Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) nửa đầu thế kỷ XIX - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––– CHU THU HƢƠNG RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HUYỆN BẢO LẠC (CAO BẰNG)
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đàm Thị Uyên
THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i
LỜI CAM ĐOAN
,
.
huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) nửa đầu thế kỷ XIX” đã được chỉnh sửa theo ý
kiến của hội đồng.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn Chu Thu Hƣơng

Xác nhận của Khoa Lịch sử
Xác nhận của ngƣời hƣớng dẫn
khoa học

PGS.TS. Đàm Thị Uyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 5
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của đề tài 6
5. Đóng góp của đề tài 7
6. Bố cục 7
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BẢO LẠC (CAO BẰNG) 8
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 8
1.1.1. Vị trí địa lý 8
1.1.2. Điều kiện tự nhiên 8
1.2. Quá trình thay đổi địa giới hành chính 16
1.3. Các thành phần dân tộc 19
1.3.1. Dân tộc Tày 21
1.3.2. Dân tộc Nùng 22
1.3.3. Dân tộc Dao 23
1.3.4. Dân tộc Mông 24

3.4.6. Lễ hội Nàng Hai 80
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHSPHN : Đại học Sư phạm Hà Nội
ĐHSP TN : Đại học Sư phạm Thái Nguyên
ĐVT : Đơn vị tính
KH : Ký hiệu
KHXH : Khoa học xã hội
NV : Nhân văn
Nxb : Nhà xuất bản
m : mẫu
m.s.th.t : mẫu, sào, thước, tấc
Ví dụ: 5 mẫu 6 sào 8 thước 7 tấc sẽ được viết là 5.6.8.7
Tr : Trang
TTLTQG I : Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I


Bảng 2.17: Bảng so sánh quy mô sở hữu của các chức sắc 53
Bảng 2.18: Biểu thuế ruộng công tư năm 1803 55
Bảng 2.19: Biểu thuế thời Minh Mệnh năm 1840 57 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tình hình ruộng đất ở Bảo Lạc năm 1805 37
Biểu đồ 2.2: Quy mô sở hữu ruộng đất của huyện Bảo Lạc năm 1805 40
Biểu đồ 2.3: Quy mô sở hữu ruộng đất của các nhóm họ năm 1805 42
Biểu đồ 2.4: Quy mô sở hữu ruộng đất của các nhóm họ năm 1840 48 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nói đến nông nghiệp, tức là nói đến vấn đề ruộng đất, trị thủy, khai
hoang, phương thức canh tác, đó là những vấn đề trung tâm, cốt lõi của nền
kinh tế nông nghiệp. Trong thời kỳ phong kiến, ruộng đất, kinh tế nông nghiệp
càng thể hiện vai trò quan trọng của mình, nó là cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội
cho sự tồn tại của vương triều phong kiến. Vì vậy mà các triều đại quân chủ
Việt Nam luôn tìm nhiều phương cách khác nhau để quản lý chặt chẽ vấn đề

thể có ý nghĩa thiết thực đối với việc tìm hiểu tập quán sản xuất, tập quán sinh
hoạt, sự phân hóa và mức độ phân hóa giai cấp… trong các làng xã xưa.
Nghiên cứu tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp không chỉ có ý
nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Nhà chính trị gia của La Mã cổ đại Cicéron đã từng nói: “Lịch sử là thầy
dạy của cuộc sống”. Tìm hiểu quá khứ là chìa khóa để hiểu rõ hiện tại và định
hướng tương lai, vì vậy khi nào Việt Nam còn là một nước nông nghiệp thì vấn đề
ruộng đất, kinh tế nông nghiệp vẫn còn thực sự cần thiết và mang tính thời sự.
Ngày nay trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo
của Đảng, chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh trong đó công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn giữ vị
trí quan trọng. Tìm hiểu tình hình ruộng đất, kinh tế nông nghiệp của dân tộc
trong lịch sử sẽ giúp chúng ta hiểu được cách quản lý, phân phối, sử dụng và
bảo vệ ruộng đất của tổ tiên, điều này thực sự cần thiết đối với sự nghiệp xây
dựng nông nghiệp - nông dân - nông thôn hiện nay, để bảo đảm sự kết hợp hài
hòa giữa văn minh hiện đại với bản sắc truyền thống dân tộc. Lịch sử đã để lại
cho chúng ta những bài học sâu sắc, muốn nhận thức đúng hiện tại thì cần nắm
vững quá khứ, hiểu biết quá khứ càng sâu sắc thì nhận thức hiện tại càng chính
xác. Đó cũng chính là mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời giữa quá khứ
- hiện tại - tương lai trong khoa học lịch sử.
Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Ruộng đất và kinh tế
nông nghiệp huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) nửa đầu thế kỷ XIX” làm đề tài luận

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
văn thạc sĩ của mình. Thông qua đó, tôi hy vọng đóng góp phần nhỏ bé của
mình vào việc tìm hiểu quy mô, cơ cấu sở hữu, sử dụng ruộng đất, sự phân hóa
xã hội cũng như tập quán sản xuất nông nghiệp của địa phương. Từ đó chúng ta

Trong chuyên khảo “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI – XVIII”
gồm 2 tập (Nxb KHXH, Hà Nội, 1982, 1983) tác giả Trương Hữu Quýnh đã
phác thảo những nét chính về sự tiến triển của chế độ ruộng đất ở nước ta từ thế
kỉ XI đến thế kỉ XVIII, qua đó bước đầu vạch ra xu thế phát triển chủ yếu cũng
như tính chất kinh tế - xã hội của nó. Bên cạnh việc sử dụng các bộ chính sử, tác
giả còn sử dụng một nguồn tư liệu địa phương khá phong phú (bao gồm văn bia,
gia phả…). Vì vậy, chuyên khảo này có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp những
tư liệu tham khảo có giá trị về vấn đề sở hữu ruộng đất dưới thời phong kiến.
Tác phẩm “Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới
triều Nguyễn”( NxbThuận Hoá, Huế, 1997) do các tác giả Trương Hữu Quýnh
và Đỗ Bang đồng chủ biên đã nghiên cứu một cách cụ thể về tình hình ruộng đất
chủ yếu thông qua tư liệu địa bạ. Tác phẩm đã nêu lên các chính sách về nông
nghiệp đặc biệt là các chính sách ruộng đất của triều Nguyễn.
Ngoài các cuốn sách trên còn có hàng loạt bài viết đề cập đến vấn đề này
được đăng trong “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” (2 tập) (Nxb KHXH, Hà
Nội, 1991 và 1993) và trên các Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu kinh
tế, Dân tộc học… Trong các bài viết của các tác giả Nguyễn Đức Nghinh, Phan
Đại Doãn, Vũ Huy Phúc, Nguyễn Cảnh Minh, Bùi Quý Lộ….đề cập tới từng
khía cạnh, từng vấn đề cụ thể của tình hình ruộng đất, kinh tế nông nghiệp ở thế
kỷ XIX (chủ yếu là giai đoạn đầu thế kỷ XIX).
Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có giá trị như:
Luận án “Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn (1829)” (1991), của
tác giả Đào Tố Uyên. Công trình đã chỉ ra những điểm cơ bản và diễn biến của
chế độ ruộng đất ở huyện Kim Sơn nửa đầu thế kỷ XIX.Luận án “Huyện Quảng
Hòa (tỉnh Cao Bằng) từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX” (2000) của tác giả
Đàm Thị Uyên đã làm rõ tình hình ruộng đất, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
của huyện Quảng Hòa (tỉnh Cao Bằng) từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX.
Đặc biệt trong phần kinh tế, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề ruộng đất và kinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

6
xét theo tiến trình lịch sử của tỉnh Cao Bằng từ khi thành lập nước (thời Hùng
Vương) cho đến hiện tại.
- Nội dung nghiên cứu:
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, đặc điểm kinh tế - xã hội của
huyện trong quá khứ và hiện tại. Nội dung chính cần phải làm rõ là tình hình
ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của huyện Bảo Lạc nửa đầu thế kỷ XIX.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
- Nguồn tư liệu
+Tài liệu chung: Các cuốn sách cổ có đề cập đến nội dung nghiên cứu
như: Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển
sự lệ, Đồng Khánh dư địa chí…
Bên cạnh đó là các tài liệu nghiên cứu về ruộng đất, kinh tế nông nghiệp
như: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI - XVIII của Trương Hữu
Quýnh, Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam của Vũ Huy Phúc, Địa bạ Hà
Đông của Phan Huy Lê và P.Brocheux, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn của
Nguyễn Đình Đầu…
+ Nguồn tư liệu địa bạ: 13 địa bạ thời Gia Long 4 (1805) và 7 địa bạ thời
Minh Mạng 21 (1840) của huyện được khai thác tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia
I (Hà Nội).
+ Nguồn tư liệu thực địa, điền dã: các tài liệu truyền miệng, truyện kể,
truyền thuyết, ca dao, tục ngữ địa phương…có đề cập đến vấn đề ruộng đất và
kinh tế nông nghiệp.
- Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở thực tế là nguồn tư liệu địa bạ triều Nguyễn, tác giả đặc biệt
chú ý khâu giám định, xử lý số liệu, so sánh, đối chiếu với các nguồn tư liệu
khác có liên quan.

Bảo Lạc là huyện biên giới, vùng cao, vùng sâu, nằm ở phía Tây của tỉnh
Cao Bằng. Huyện cách trung tâm thị xã Cao Bằng 142 km theo quốc lộ 34. Phía
bắc giáp huyện Nà Po của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với đường biên giới dài
54,5km. Phía đông giáp với huyện Thông Nông và huyện Nguyên Bình. Phía tây
giáp các huyện: Mèo Vạc, Yên Minh, Bắc Mê tỉnh Hà Giang, phía nam giáp
huyện Ba Bể (Bắc Kạn) và huyện Na Hang (Tuyên Quang).
Ngày nay, Bảo Lạc nằm ở phía Tây của tỉnh Cao Bằng, với tọa độ địa lý
được xác định:
Vĩ độ bắc từ 22
0
38’07’’ đến 23
0
7’12’’ (Từ Bản Vàng - Yên Thổ đến Nà
Luông - Đức Hạnh). Kinh độ đông từ 105
0
16’15’’ đến 105
0
52’52’’ (từ núi
Lũng Gia - Quảng Lâm đến Thông Tiên - Hồng An).
Với vị trí địa lý này, từ xưa cho đến nay Bảo Lạc luôn giữ vai trò là vùng
đất hiểm yếu, nơi địa đầu phía Bắc của Tổ Quốc.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Nằm trong khu vực địa bàn núi cao phía bắc của tỉnh Cao Bằng cũng là
vùng miền núi cao phía Bắc Việt Nam, huyện Bảo Lạc là một quần thể núi non
hùng vĩ, có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều khe núi, nhiều núi đá, trong
đó chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ các thung lũng hẹp.
Xét trong tổng thể địa hình Cao Bằng, địa hình Bảo Lạc thuộc miền địa
hình núi cao của cao nguyên Lang Cá và cao nguyên Bình Lạng. Đây là cao
nguyên đá vôi đồ sộ nằm ở phía tây của huyện Bảo Lạc và huyện Bảo Lâm
ngày nay. Cao nguyên này bị chia cắt bởi nhiều thung lũng sâu với những vách

Có thể thấy Bảo Lạc là một huyện miền núi đặc trưng với các ngọn núi cao
trùng điệp, nối tiếp, cũng chính đặc điểm này đã tạo cho Bảo Lạc sở hữu một
phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Huyện bảo Lạc với 90% diện tích của huyện là
đồi núi. Bảo Lạc cũng là một địa phương vẫn còn giữ được hệ thống rừng nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10
sinh như rừng Bản Bét, rừng Lũng Lèng, Lũng Lô… . Hay những rừng cây Mạy
Khảo, Mạy Cáng Lò, Mạy Xả Cài, Mạy Khỉ Lếch cao vút và bạt ngàn cây lát -
đây là những loại gỗ quý của huyện đem lại hiệu quả kinh tế cao. Rừng Bảo Lạc
còn là nơi sinh sống của nhiều loại muông thú quý như: hổ, báo, gấu, hươu, lợn
lòi, khỉ, cầy, cáo, tê tê, xạ hương….nhiều hương liệu, dược liệu quý hiếm. Trước
năm 1970, trong các rừng còn có rất nhiều cây sa nhân, hoàng tinh, sâm đất,
măng, mộc nhĩ, chàm, mây… đây đều là những loại cây thuốc quý, song do quá
trình khai thác, chặt phá bừa bãi của nhân dân nên số lượng hiện nay đã giảm đi
nhiều. Bên cạnh đó khắp nơi trên đất Bảo Lạc chỗ nào cũng có những rừng tre,
bương, nứa, vầu… là những nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên có thể làm
vật liệu dựng nhà cửa hay công cụ lao động phục vụ đời sống sinh hoạt và sản
xuất của nhân dân địa phương.
Ở Bảo Lạc còn có một loại cây đặc biệt gọi là cây mác cai, là một loại cây
đặc sản của vùng. Loại cây này thường mọc nhiều ở ven bờ sông Gâm. Ở thị trấn
Bảo Lạc “từ bến phà Pác Gào đến Pác Pẹt dài 4 km, có tới 20 cây to, cứ vài chục
mét lại có một gốc cây to đến hai, ba người ôm không xuể, cây cao, cành lá xum
xuê, từng chùm quả khi chưa chín thì có màu xanh lá mạ, khi chín màu vàng như
quả xoài, to bằng quả trứng gà, hạt như hạt xoài, ăn vừa thơm vừa bùi, quả mác
cai có thể ăn thay cơm”[34, tr. 4]. Theo kinh nghiệm dân gian của người dân địa
phương, năm nào cây mác cai sai trĩu cành là năm đó thường mất mùa. Mác cai
mọc sát bờ nên cá sộp, cá chày hay tụ tập ăn quả chín rụng.
Huyện Bảo Lạc cũng có nhiều sông suối, mật độ sông suối thường tập

/giây, lớn nhất là 2290m
3
/giây, tốc độ
dòng chảy lớn nhất vào mùa mưa là 3,46m
3
/giây.
Sông Gâm là con sông đóng vai trò quan trọng trong đời sống, sinh hoạt
và đặc biệt trong hoạt động tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp đối với bà
con nhân dân trên địa bàn huyện.
Sông Gâm có tên khác là sông Pác Miào. Theo tư liệu điền dã của tác
giả, một số người dân địa phương sống dọc ven sông khi được hỏi đã cho biết,
dân bản thường truyền nhau rằng dưới sông có thuồng luồng to ăn thịt người,
hàng năm đều lấy người thì sông mới yên, nhất là khi mới lũ xong. Họ còn cho
biết “thần sông” hay “thuồng luồng” thường “lấy” người lạ từ nơi khác đến. Bởi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

12
vậy những người lạ từ nơi khác đến thường không dám xuống vì sợ thuồng luồng
kéo chân. Nước sông Gâm quanh năm xanh biếc, đoạn sông chảy qua thị trấn Bảo
Lạc ít thác ghềnh hơn, mùa nước lũ từ tháng 6 đến tháng 7 âm lịch hàng năm
thường có lũ lớn, dòng nước cuồn cuộn đục ngầu, làm đổ và cuốn trôi cả cây to.
Sách Đại Nam nhất thống chí có chép về con sông này như sau: “Sông
Gâm ở cách huyện Để Định 38 dặm về phía Đông Bắc, có tên nữa là sông Ngô,
phát nguyên từ phủ Trấn Yên tỉnh Quảng Tây nước Thanh, chảy về phía nam,
vào địa phận huyện Để Định, đến địa phận huyện Vĩnh Điện thì chảy ngoặt
sang phía tây, qua các núi Thượng Lãm và Hạ Lãm, lại chảy ngược sang phía
đông qua các địa phận châu Chiêm Hóa. Sông này hàng năm về mùa hè và
mùa thu nước đục, về mùa đông và mùa xuân nước trong. Lòng sông nhỏ hẹp,
lại nhiều đá ngầm, thuyền đi qua, người tất phải lên bờ đi bộ, theo ven núi ước

đánh bắt bừa bãi nên các loại cá này ngày càng trở nên khan hiếm.
Khí hậu Cao Bằng nói chung và Bảo Lạc nói riêng mang những đặc điểm
chung của khí hậu miền Bắc, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, do nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên mỗi năm chia hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ
tháng 4 đến hết tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến hết tháng 3 năm sau. Khí hậu
về mùa Đông rất rét, mùa hè rất khô nóng. Nhìn chung, Bảo Lạc có nhiệt độ
trung bình cao hơn các vùng khác, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là
22,2
0
C, trong đó nhiệt độ không khí thấp nhất thường là tháng Chạp và tháng
Giêng năm sau, nhiệt độ không khí cao nhất là vào tháng 5 đến tháng 8, nhiệt
độ có thời điểm lên tới 39
0
C. Hàng năm vẫn xuất hiện mưa đá, trung bình là 0,3
ngày/năm. Số ngày sương mù trung bình trong năm là 65,6 ngày, trong đó
tháng có sương mù nhiều nhất là tháng 11, 12 hàng năm. Độ ẩm trung bình
hàng năm thường ở mức cao lên tới 80%.
Khí hậu Bảo Lạc chịu tác động lớn của yếu tố địa hình. Do huyện miền
núi nên mùa hạ rất mát mẻ, mùa đông thì rét buốt:
“…hàng năm, đến mùa đông giá rét, nước đóng băng ( xã Mậu Duệ, thuộc
huyện Để Định…) giáp với nước Thanh. Mùa đông rét buốt, nước đóng lại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

14
thành băng, người ta lấy dao sắt đào từng khối bỏ vào sọt tre gánh về, dùng
lửa đua cho chảy ra, mới có thể thổi nấu được”[29,tr.34]
Bảo Lạc là vùng mưa nhiều, lượng mưa trung bình khoảng
1300mm/năm. Chế độ mưa chịu ảnh hưởng của hoạt động gió mùa đông nam
tập trung vào bốn tháng mùa hạ, lượng mưa chiếm tới 75% lượng mưa cả năm.

Như vậy đất đai, khí hậu Bảo Lạc nhìn chung khá thuận lợi cho việc phát
triển kinh tế nông nghiệp, thích hợp trồng lúa, ngô, đậu tương…và các loại rau
màu khác đặc biệt là bông. Bông được dân Bảo Lạc trồng khá nhiều, do phù
hợp với điều kiện đất đai và khí hậu, cây bông ở đây cho chất lượng cao, nổi
tiếng khắp vùng, người đi buôn bán vẫn thường truyền nhau câu nói “Thóc
Thông Nông, bông Bảo Lạc”. Bên cạnh đó, huyện cũng có nhiều điều kiện để
phát triển chăn nuôi đại gia súc và các hoạt động kinh tế tự nhiên khác.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, thì một số điều kiện tự nhiên như:
địa hình, khí hậu cũng gây không ít khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của
đồng bào nơi đây, “Đất giáp nước Thanh, nhiều sương núi khí độc, đến giờ
Thìn, giờ Tỵ mới hửng nắng. Đến cuối mùa xuân còn rét. Mùa hè nhiều mưa lũ,
đường thủy đường bộ đều khó đi. Mùa đông sương độc như mưa, đến giờ Ngọ
mới tan, rét buốt”[32, tr.871-872]
Diễn biến phức tạp của thời tiết thường xuyên xảy ra như hiện tượng:
sương muối, sương giá, lũ quét, hạn hán, mưa đá…gây ảnh hưởng trực tiếp đối
với hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như ảnh hưởng tới đời sống, sinh hoạt
hàng ngày của nhân dân trên địa bàn.
Do đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều khe suối, địa hình bị chia
cắt nên giao thông của huyện Bảo Lạc đi lại hết sức khó khăn. Xét theo sử cũ
đã ghi chép: “đường đi về phía Tây Nam, từ xã Lạc Nông huyện Vĩnh Điện,
giáp xã Yên Định huyện Vị Xuyên, có đoạn đi xuyên núi (theo đường trên đỉnh
núi đá ở xã Lạc Nông mà đi, khá vất vả) hoặc theo đường ruộng ở chân núi,
qua phố Thượng Lâm xã ấy rồi theo hữu ngạn sông Khâm đi đến xứ Nà Niên xã
Yên Phú rồi qua sông sang phía tả ngạn đến xứ Hiểm Thiển xã Yên Đức (hai
bên tả hữu đường này đến gần bờ sông, núi đá chỉ xứ Hiểm Thiển là có thể đi
được nhưng tay phải vịn vào các vú đá, chân giẫm lên đá tai mèo mà đi rất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status