VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
I. Hoàng Lê nhất thống chí
- Nội dung và ý nghĩa lời phủ dụ
• Nội dung:
- Khẳng định chủ quyền của dân tộc ta: “trong khoảng vũ trụ chia nhau mà cai trị.”
- Lên án hành động xâm lăng phi nghĩa và nêu bật dã tâm xâm lược của giặc: “Người phương Bắc ai
cũng muốn đuổi chúng đi.”
- Nhắc lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta: “Đời Hán có Trưng nữ vương,
… đuổi chúng về phương Bắc”.
- Lời kêu gọi quân lính đồng tâm hiệp lực đánh đuổi kẻ thù: “Nay người Thanh … để lập nên công
lớn”.
- Ra kỉ luât nghiêm minh với những kẻ ăn ở hai lòng.
• Ý nghĩa:
- Khích lệ tinh thần yêu nước và ý chí quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm.
- Ra kỉ luật nghiêm minh đối với những kẻ ăn ở hai lòng.
• Sức thuyết phục của lời phủ dụ:
- Xuất phát từ tấm lòng yêu nước, căm thù giặc của người đứng đầu.
- Lời lẽ ngắn gọn, ý tứ sâu xa.
- Nó là quân lệnh nghiêm khắc.
- Hình tượng người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ:
• Con người luôn hành động mạnh mẽ và quyết đoán:
- Là người hành động xông xáo, nhanh gọn, có chủ đích, rất quả quyết. Nghe tin giặc đã đánh chiếm
đến tận Thăng Long, ông không hề nao núng, thân chinh cầm quân đi ngay.
- Trong hơn một tháng, ông đã làm được nhiều việc lớn: lên ngôi hoàng đế, đốc thúc đại quân ra Bắc,
duyệt binh ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, lên kế hoạch hành quân và đánh giặc.
• Trí tuệ sáng suốt, nhạy bén:
- Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa địch và ta.
(Thể hiện qua lời phủ dụ).
- Sáng suốt nhạy bén trong việc xét đoán bề tôi: thể hiện qua cách xử trí với các tướng. Ông rất hiểu
sở trường, sở đoản của các tướng sỹ, khen chê đều đúng ngưới đúng việc.
• Ý chí quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng:
tiếng ngọc rơi, mái tóc óng ả, mềm mại hơn mây trời, làn da trắng mịn màng hơn tuyết. Tất cả đều
toát lên vẻ đẹp đoan trang, quý phái.
- Thúy Vân đẹp hơn những vẻ đẹp mĩ lệ trong thiên nhiên, vẻ đẹp mây thua tuyết nhường; hai chữ
“thua, nhường” gợi sự hài hòa với xung quanh; một vẻ đẹp hài hòa trong khuôn khổ của tạo hóa
như ngầm thông báo về một tính cách hiền dịu, một số phận bình yên, êm đềm.
- Có thể nói qua bức chân dung Thúy Vân, Nguyễn Du không chỉ gợi tả được vẻ đẹp của nàng mà còn
gửi tới thông điệp về và cuộc đời nàng. Chính bởi vậy mà chân dung Thúy Vân chính là chân dung
mang tính cách số phận.
• Thúy Kiều
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn:
- Hai câu thơ đầu đã gợi tả vẻ đẹp khái quát của Thúy Kiều bằng biện pháp đòn bẩy qua các phụ từ:
càng, so, hơn. Nguyễn Du muốn nhấn mạnh vẻ đẹp của Thúy Kiều hơn hẳn Thúy Vân, đó là vẻ đẹp
của nhan sắc đằm thắm mặn mà của tài năng sắc sảo, thông tuệ. Nếu vẻ đẹp của Thúy Vân chỉ
được gợi tả ở một phương diện là nhan sắc thì với 12 câu thơ, Nguyễn Du đã cho người đọc cảm
nhận được vẻ đẹp của Thúy Kiều ở cả ba phương diện: nhan sắc tuyệt đỉnh, tài năng vượt trội và
tâm hồn đa sầu đa cảm.
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
- Gợi tả nhan sắc của Thúy Kiều, Nguyễn Du không miêu tả cụ thể, chi tiết như Thúy Vân mà chỉ tập
chung gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt, đó là thủ pháp điểm nhãn (vẽ hồn cho nhân vật) bởi đôi mắt là
cửa sổ của tâm hồn. Là nơi tập trung nhất vẻ đẹp tinh anh, trí tuệ tâm hồn. Đó là một đôi mắt biết
nói, có sức rung cảm lòng người. Hình ảnh ẩn dụ gợi vẻ đẹp sống động của đôi mắt trong sáng, long
lanh như làn nước mùa thu và thanh tú như dáng núi mùa xuân.
- Hình ảnh nhân hóa: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” gợi tả vẻ đẹp hoàn mĩ của Kiều,vẻ
đẹp của sự quyến rũ, vẻ đẹp ấy làm mờ nhạt nét thắm tươi của hoa lá, làm dáng liễu vốn mềm mại
trở nên thô cứng, vẻ đẹp ấy đã vượt khỏi khuôn khổ của tạo hóa, khiến thiên nhiên sinh lòng ghen
ghét, đố kị. Câu thơ không chỉ gợi tả vẻ đẹp tuyệt trần của nhan sắc mà còn như ngầm dự báo về
tương lai của Kiều.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
4 câu thơ để tả Vân, trong đó dành tới 12 câu thơ để tả Kiều; Vân chỉ tả nhan sắc còn Kiều thì cả
nhan sắc, tài năng và tâm hồn đều được đặc tả. Đó chính là thủ pháp đòn bẩy.
III. Cảnh ngày xuân
• Đoạn 1:
Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
- Hai câu thơ đầu vừa nói được không gian vừa gợi được thời gian giữa bầu trời bao la, mênh mông
là những cánh chim én bay liệng như đưa thoi. Hai chữ “đưa thoi” thật gợi hình, gợi tả. Cánh én
như con thoi vút qua vút lại vừa miêu tả vẻ rộn ràng của trời xuân, vừa ngụ ý thời gian đang trôi
nhanh. Ý thơ này, Nguyễn Du đã vận dụng sáng tạo câu tục ngữ của nhân dân ta “Thời gian thấm
thoắt thoi đưa”.
- Ngày xuân thấm thoắt qua mau, tiết trời đã sang tháng ba, tháng cuối của mùa xuân. Hai chữ
“thiều quang” vừa gợi sắc hồng của nắng xuân, vừa gợi sự ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao
la của trời xuân. Cách tính thời gian và miêu tả của mùa xuân thật thi vị.
- Dường như trong hai câu thơ còn ẩn chứa tâm trạng nuối tiếc cảnh xuân tươi đẹp sắp trôi qua.
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
- Với bút pháp chấm phá cổ điển, Nguyễn Du chỉ chọn lọc hai hình ảnh tiêu biểu: cỏ xanh non và hoa
lê trắng để phác họa cái hồn của thiên nhiên mùa xuân.
- Thảm cỏ xanh là gam màu nền cho bức tranh xuân, sắc cỏ non xanh mơn mởn ấy trải rộng tít tắp
tận chân trời. Bức tranh mùa xuân của Nguyễn Du mang vẻ đẹp khoáng đạt, đầy sức sống. Thứ sức
sống từ lòng đất trào dâng tràn trề trên từng ngọn cỏ và trải ra bất tận. Trên nền cỏ xanh non ấy
điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng – cái sắc trắng chưa từng xuất hiện trong thơ cổ Trung Hoa.
Nó nổi bật trên nền xanh tạo nên vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết, trong sáng đến lạ lùng, tuy chỉ là vài
chấm trắng nhỏ trong bức tranh xuân nhưng sắc trắng nhỏ bé ấy không bị khuất lấp trong sắc cỏ
ngụt ngàn mà lại trở thành điểm nhấn tỏa sáng và nổi bật toàn cảnh.
- Bức tranh mùa xuân còn mang vẻ đẹp lung linh, sống động, lạ lùng bởi cách dùng từ tinh tế của tác
giả. Ông viết trắng điểm chứ không phải điểm trắng. Cách đảo từ này khiến cho câu thơ 8 tiếng vốn
mang nhịp chẵn đều nhưng đã đột ngột chuyển sang nhịp lẻ khiến câu thơ bỗng xôn xao, khác lạ.
Cảnh từ thể tĩnh chuyển sang thể động.
xuân", Nguyễn Du không chỉ nói lên một lời thông báo mà còn giúp người đọc cảm nhận được
những trông mong, chờ đợi của chị em Kiều. Trong lễ hội mùa xuân, nhộn nhịp nhất là những nam
thanh nữ tú, trai thanh gái lịch vai sánh vai, chận nối chân nhịp bước. Họ chính là linh hồn của ngày
hội. Cặp tiểu đối "tài tử"/"giai nhân", "ngựa xe như nước"/"áo quần như nêm" đã khắc họa rõ nét
sự hăm hở của tuổi trẻ. Họ đến với hội xuân bằng tất cả niềm vui sống của tuổi xuân. Trong đám tài
tử giai nhân ấy có ba chị em Thúy Kiều. Có lẽ, Nguyễn Du đã miêu tả cảnh lễ hội bằng đôi mắt và
tâm trạng của hai cô gái "đến tuổi cập kê" trước cánh cửa cuộc đời rộng mở nên cái náo nức, dập
dìu từ đó mà ra. Toàn bộ dòng người đông vui, tưng bừng đó tấp nập ngựa xe như dòng nước
cuốn, áo quần đẹp đẽ, thướt tha đống đúc "như nêm" trên các nẻo đường. Thật là một lễ hôi tưng
bừng, sang trọng và phong lưu.
- Cái hay, cái khéo của Nguyễn Du còn được thể hiện ở chỗ chỉ bằng vài nét phác thảo, nhà thơ đã
làm sống lại những nét đẹp văn hóa ngàn đời của người Phương Đông nói chung và dân tộc Việt
Nam nói riêng. Lễ tảo mộ, hội đạp thanh không chỉ là biểu hiện đẹp của lòng biết ơn tổ tiên, của
tình yêu con người trước cảnh sắc quê hương, đất nước mà còn gợi lên một vẻ đẹp của đời sống
tâm linh với phong tục dân gian cổ truyền:
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
- Người đã khuất và người đang sống, quá khứ và hiện tại như được kéo gần lại. Ta nhận ra một
niềm cảm thông sâu sắc mà Nguyễn Du đã gởi vào những dòng thơ: Có thể hôm nay, sau hơn hai
trăm năm, suy nghĩ của chúng ta có ít nhiều thay đổi trước cảnh: "Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy
bay" thế nhưng giá trị nhân đạo được gửi gắm vào những vần thơ của Nguyễn Du vẫn làm ta thực
sự xúc động.
4
Nguyễn Hải Đăng – 9D
• Đoạn cuối:
Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần theo phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
- Ngồi trên lầu cao, nhìn ra xa, Kiều thấy vẻ non xa và tấm trăng gần như ở cùng một vòm trời, cảnh
đẹp nhưng thật buồn vì ở nơi ấy nàng trơ trọi giữa không gian hoang vắng.
- Cũng từ lầu cao ấy, Kiều nhìn ra xa bốn bề bát ngát chỉ thấy những cồn cát, những rặng đường xa
dưới bụi hồng. Phép đối cồn nọ, dặm kia mở rộng không gian ra nhiều phía, càng tô đậm thân phận
cô đơn của Kiều khi bị giam lỏng ở nơi lầu cao trơ trọi.
- Cụm từ “mây sớm, đèn khuya” gợi sự tuần hoàn đơn điệu, ngày lại qua ngày, Kiều chỉ biết làm bạn
với áng mây buổi sớm, ngọn đèn đêm khuya. Đối diện với mây và đèn, Kiều thấy “bẽ bàng” trước
thân phận mình, tủi thẹn cho số phận mình. Cảnh ấy, tình ấy khiến tấm lòng Kiều tan nát, đớn đau.
Kiều bị rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ bơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
5
Nguyễn Hải Đăng – 9D
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vùa người ôm.
• Ý chủ đề: nỗi nhớ người thân của Kiều.
• Các ý cần có:
- Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, có lẽ, Kiều là người đáng thương nhất nhưng Kiều đã quên đi
cảnh ngộ của bản thân để nghĩ về người yêu, nghĩ về cha mẹ. Trước hết, nàng đau đớn khi nghĩ đến
chàng Kim, điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí đồng thời thể hiện sự tinh tế của ngòi
bút Nguyễn Du khi khắc hoa nội tâm nhân vật.
- Nhớ Kim Trọng là nhớ đến tình yêu nên bao giờ Kiều cũng nhớ tới lời thề đôi lứa: “Tưởng người …
đồng”. Vừa mới hôm nào nàng và chàng cùng uống chén rượu thề nguyện son sắt, hẹn ước trăm
năm dưới vầng trăng vằng vặc mà nay mỗi người một ngả, mối duyên tình đẹp ấy vừa mới chớm
nở đã bị cắt lìa đột ngột.
- Nàng đau đớn xót xa khi hình dung ra cảnh Kim Trọng đang hướng về mình, đêm ngày đau đáu chờ
Ánh mắt của Kiều đã hướng tới cánh buồm xa xa, thấp thoáng nơi cửa bể chiều hôm. Hình ảnh
cánh buồm khơi gợi nỗi cô đơn, gợi nỗi nhớ quê hương, gia đình, cha mẹ, gợi khát khao sum họp.
“Buồn trông … xa xa”.
- Trong hoàn cảnh ấy, Kiều buồn thương cho cảnh phận bơ vơ của mình nơi đất khách quê người.
Hình ảnh ẩn dụ hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa thật gợi cảm. Hoa trong văn chương vốn
biểu hiện vẻ đẹp mong manh, vẻ đẹp chóng tàn trong cuộc đời. Hình ảnh ẩn dụ ấy chính là biểu
6
Nguyễn Hải Đăng – 9D
tượng cho số phận trôi nổi của Kiều: Không biết sẽ trôi dạt về đâu, bị vùi dập ra sao. Câu hỏi tu từ:
vang lên đầy xót xa “biết là về đâu?”.
- Tiếp đến là nội cỏ nhạt nhoà trong mênh mông hoang vắng “buồn trông … xanh xanh”. Sắc xanh
vốn là sắc màu của sự sống nhưng ở đây, sắc xanh ấy “rầu rầu” khiến cho cảnh vật trở nên u ám,
mịt mù, ảm đạm. Với hình ảnh chân mây, mặt đất, gợi một không gian lớn, bao trùm màu xanh bất
tận, đơn điệu, mờ nhạt của nội cỏ.
- Nhìn ra phía này buồn, ngoảnh mặt sang phía khác lại càng buồn hơn. Dường như nỗi buồn mỗi lúc
càng tăng, càng dồn dập. Âm thanh dữ dội đã kết thúc đoạn thơ “Ầm ầm ghế ngồi”. Phép đảo
ngữ nhấn mạnh âm thanh dữ dội của tiếng sóng. Đây là âm thanh duy nhất của đoạn trích nhưng
lại là âm thanh bão tố, âm thanh như tai họa, bủa vây lấy Kiều. Thiên nhiên dữ dội với gió cuốn, với
ầm ầm tiếng sóng cho thấy tâm trạng lo sợ, hãi hùng trước những tai họa đang rình rập nàng.
- Cảnh vật được cảm nhận từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, tâm
trạng từ buồn lo đến hoảng sợ, hãi hùng.
- Dáng dấp của ca dao dân ca, cụm từ “buồn trông” mở đầu cho các câu sáu tiếng làm thành điệp
ngữ đã tạo nên được âm hưởng trầm buồn. Điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm
trạng cùng các từ láy liên tiếp xuất hiện như thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm
ầm không chỉ gợi sắc thái của cảnh mà góp phần thể hiện nỗi buồn dồn dập, triền miên, tăng dần
đến bão táp nội tâm.
- Đây là đoạn thơ được đánh giá là tuyệt bút của bút pháp tả cảnh ngụ tình. Ở đây không chỉ có cảnh
đẹp, tình sầu mà lòng nhà thơ dường như cũng hòa vào cùng nhân vật để buồn thương, đau xót,
cảm thông cho nỗi niềm nhân vật.
7
- Cả bảy câu có duy nhất! Từ “chung” nhưng bao nhiều hàm ý: chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chung
chí hướng, chung một khát vọng…
8
Nguyễn Hải Đăng – 9D
- Nhìn lại cả bảy câu thơ đầu, những từ ngữ nói về người lính: đầu tiên là ‘anh” và “tôi” trên từng
dòng thơ như một kiểu xưng danh khi mới gặp gỡ, dường như vẫn là hai hai thế giới riêng biệt. Rồi
“anh” và “tôi” trong cùng một dòng, đến “đôi người” nhưng lại là đôi “người xa lạ”, và rồi đã biến
thành đôi tri kỉ - một tình bạn keo sơn gắn bó. Và cao hơn nữa là tình đồng chí. Như vậy, từ rời rạc
riêng lẻ, hai người đã dần nhập thành chung, thành một, khó tách rời.
- Câu thứ bảy là một câu thơ đặc biệt. Hai tiếng “Đồng chí!” kết thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắng
chỉ với hai chữ “Đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo một nốt nhấn như một điểm tựa, điểm chốt, như
đòn gánh, gánh hai đầu là những câu thơ đồ sộ. Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng
định, một tiếng gọi trầm xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về hai tiếng mới mẻ,
thiêng liêng ấy. Câu thơ như một bản lề gắn kết hai phần thơ làm nổi rõ một kết luận: cùng hoàn
cảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau. Đồng thời nó cũng mở ra ý tiếp theo:
đồng chí còn là nhữngbiểu hiện cụ thể và cảm động ở mười câu thơ sau.
Cả đoạn thơ như một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ, là kết tinh của một tình cảm Cách mạng
mới mẻ chỉ có ở thời đại mới.
2. Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí.
• Mười câu thơ tiếp theo diễn tả những biểu hiện cụ thể về vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí,
đồng đội.
- Đồng chí đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng thầm kín của nhau:
“Ruộng nương anh gửi bán thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
- Đó là tình tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình mà còn vì mình là người trong cuộc, người cùng cảnh ngộ.
Với người nông dân, ruộng nương, căn nhà là cả cơ nghiệp, là ước mơ ngàn đời của họ; họ luôn gắn
bó, giữ gìn và chắt bóp cho những gì mình có. Vậy họ đã gác lại tất cả để ra đi đánh giặc. Câu thơ
“Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay” hết sức tạo hình và biểu cảm. Để cả cơ nghiệp mình hoang
trống mà ra đi biết người thân ở lại trống trải nhưng cũng “mặc kệ” thì đó quả là sự hi sinh lớn lao
Trong suốt cuộc kháng chiến trường kì đầy gian lao vất vả ấy, tình cảm đồng chí đã đi vào chiều sâu
của sự sống tâm hồn người chiến sĩ để trở thành những kỉ niệm không bao giờ quên.
- Câu thơ không chỉ nói lên tình cảm gắn bó sâu nặng của những người lính mà còn thể hiện sức
mạnh của tình cảm ấy.
Bài thơ “Đồng chí” không rực rỡ chiến công mà rực rỡ tình đồng đội ấm nồng khiến họ có thể sống
là làm nên bao chiến công hiển hách.
3. Đoạn kết bài thơ
- Ba câu cuối của bài thơ là biểu tượng đẹp nhất, giàu chất thơ nhất về tình đồng chí đồng đội cao
đẹp.
- Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh rất đặc sắc: “Đêm nay rừng hoang sương muối … trăng treo”.
- Công việc thực sự của người lính và tình đồng chí được tôi luyện trong thử thách, gian lao, trong
công việc đanh giặc thực sự là thử thách lớn. Cũng chính ở cái nơi mà sự sống, cái chết chỉ kề nhua
trong tích tắc thì tình đồng chí mới thực sự thiêng liêng, cao đẹp.
- Trên cái nền hùng vĩ, khắc nghiệt của thiên nhiên: đêm; rừng hoang; sương muối; người chiến sĩ
đứng cạnh bên nhau trờ giặc tới – hình ảnh họ sát cánh bên nhau vững chai, tràn đầy khí thế lạc
quan làm mờ đi cái gian khổ của cuộc chiến đấu, tao nên tư thế thành đồng vách sắt trước quân
thù.
- Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và moi gian
khổ, thiếu thốn.
- Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh độc đáo, bất ngờ, là điểm nhấn của ba phần, điểm sang
của toàn bài thơ. Hình ảnh thơ rất thực và cũng rất lãng mạn.
- Súng và trăng – hai hình ảnh vừa xa nhau về không gian, vừa khác biệt về ý nghĩa; súng và trăng là
hai hình ảnh vừa xa nhau về không gian, vừa khác biệt về ý nghĩa. Súng là hình ảnh của sức mạnh,
hình ảnh của chiến tranh, khói lửa, trăng – một hình ảnh gợi cảm dịu êm, hình ảnh của thiên nhiên
trong mát của cuộc sống thanh bình.
- Đây là hình ảnh thực được nhận ra từ những đêm hanh quân, phục kích của chính tác giả, người
lính cầm súng để bảo vệ cuộc sống hoà bình, độc lập tự do cho Tổ quốc.
- Súng và trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ,
đó là các mặt bổ sung cho nhau, hài hoà với nhau của cuộc đời người lính cách mạng.
- Ba câu thơ thật cô đọng, hàm súc, giâu chất tạo hình, giâu nhạc điệu, hình ảnh thơ chân thực, gợi
suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ.
- Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Đó là những
con người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh. Trong buồng lái không kính
chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Những
cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh
và điệp ngữ :
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
- Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp
bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn
thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh,
vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. Các anh nhìn thấy từ “gió”, “con đường” đến cả “sao
trời”, “cánh chim”. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác
đột ngột cho người lái. Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm.
Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường
chiến đấu, con đường cách mạng.
- Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. Những
câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp, tự tin, có
tính cách ngang tàng:
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra : xe không
kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên
những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn /
Không có mui xe / thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom
đạn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Đoàn xe đã chiến thắng, vượt
lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc
chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước. Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình
ảnh “trong xe có một trái tim”. Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi
người cầm lái tích tụ, kết đọng ở "trái tim" gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này. Ẩn
sau ý nghĩa câu thơ “chỉ cần trong xe có một trái tim” là chân lý của thời đại chúng ta: sức mạnh
quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc
quan, quyết thắng. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, “con mắt của thơ”, làm bật lên chủ đề,
toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ.
III. Đoàn thuyền đánh cá.
• Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việ c
- Với sự liên tưởng và so sánh thú vị, Huy Cận đã miêu tả rất thực sự chuyển đổi thời khắc giữa ngày
và đêm khiến cảnh biển vào đêm thật kì vĩ, tráng lệ như thần thoại. Vũ trụ như một ngôi nhà lớn
với màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ với những lượn sóng hiền hoà gối đầu nhua chạy
ngang trên biển như những chiếc then cài cửa. Phác hoạ được mọi bức tranh phong cảnh kì diệu
như thế hẳn nhà thơ phải có cặp mắt thần và trái tim nhạy cảm.
12
Nguyễn Hải Đăng – 9D
- Màn đêm mở ra đã khép lại không gian của một ngày. Giữa lúc vũ trụ, đất trời như chuyển sang
trạng thái nghỉ ngơi thì ngược lại, con người bắt đầu hoạt động: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi.
Câu hát căng buồm trong gió khơi. -> Sự đối lập này làm nổi bật tư thế lao động của con người
trước biển cả.
+ Nhịp thơ nhanh mạnh như một quyết định dứt khoát. Đoàn ngư dân ào xuống đẩy thuyền ra khơi và
cất cao tiếng hát khởi hành. Từ “lại” vừa biểu thị sự lặp lại tuần tự, thường nhật, liên tục mỗi ngày của
công việc lao động vừa biểu thị ý so sánh ngược chiều với câu trên: đất trời vào đêm nghỉ ngơi mà con
người bắt đầu lao động, một công việc lao động không ít vất vả.
thiên nhiên và vũ trụ.
- Con người không chỉ hoà nhập với thiên nhiên, với vũ trụ mà còn nổi bật ở vị trí trung tâm bởi
công việc đánh bắt cá vốn phần nhiều phụ thuộc vào thiên nhiên thì ở đây họ lại trở thành những
người làm chủ. Công cuộc lao động, đánh bắt cá chính là cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên.
Họ ra tận khơi xa, dò bụng biển, tìm luồng cá, dàn đan thế trận, đoàn thuyền đánh cá như những
chiến thuyền băng băng lướt sóng bủa vây, điệp trùng. Ngư dân làm việc với lòng dũng cảm, hăng
say và trí tuệ nghề nghiệp cùng với cả tâm hồn phơi phới của người làm chủ.
Cảm hứng lãng mạn của Huy Cận trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của người lao động, của tinh thần
làm chủ đã được thể hiện thành công trong những câu thơ tái hiện hình ảnh đoàn thuyền a khơi
đánh cá trên biển thật hào hùng, lạc quan và thơ mộng.
• Biển giàu đẹp nên thơ và có thật nhiều tài nguyên:
Cá nhụ cá chim cùng cá đé
13
Nguyễn Hải Đăng – 9D
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở sao lùa nước Hạ Long
- Huy Cận đã ngợi ca sự giàu có của biển cả bằng cách liệt kê tên các loài cá và tập trung miêu tả màu
sắc của chúng trong đêm trăng. Những con cá song giống như ngọn đuốc đen hồng đang lao đi
trong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh quả là hình ảnh ẩn dụ độc đáo. Tuy nhiên “cái đuôi em
quẫy trăng vàng chóe” lại là hình ảnh đẹp nhất. Ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy
đuôi như quẫy ánh trăng tan ra vàng chóe. Phải thật tinh tế mới có được những phát hiện tuyệt vời
ấy. Cảnh biển về đêm mới đẹp đẽ và thi vị làm sao!
- “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” là hình ảnh nhân hóa đẹp. Đêm được miêu tả như một sinh vật
đại dương: nó thở. Tiếng thở của đêm chính là tiếng rì rào của sóng. Nhưng tưởng tượng của nhà
thơ lại được cắt nghĩa bằng một hình ảnh bất ngờ: sao lùa nước Hạ Long làm nên tiếng thở của
đêm. Đây là một hình ảnh đảo ngược, sóng biển đu đưa lùa bóng sao trời nơi đáy nước chứ không
phải bóng sao lùa sóng nước. Đây là một hình ảnh lạ - một sáng tạo nghệ thuật của Huy Cận khiến
cho cảnh thiên nhiên thêm sinh động.
• Biển không những giầu đẹp mà còn rất ân nghĩa thủy chung, bao la như lòng mẹ. Biển cho con
của vũ trụ từ hoàng hôn đến bình minh. Đoàn thuyền ra đi trong tiếng hát làm việc trong tiếng hát,
trở về vẫn hát vang. Tiếng hát sau một đêm lao động vẫn hào hứng, mạnh mẽ - tiếng hát thắng lợi
hân hoan.
14
Nguyễn Hải Đăng – 9D
- Đoàn thuyền trở về trong tư thế hào hùng khẩn trương, chạy đua cùng mặt trời. Trong cuộc chạy
đua này, con người đã chiến thắng. “Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”; biện pháp thậm xưng kết
hợp hoán dụ để nói lên sức mạnh của con người.
- Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh đẹp của một ngày mới khi đoàn thuyền đang trở về, các khoang
đầy ắp cá. Thuyền và người luôn được đặt ở kích thước vũ trụ, mạnh mẽ, hào hùng. Lời thơ tràn
đầy niềm vui và tự hào của những người lao động đã chiến thắng.
Bài thơ là một khúc ca – khúc tráng ca ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, với
niềm vui. Bài thơ có nhiều từ “hát” được lặp lại khiến nó thực sự là một khúc ca.
- Thể thơ 7 chữ, nhịp 4/3 là chủ yếu, rất khoẻ khoắn. Lời thơ dõng dạc, điệu thơ như khúc hát say
mê, hào hứng của tác giả. Cách gieo vần biến hoá linh hoạt, vần trắc xen vầng bằng, vần liền xen
vần cách. Bài thơ là sự kết hợp giữa hai cảm hứng của tác giả - cảm hứng lãng mạn và cảm hứng
thiên nhiên vũ trụ.
IV. Ánh trăng
- Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức tuổi thơ của nhà thơ và trong chiến
tranh:
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
- Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi
thơ. Hai câu thơ với vẻn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận
động cả cuộc sống con người. Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết.
Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấu thơ mà khó có thể
quên được. Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo vần lưng “đồng”,
“sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh
bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại
xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm
rung động lòng người đọc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá
đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của
mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất
thường nhật khác đã lôi kéo con người ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con
người đã lấn át đi lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi
được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền
tảng cơ bản của cuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy
ra buộc người lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn -đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
- Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính
bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật
tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ
năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình
nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta. “Người bạn ấy” không
bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình.
Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con
người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình. Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đoán
biết trước được. Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử
thách. Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những quanh co, uốn khúc . Và
chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là
quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời. Dường như
người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó!
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Hình ảnh đầu tiên được tác giả tái hiện là hình ảnh một bếp lửa ở làng quê Việt Nam thời thơ
ấu. Bếp lửa là một hình ảnh gần gũi, quen thuộc, bình dị trong mỗi bếp nhà người Việt. Điệp ngữ “một
bếp lửa” nhấn mạnh ấn tượng sâu đậm không thể tàn phai. Từ láy “chờn vờn”; “ấp iu” có sức gợi đặc
biệt. “Chờn vờn” vừa gợi được ngọn lửa hồng bốc cao, toả sang, ẩn hiện trong làn sương sớm, vừa thể
hiện được cái sắc màu lung linh, hoài niệm. “Ấp iu” là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ. Đó là sự kết
hợp của hai từ “ấp ủ” và “nâng niu”. “Ấp iu” gợi một bếp lửa ấp ủ than hồng, nồng đượm nhờ bàn tay
khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa và nó cũng được ấp iu, trân trọng, giữ gìn trong tâm
trí người cháu.Nhớ về bếp lửa là người cháu lại bồi hồi nhớ về bà: “Cháu thương bà biết mấy nắng
mưa” bởi vì bà luôn hiện diện cùng bếp lửa, bên bếp lửa là dáng hình bà qua nắng mưa, năm tháng, lụi
cụi, tảo tần, giàu đức hi sinh. Chỉ với ba dòng thơ, tác giả đã đưa chúng ta trở về với hoài niệm tràn đầy
thương nhớ, trở về với hình ảnh bếp lửa thân quen. Bếp lửa hiện lên huyền ảo, sống động cùng người
bà tần tảo, lam lũ, cả cuộc đời nhọc nhằn, vất vả.
2. Hồi tưởng về bà (3 khổ thơ tiếp)
• Tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn nhọc nhằn: “đói mòn đói mỏi”.
“Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”
- Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” – cái đói dài làm mỏi mệt, kiệt sức, con ngựa gầy rạc của hình ảnh
của người bố đánh xe chắc cũng gầy khô… gợi nỗi xót xa ám ảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945
trước ngày cả nước ta vung lên gianh chinh quyền. Quá khứ hiện về với hình ảnh những người chết
đói đầy trên đường làng. Nhà thơ Bằng Việt với hình ảnh hết sức tiêu biểu đã gợi cho ta thấy một
quá khứ tang thương đầy những thảm cảnh của dân tộc gắn liền với số phận những người dân mất
nước trong đó có cả tác giả. Đọc đến câu thơ này chúng ta hoan toan không thấy có một vòm trời
cổ tích màu hồng với những ước mơ, những hình ảnh lãng mạn bay bổng một thời ấu thơ. Tấta ả
chỉ còn lại những hình ảnh thương tâm, khốn khổ. Giọng thơ trĩu xuống, nao nao lòng người đọc.
Những năm tháng ấy gây một ấn tượng sâu đậm lay động tâm hồn nhà thơ - ấn tượng về khói bếp
hun nhem mắt để nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.
- Tuổi thơ ấy còn có cái gian khổ chung của nhiều gia đinh Việt Nam thời kì KCCP:
“Mẹ cùng cha công tác bận không về…”
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
- Lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố không chỉ giúp ta hình dung rõ ràng giọng nói, tình
cảm và suy nghi của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất của người mẹ Việt Nam. Ở đây hình ảnh
bếp lửa ân cần, ấm cúng và nhẫn nại của bà hoàn toàn tương phản với ngọn lửa ngọn lửa thù địch
đối với sự sống: “Năm giặc đốt làng, cháy tàn cháy rụi”. Bên cạnh ngọn lửa thiêu rụi sự sống của kẻ
thù vẫn còn một ngọn lửa nhen lên một sự sống khác.
Như vậy mạch cảm xúc xen kẽ lời kể, giọng điêu ngôn ngữ, hình ảnh thơ cứ lan toả dần, rõ dần lên;
giọng thơ chuyển từ trữ tình sang tự sự. Đó là giọng kể thủ thỉ, tâm tình, rất nhỏ, rất nhẹ. Làm cho
dòng cảm xúc miên man và để lại những dấu ấn sâu đậm về người bà. Lời bà văng vẳng bên tai, vẫn
đinh ninh trong lòng cháu. Người cháu trong bài thơ tuy phải sống xa cha mẹ, tuy tuổi thơ cơ cực
thiếu thốn nhưng em thật hạnh phúc trong vòng tay yêu thương của bà.
3. Suy ngẫm.
“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhem
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.
- Hình ảnh bếp lửa được thay thế bằng hình ảnh ngọn lửa cụ thể hơn mang ý nghĩa ẩn dụ, tượng
trưng cho hơi ấm, ánh sáng và sự sống. Cái bếp lửa mà bà nhen sớm sớm, chiều chiều không phải
chỉ bằng nhiên liệu người ta vẫn thương dùng nhóm lửa mà đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất
diệt, ngọn lửa của tình yêu thương ủ sẵn trong lòng bà, ngọn lửa của niềm tin dai dẳng, ngọn lửa
thắp sáng lên niềm tin, ý chí, hi vọng và nghị lực. Điệp ngữ “một ngọn lửa” nhấn mạnh tình yêu
thương ấm áp của bà danh cho cháu. Phải chăng chinh ngọn lửa lòng bà đã nhen lên trong tâm hồn
cháu, ý chí, nghị lực, mà một tình yêu cuộc sống, một niềm tin tươi sáng về ngày mai. Đó là biểu
hiện của sức sống muôn đời bất diệt mang niềm yêu thương, ý chí, nghị lực, niềm tin của bà truyền
cho cháu. Khái quát hơn, đó là ý chí, là nghị lực, là niềm tin của cả một dân tộc trong thời kì lịch sử
vô cùng khó khăn đó, niềm tin về một ngày mai hoà bình, một ngày mai tươi sáng và một tương lai
18
Nguyễn Hải Đăng – 9D
tốt đẹp hơn đang chờ phía trước. Hình ảnh bà trong tâm hồn nhà thơ không chỉ là người thắp lửa,
giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Lửa ấy là lửa niềm tin, lửa sức sống truyền đến các thế hệ mai
sau.
bông hoa xuân, bông hoa ở giữa trái tim của dòng sông, trung tâm của bức tranh như đang dần
vươn lên xòe nở muôn màu, còn tiếng chim chiền chiện – sơn ca của xứ Huế, sứ giả của mùa xuân
thì ngân vang xúc động cả bầu trời, xao xuyến tâm hồn thi nhân. Nỗi xúc động ấy không nén nổi
khiến tác giả phải thốt nên lời trò chuyện trách yêu thiên nhiên “Ôi … trời”. Chim và hoa vốn tiêu
biểu cho vẻ đẹp và sức sống của muôn loài; vẻ đẹp của mùa xuân dưới cái nhìn của thi nhân, nó vẫn
mang nét riêng không thể lẫn.
- Đặc biệt, bức tranh xuân còn được hoàn thiện rất chi tiết, rất có hồn “Từng giọt … hứng”. Có thể
hiểu giọt long lanh dưới ánh sáng của trời xuân – cũng có thể hiểu hai câu này gắn với hai câu
trước: nhà thơ đưa tay từng giọt âm thanh tiếng chim, tiếng chim ngân lên từng tiếng một thật
trong, thật tròn, thật vang và trong ánh tươi và rạng rỡ của ngày xuân, nó không tan đi mất mà
đọng lại thành từng giọt hữu hình, long lanh như ngọc rơi xuống thành chuỗi và nhà thơ đưa tay
hứng với tất cả sự đắm say, trân trọng. Có thể nói, Thanh Hải đã thanh công trong thủ pháp chuyển
đổi cảm giác. Từ cảm nhận bằng thính giác, tác giả chuyến sang cảm nhận bằng vị giác, xúc giác
khiến hình ảnh thơ trở nên lung linh, đa nghĩa, vừa là thơ, vừa là thơ vừa là nhạc lại vừa là họa.
- Điều đáng trân trọng là khi Thanh Hải viết những vần thơ này, ông đang nằm trên giường bệnh và
mùa xuân chưa về cõi đất này nhưng lời thơ vẫn tràn đầy xuân sắc, phải yêu đời thiết tha và lạc
19
Nguyễn Hải Đăng – 9D
quan lắm, tác giả mới mở lòng với mùa xuân như vậy để viết nên những câu thơ dạt dào cảm xúc
xuân ấy.
2. Cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên đất nước.
- Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân đất nước, con
người. Tác giả đã hướng tình cảm của mình tới những con người cụ thể, những người làm nên lịch
sử, làm nên mùa xuân “Mùa xuân … nương mạ”. Các điệp từ “mùa xuân”; “lộc”; “người” như trải
rộng khung cảnh hiện thực khi gắn với cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân. Thanh Hải đã
sáng tạo ra cặp hình ảnh song đôi đẹp như hai vế của một câu đối mừng xuân để nói về hai lớp
người chủ yếu của Cách mạng, hai nhiệm vụ cơ bản của đất nước: Người chiến sĩ và người lao động
- bảo vệ và xây dựng đất nước. Điệp từ “lộc” được dùng với hai lớp nghĩa: nhanh non, lá nhỏ và
nghĩa ẩn dụ là sức sống, thế vươn lên, là những giá trị và thành quả tốt đẹp, các từ “dắt đầy”, “trải
dài” gợi một màu xanh bất tận, một sức xuân đang dâng tràn trên khắp mọi nẻo đường của đất
sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên như con chim cho tiếng hót, bông hoa dâng sắc
hương; như lời Tố Hữu đã từng viết: “Nếu là con chim, chiếc lá thì con chim phải hót chiếc lá phải
xanh, lẽ nào vay mà không có trả, sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình.”
- Tư tưởng của nhà thơ kết đọng nhất trong hình ảnh “một mùa xuân nho nhỏ - lặng lẽ dâng cho
đời”. “Mùa xuân nho nhỏ” là một phát hiện mới mẻ và sang tạo, bất ngờ, độc đáo mà rất tự nhiên
của Thanh Hải. Nó gợi một mùa xuân cụ thể, chỉ nho nhỏ thôi trong hình ảnh bông hoa, tiếng chim
như một ẩn dụ nói về một khát vọng, một lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường. Làm mùa
xuân nghĩa là sống đẹp, giữ mãi sức xuân để cống hiến khi ở tuổi xuân - tuổi 20. Và cả khi không
20
Nguyễn Hải Đăng – 9D
còn ở tuổi thanh xuân nữa – khi tóc bạc, bất chấp thời gian, tuổi tác. Điệp từ “dù là” khẳng định
mạnh mẽ khát vọng được cống hiến với tất cả sự thiết tha, khiêm tốn, trân trọng “Lặng lẽ dâng”.
Chủ thể thơ trữ tình từ chỗ “hứng” từng giọt âm thanh (được đón nhận) đến “nhập” vào hòa ca
(hòa nhập) rồi đến “dâng” cho đời (cống hiến). Đó là sự phát triển tự nhiên, hợp lí của cảm xúc, từ
chỗ xưng “tôi”, khi bộc lộ cảm hứng trữ tình của cá nhân trước mùa xuân. Ở khổ thơ này, tác giả lại
chuyển sang xưng “ta” cũng là phù hợp để nói lên ước nguyện cao đẹp không chỉ là của cá nhân mà
còn của nhiều người - mọi người. Chữ “ta” mang được sắc thái trang trọng, thiêng liêng của một lời
nguyện ước. Các điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc câu tạo nhịp thơ liền mạch, sôi nổi, trẻ trung, diễn
tả những tình cảm khát vọng trao dâng mãnh liệt.
- Thật trân trọng và cảm phục biết bao khi những dòng tâm niệm bởi một người đang nằm trên
giường bệnh của một người đã và đang mong muốn được tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp của
cách mạng; cho đất nước.
VII. Viếng lăng Bác
1. Tình cảm chân thành và giản dị của đồng bào miền Nam muốn nhắn gửi, nhờ Viễn Phương nói hộ
cùng Bác.
- Câu thơ “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” chỉ gỏn gọn như một lời thông báo nhưng lại gợi ra
tâm trạng xúc động của một người từ chiến trường miền Nam sau bao nhiêu năm mong mỏi bây
giờ mới được ra viếng lăng Bác.
- Cách dùng đại tù xưng hô “con” rất gần gũi, thân thiết, ấm áp tinh thân thương, diễn tả tâm trạng
của người con sau bao nhiêu năm mong mỏi bây giờ mới được ra lăng viếng Bác.
Bác dù chỉ trong giây phút nhưng không bao giờ muốn xa Bác bởi Người ấm áp quá, rộng lớn quá.
- Ước nguyện thành kính của Viễn Phương cũng là mong ước chung của những người đã hoặc chưa
một lần nào gặp Bác.
- Muốn làm con chim hót -> âm thanh của thiên nhiên đẹp đẽ, trong lành.
- Muốn là đóa hoa -> tỏa hương thơm thanh cao nơi Bác yên nghỉ.
- Muốn làm cây tre trung hiếu giữ mãi giấc ngủ bình yên cho Người.
- Điệp từ “muốn làm” biểu cảm trực tiếp và gián tiếp -> tâm trạng lưu luyến, ước muốn, sự tự
nguyện chân thành của tác giả.
- Hình ảnh cây tre xuất hiện khép lại bài thơ một cách khéo léo.
VIII. Sang thu
1. Khổ 1:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
• Đây là những cảm nhận ban đầu của nhà thơ về cảnh sang thu của đất trời, khoảnh khắc giao mùa
của tạo vật được thi nhân cảm nhận bằng nhiều giác quan tinh tế.
• Thiên nhiên được cảm nhận từ những gì vô hình:
- Cuối hạ, đầu thu: tín hiệu báo về với Hữu Thỉnh không phải không phải hoa cúc vàng hay bầu trời
thu quen thuộc, cũng chẳng phải hương cốm mà từ hương ổi chín, thơm nồng. “Bỗng nhận ra
hương ổi, phả vào trong gió se”, cuối hạ đầu thu, ổi chín muộn, hương thơm đậm đà, truyền đi náo
nức như thông điệp của mùa thu. Cái thứ hương quê ấy không lạ trong đời nhưng lại hiếm trong thi
ca; hương thu ấy vừa gần gũi, vừa mới mẻ. Từ “phả” gợi hương đậm như sánh lại, có lẽ còn bởi
“gió se”. Gió đầu thu chớm lạnh và hơi khô .
- Cùng với hương và gió là sương, không gian dẫn hương và lãng đãng sương. Sương được nhân hóa,
tù “chùng chình” gợi màn sương giăng mắc nhẹ nhàng như có hồn, cố ý chậm lại, vừa mơ hồ, vừa
chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm. Trong sương có gió, có sương, có hương và có
cả tinh. Ngõ vừa là ngõ thực, vừa là ngõ ảo, vừa gợi cửa ngõ thời gian thông giữa hai mùa. Sương
bâng khuâng, lưu luyến như chưa muốn bước hẳn vào thu.
- Cảm xúc của tác giả: Kết hợp một loạt các từ: “bỗng, phả, hình như” thể hiện tâm trạng ngỡ ngang,
- Từ say sưa cảm nhận bằng những giác quan tinh tế, những biến chuyển nhẹ nhàng trong không
gian lúc sang thu, cái nhìn của thi nhân như lắng cùng sự trải nghiệm, nghĩ suy, bức tranh sang thu
đến đây được hoàn tất, có thêm hồn và đậm chất suy tư.
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
- Thu đã hiện ra đậm đà hơn và nhà thơ đã cảm nhận bằng đoán nhận, bằng kinh nghiệm và suy tư
sâu lắng. Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp như mùa hạ nhưng mức độ đã khác. Lắng dần, bớt chơi gắt,
nóng bức hơn. Những cơn mưa rào ào ạt của mùa hạ đã vơi dần, đi kèm đó là những tiếng sấm giờ
cũng thưa dần, nhẹ đi. “Sấm cũng bớt bất ngờ, trên hàng cây đứng tuổi”, cũng có thể hiểu hàng cây
đã lớn, đã bao vụ chuyển mùa nên không còn bị bất ngờ, bị giật mình bởi tiếng sấm nữa. Hai câu
thơ còn mang hàm ý ẩn dụ; sấm - chỉ những vang động bất thường của ngoại cảnh - cuộc đời,
những khó khăn, trắc trở; hàng cây đứng tuổi là cách nói nhân hóa cây nhưng cũng là ẩn dụ chỉ con
người đã từng trải, đã sang thu. Vẻ điềm tĩnh của cây trước sấm sét, bão giông lúc sang thu hay đó
là sự chín chắn, điềm đặn của con người đã từng trải sau những vất vả gian lao của cuộc đời. Hình
ảnh hàng cây đứng tuổi đặt ở cuối bài thơ vốn là một vị trí rất quan trọng đã mở ra một cảnh cửa
dẫn ta sang thế giới của tâm hồn con người.
- Nhìn lại bài thơ ta càng thấm thía vì sao có sự chùng chình, bịn rịn lúc sang thu của tạo vật mà giật
mình nhận ra sự sang thu của đời người để rồi xác định môt lối sống chín chắn và đúng mực hơn.
IX. Nói với con
1. Lời tâm tình của người cha với con về cội nguồn sinh dưỡng của con. (Giảm tải).
2. Những đức tính cao đẹp của “người đồng mình” và mong ước của người cha qua lời tâm sự với
đứa con.
- Người cha dặn dò con cần kế tục, phát huy một cách xứng đáng truyền thống của quê hương.
- “Người đồng mình” là cha mẹ, là đồng bào, là người cùng quê hương.
- Sự lặp lại nhiều lần cụm từ này nhằm khẳng định phẩm chất của người đồng mình là phẩm chất của
quê hương bởi sức sống của quê hương do người đồng minh tạo ra. Đó là lời nói mộc mạc, giản dị
gợi bao tình yêu thương, gần gũi…
Cao đo nỗi buồn
niệm trừu tượng, chỉ nơi chốn sinh thành của người nào đó.
- Nghĩa ẩn dụ: Nói đục đá kê cao quê hương -> Muốn khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức bảo tồn
cội nguồn.
Kết thúc bài thơ là lời nhắn nhủ, dặn dò của người cha mong muốn con minh phải tự hào về truyền
thống tốt đẹp của quê hương, hãy lấy những tinh cảm đó làm hanh trang để vững bước trên đường
đời.
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
- Hình ảnh “thô sơ da thịt” lặp lại hai lần như muốn con khắc cốt ghi xương. “Người đồng mình” tuy
mộc mạc, chân chất nhưng có lẽ sống cao đẹp. Trên đường đời con phải sống cao thượng, tự trọng
để xứng đáng với “người đồng mình”. Con hãy tự tin bước đi, bởi sau lưng con có gia đình, quê
hương, bởi trong tim con sẵn ẩn chứa những phẩm chất quý báu của “người đồng mình”. Hai tiếng
“nghe con” chứa đựng tấm lòng yêu thương và niềm tin sâu nặng cha đặt nơi con. Hai tiếng ấy
khép lại bài thơ để lại một dư âm nhẹ nhàng mà âm vang xao xuyến.
24
Nguyễn Hải Đăng – 9D
TRUYỆN HIỆN ĐẠI
I. Làng
1. Tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc.
- Nỗi bất hạnh lớn đã đổ sụp xuống đầu ông, ông sững sờ “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê
rân rân ông lão lặng đi tưởng chừng như đến không thở được”. Khi trấn tĩnh được phần nào, ông
còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa
ở dưới đó lên”, làm ông không thể không tin.
- Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh, day dứt.
Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông “nằm vật ra
giường”, rồi tủi thân nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt
gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”.
- Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớp, hễ thấy đám đông nào tụ