồn thịnh, cuộc sống của con người cũng được phồn thịnh và
bền vững. Sự tôn trọng cuộc sống con người và sự đa dạng văn hóa phải
được đặt ngang hàng với sự tôn trọng đa dạng sinh học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Công Bảy, 2006: Cỏ hoa và sức khỏe, NXB Trẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status