TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN
VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
********
(Tài liệu lưu hành nội bộ)
Quyển 2
Hà Nội, tháng 6/2011
Chủ biên : PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
Tham gia: PGS.TS. Đào Thị Oanh
TS. Vũ Thị Sơn
Ths. Nguyễn Thị Hằng
LỜI MỞ ĐẦU
Trước thực tế chất lượng giáo dục nhân cách HS và giáo viên chủ nhiệm gặp nhiều
khó khăn trong việc quản lí và giáo dục HS, Vụ TrH, Bộ GD-ĐT đã tổ chức Hội thảo
về nâng cao năng lực công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học tại TP Đà Lạt, tháng
01/2011 nhằm thăm dò nhu cầu về nội dung bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GVCN
ngay trong dịp hè năm 2011. Theo đó có13 kĩ năng được chọn ở mức độ ưu tiên hơn
(đa số ý kiến cho là rất cần) đó là:
Nhóm kĩ năng giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi công tác chủ nhiệm
- Vai trò, chức năng của GVCN vừa là nhà GD vừa là nhà quản lý tập thể HS
- Kĩ năng tổ chức giáo dục KNS cho HS
- Kĩ năng ngăn ngừa và giải quyết những xung đột trong tập thể lớp
- Kĩ năng tổ chức giờ sinh hoạt lớp
- Kĩ năng giáo dục học sinh cá biệt và HS có hành vi không mong đợi
- Kĩ năng xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp ( kế hoạch năm, học kì,
tháng, tuần)
- Kĩ năng xử lí tình huống giáo dục
- Kỹ năng tìm hiểu đặc điểm học sinh
- Đặc điểm tâm lí- xã hội của HS THCS/ THPT hiện nay

Thay mặt nhóm tác giả
Chủ biên
PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
MỤC LỤC
Nội dung Trang
1. Vai trò, chức năng của GVCN
2. GVCN vừa là nhà GD vừa là nhà quản lý tập thể HS.
3. Nhận thức hậu quả sự thiếu trách nhiệm của GVCN
4. Đặc điểm nhân cách của HS THCS/ THPT hiện nay
5. Kĩ năng giáo dục học sinh cá biệt và HS có hành vi không mong đợi
6. Kĩ năng lắng nghe tích cực và cảm thông
7. Kĩ năng tạo động lực học tập và hoàn thiện nhân cách cho HS
8. Kĩ năng quan hệ, hợp tác với phụ huynh HS
Một số từ viết tắt
1 Ban giám hiệu BGH
2 Cha mẹ học sinh CMHS
3 Kĩ năng hợp tác KNHT
5 Hoạt động ngoài giờ lên lớp HĐNGLL
6 Hoạt động giáo dục HĐGD
7 Học sinh HS
8 Hội đồng giáo dục HĐGD
9 Giáo dục-Đào tạo GD-ĐT
10 Giáo viên GV
11 Giáo viên chủ nhiệm GVCN
12 Giáo viên trung học GV TrH
13 Giáo dục GD
14 Giáo dục học GDH
15 Giáo dục và thời đại GD & TĐ
16 Lực lượng giáo dục LLGD
17 Thanh niên cộng sản TNCS

có trách nhiệm truyền đạt tới học sinh của lớp chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế hoạch giáo
dục của nhà trường tới tập thể và từng học sinh của lớp chủ nhiệm. Đồng thời, giáo
viên chủ nhiệm có khả năng biến những chủ trương, kế hoạch đào tạo của nhà trường
thành chương trình hành động của tập thể lớp và của mỗi học sinh.
Mỗi giáo viên chủ nhiệm còn là một thành viên tham mưu của Hội đồng sư
phạm có trách nhiệm phản ánh đầy đủ thông tin về lớp chủ nhiệm cũng như từng thành
viên trong tập thể lớp, đề xuất các giải pháp giáo dục học sinh, giúp cán bộ quản lý,
lãnh đạo nhà trường đưa ra các định hướng, giải pháp quản lý, giáo dục học sinh hiệu
1
Nguyễn Thanh Bình-Viện Nghiên cứu sư phạm – Trường ĐHSP Hà Nội
quả.
2.2. Đối với HS và tập thể lớp, GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi
nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và các mối
quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản là cán bộ
lớp, cán bộ Đoàn và tính tự giác của mọi HS trong lớp.
Giáo viên chủ nhiệm lớp còn là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng
học sinh của lớp phản ánh với hiệu trưởng, với các tổ chức trong nhà trường và với
các giáo viên bộ môn.Giáo viên chủ nhiệm với tư cách là đại diện cho lớp còn có trách
nhiệm bảo vệ, bênh vực quyền lợi mọi mặt học sinh của lớp.
Ví dụ: những oan ức, sự hiểu lầm của thầy, cô giáo vì một lẽ nào đó. Ai là người giúp
các em giải tỏa những băn khoăn vướng mắc trong những quan hệ như vậy, không ai
tốt hơn là giáo viên chủ nhiệm.
Như vậy, GVCN là cầu nối giữa hiệu trưởng (Ban giám hiệu), giữa các tổ chức
trong nhà trường, giữa các giáo viên bộ môn với tập thể học sinh. Nói một cách khác,
giáo viên chủ nhiệm là người đại diện hai phía, một mặt đại điện cho Hội đồng sư
phạm, mặt khác lại đại diện cho tập thể học sinh trong quá trình thực hiện công tác chủ
nhiệm lớp.
2.3. GVCN là người cố vấn cho công tác đội và công tác Đoàn ở lớp chủ nhiệm
GVCN giữ vai trò là người cố vấn cho Ban chỉ huy chi đội của lớp chủ nhiệm ở
trường THCS, và là người cố vấn cho Ban chấp hành chi đoàn ở trường THPT.

thể lớp, đưa tập thể lớp phát triển thành một tập thể phát triển và thân thiện (chức năng
này được phân tích sâu ở nội dung 2 “GVCN – nhà quản lí, nhà giáo dục”).
Nhìn tổng thể, theo tác giả, chức năng của người GV chủ nhiệm lớp là lãnh
đạo, tổ chức, quản lí, giáo dục tập thể lớp trên cơ sở tổ chức các hoạt động GD, các
mối quan hệ GD của HS theo mục tiêu giáo dục nhân cách HS toàn diện trong tập thể
phát triển và môi trường học tập thân thiện.
Quan niệm trên đã phản ánh sự thống nhất giữa:
- Chức năng quản lí và chức năng giáo dục,
- Tổ chức các hoạt động GD và các quan hệ của HS theo định hướng phát triển toàn
diện nhân cách
- Giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân,
- Tập thể phát triển với môi trường học tập thân thiện [2].
4. Nhiệm vụ của GVCN
4.1.Nhiệm vụ của GV CN lớp được quy định trong các văn bản pháp lí [5].
a.Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo
dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của mọi học sinh.
b. Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ
môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí
Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh
của lớp.
c.Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen
thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm
tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh
việc ghi vào sổ điểm và học bạ.
d.Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng
Trong 3 năm học gần đây khi thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa THPT,
thì GV chủ nhiệm còn có thêm nhiệm vụ: “Theo dõi tình hình tổ chức dạy và học tự
chọn của lớp mình phụ trách; Theo dõi kết quả học tập tự chọn của học sinh, tổng kết,
xếp loại và ghi kết quả học tập của HS theo quy định” [4].
Như vậy nhiệm vụ của GV chủ nhiệm lớp được quy định trong các văn bản pháp

đặc điểm HS về các mặt học lực, đạo đức, sức khỏe …dự báo và diễn biến trong quá
trình học tập, rèn luyện của học sinh), trong đó đặc biệt quan tâm đến học sinh là con
thương binh, học sinh nghèo vượt khó
Trên thực tế việc tìm hiểu HS và lớp chủ nhiệm cũng hết sức đa dạng. Nhìn
chung GVCN sử dụng phương pháp trò chuyện hoặc phiếu khai những thông tin cơ
bản về gia đình HS. Làm thế nào để hiểu đầy đủ, chính xác về HS và các yếu tố ảnh
hưởng đến học tập và phát triển nhân cách HS cũng còn đang là vấn để cần được nâng
cao năng lực cho GVCN.
- Tổ chức đội ngũ cán bộ tự quản và xây dựng tập thể học sinh lớp chủ
nhiệm.
Đội ngũ cán bộ lớp là những người trợ giúp đắc lực giúp GVCN thực hiện chức
năng của mình, nhưng họ không phải là công cụ, hay cánh tay nối dài của GVCN.
Trong thực tế đã có những GVCN sử dụng đội ngũ cán bộ lớp chưa thực sự đúng mục
đích, nên đã gây mâu thuẫn giữa đội ngũ tự quản với các HS khác trong lớp, đặt họ
vào những tình thế khó xử. Đội ngũ cán bộ lớp là những người được GVCN bồi
dưỡng năng lực tổ chức và quản lý tập thể lớp để đảm bảo sự thống nhất giữa quản lý
của GVCN và tự quản của HS.
Xây dựng tập thể HS phát triển và thân thiện vừa là mục đích vừa là phương
tiện để giáo dục nhân cách từng HS, đồng thời đưa tập thể đến trạng thái phát triển
cao hơn là nhiệm vụ của GVCN. Nguyên tắc giáo dục trong tập thể bằng tập thể cần
được quán triệt trong công tác chủ nhiệm lớp.
- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nội dung, hoạt động giáo dục toàn diện (hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo chương trình, hoạt động sinh hoạt dưới cờ, giờ
sinh hoạt lớp, hoạt động tư vấn trong công tác hướng nghiệp, dạy nghề…)
- Liên kết với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để đảm bảo sự
thống nhất trong giáo dục học sinh và tăng cường sức mạnh đồng bộ nhằm đem lại
hiệu quả.
- Đánh giá kết quả giáo dục và học tập của HS lớp chủ nhiệm trong suốt quá trình
cũng như khi sơ kết, tổng kết năm học.
Cách nhìn nhận và đánh giá học sinh của đa số GVCN hiện nay vẫn theo nếp

Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ
trường phổ thông.

Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo…

Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chuyên môn, đổi mới phương pháp giáo dục …
Điều này cũng tương đương với Điều 31 về Nhiệm vụ của GV trung học
Điều 70 (về những tiêu chuẩn nhà giáo phải có), Điều 72 (về nhiệm vụ của nhà giáo),
Đặc biệt Điều 75 (về các hành vi nhà giáo không được làm) đã quy định:
Nhà giáo không được có các hành vi sau đây:

Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm hại thân thể người học.

Gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai kết quả học tập, rèn luyện
của người học.

Xuyên tạc nội dung giáo dục.

Ép buộc HS học thêm để thu tiền.
Năm 2008 Bộ GD ĐT còn ban hành Quy định đạo đức nhà giáo[8], trong đó:
Điều 3. Phẩm chất chính trị
1. Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trư-ơng, đ-ường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nư-ớc; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật. Không
ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt
động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
2. Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ
chức, có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung.
3. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động
chính trị, xã hội.

đến những người xung quanh, thực hiện nếp sống văn hoá nơi công cộng.
Điều 6. Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo
1. Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy
chế, quy định, không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân.
2. Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực
hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục.
3. Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến
người học; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học
tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp.
4. Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học,
đồng nghiệp, ngư-ời khác. Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng
nghiệp và người khác.
5. Không tổ chức dạy thêm, học thêm trái với quy định.
6. Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học và nơi
không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động
giáo dục của nhà trường.
7. Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong
khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi.
8. Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và
trong sinh hoạt tại cộng đồng.
9. Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung
trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước.
10. Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc, không đi
muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế
chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường.
11. Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội như: cờ
bạc, mại dâm, ma tuý, mê tín, dị đoan, không sử dụng, lưu giữ, truyền bá văn hoá
phẩm đồi trụy, độc hại.
5.2. GVCN cần quán triệt đường lối, chính sách, mục tiêu, nguyên lí giáo dục của
Đảng, Nhà nước, đồng thời phải nắm vững quy chế, điều lệ nhà trường phổ thông, mục

trương, nhiệm vụ nhà trường giao cho. Đây là nhiệm vụ trung tâm của GV chủ nhiệm
lớp nhằm tổ chức có hiệu quả các hoạt động GD học sinh lớp chủ nhiệm. Lâu nay việc
lập kế hoạch còn mang tính hình thức, bây giờ GVCN cần có kĩ năng lập kế hoạch
khoa học hơn, trong đó các thành tố mục tiêu, nội dung, nguồn lực, biện pháp, thời
gian thực hiện, kết quả dự kiến được xác định tường minh, cụ thể, đảm bảo tính khả
thi. Sau đó là chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch và giám sát, đánh giá việc thực hiện
những kế hoạch này. Chuẩn nghề nghiệp GVTrH yêu cầu “Kế hoạch các hoạt động
giáo dục được xây dựng thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục bảo
đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện
thực tế, thể hiện khả năng hợp tác, cộng tác với các lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường” ( Tiêu chí 16). Chính vì vậy GVCN phải có năng lực tìm hiểu môi trường
giáo dục để tính đến vừa như là điều kiện, nội dung tổ chức giáo dục ngay từ khi lập
kế hoạch chủ nhiệm ” Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin về điều kiện giáo
dục trong nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương,
sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục” (Tiêu chí 7. Chuẩn nghề nghiệp
GVTrH).
Tìm hiểu thực trạng hoạt động nghề nghiệp của GVCN cho thấy: Phần lớn GV
chưa nhận thức được ý nghĩa của việc lập kế hoạch, nên đã làm một cách hình thức,
thậm chí chép lại của nhau những kế hoạch chung (năm,học kì), kể cả kế hoạch tháng
[2].
5.5. Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm. Đây là chức năng đặc trưng và cũng
là yêu cầu đối với GVCN mà các giáo viên bộ môn không thể thay thế. Để giáo dục và
phát triển toàn diện từng HS, GVCN tất yếu phải xây dựng và phát triển tập thể lớp.
Nhiệm vụ của người GVCN đưa tập thể lớp từ trạng thái này đến trạng thái phát triển
cao hơn.Tập thể phát triển là tập thể ở giai đoạn có tính tự quản cao, có dư luận tập thể
lành mạnh, các mối quan hệ trong tập thể gắn bó và mang tính nhân văn. Tập thể phát
triển cũng đồng thời là môi trường học tập thân thiện, chứa đựng văn hóa của mình.
Trong chiều sâu văn hóa của tập thể là những giá trị, hệ thống các chuẩn mực và niềm
tin của HS. Biểu hiện bên ngoài của văn hóa tập thể là các chuẩn mực hành vi, truyền
thống, thói quen được tập thể chấp nhận làm nên bộ mặt riêng của lớp học có tác

các chủ đề giáo dục những KNS phù hợp với từng lứa tuổi, vùng miền và giáo dục
KNS theo tiếp cận Bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI “ Học để biết, Học để làm,
Học để tự khẳng định mình, Học để chung sống với mọi người”
Trên thực tế, đa số GV chủ nhiệm không thực hiện đầy đủ và thực hiện một cách hình
thức các chủ đề hoạt động ngoài giờ lên lớp.
5.7. Phát hiện kịp thời và ngăn ngừa những xung đột trong lớp
Sự bất hòa và những xung đột nảy sinh là điều khó tránh trong các mối quan
hệ giữa các thành viên của tập thể. Thực tiễn bạo lực học sinh trong nhà trường hiện
nay đang làm mọi người đều bức xúc và để lại hậu quả nặng nề về tâm lí, tinh thần học
sinh. Do đó GVCN cần lưu tâm ngăn ngừa và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn
có thể trong tập thể lớp chủ nhiệm. Một tập thể phát triển có văn hóa tổ chức, là môi
trường học tập thân thiện thì mâu thuẫn sẽ được giải quyết trên nền của sự thiện chí,
tôn trọng, thừa nhận lẫn nhau .
5.8. Đánh giá kết quả tu dưỡng, học tập và sự tiến bộ của HS về các mặt giáo dục.
Quy chế đánh giá xếp loại học sinh THCS và THPT ban hành theo Quyết định số 40/
2006/ QĐ-BGDDT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT) quy
định một số việc phải làm cụ thể của GVCN về đánh giá kết quả học tập và đạo đức
của HS để xếp loại mang tính quản lí hành chính. Theo quan điểm đánh giá để phát
triển HS, người GVCN hiện nay cần thường xuyên thu thập và xử lí thông tin để khích
lệ HS vươn lên, hoặc điều chỉnh kịp thời những hành vi không mong đợi của các em.
Ngoài yêu cầu đánh giá khách quan, công bằng, đánh giá HS còn cần hướng đến làm
tăng lòng tự tin, muốn tự hoàn thiện của các em. GVCN cần nhìn HS theo quan điểm
động và phát triển. Quan trọng nhất là GVCN cần phân biệt giữa đánh giá hành vi
và đánh giá nhân cách HS, tránh từ hành vi không mong đợi đơn lẻ của HS quy kết
thành đặc điểm nhân cách. Chuẩn nghề nghiệp GVTrH đã yêu cầu “Đánh giá kết quả
rèn luyện đạo đức của học sinh một cách chính xác, khách quan, công bằng và có tác
dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của học sinh” (Tiêu chí 21).
Qua khảo sát cho thấy:Đa số GVCN chưa đi vào chiều sâu đánh giá HS, mục đích của
đánh giá chỉ nhằm xếp loại, chưa quan tâm tư vấn cho HS những điểm mạnh, điểm
chưa hoàn thiện để HS tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng tiếp theo

năm học đối với các cơ sở giáo dục.
Một mặt, việc cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh
không chỉ là thực hiện yêu cầu từ góc độ quản lí hành chính, mặt khác cập nhật hồ sơ
học sinhđể theo dõi sự phát triển của các em và khi cần thiết có thể kịp thời can thiệp
điều chỉnh. Trong xã hội hiện đại HS gặp nhiều thách thức về tâm lí, tinh thần, trong
khi trong nhà trường nhìn chung chưa có đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng tâm lí
học đường, nên GVCN cần phải thực hiện chức năng tư vấn/ thậm chí là tham vấn để
HS tự giải quyết vấn đề bằng chính nội lực của mình.
6. Chức năng, nhiệm vụ của GVCN trong trường phổ thông ở một số nước[9].
6.1. Chức năng, nhiệm vụ của GVCN trong hệ thống giáo dục của Nhật và Trung quốc
có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam và khá nặng.Chức năng, nhiệm vụ của GVCN
đều có liên quan đến tổ chức, quản lý lớp học và chịu trách nhiệm về quá trình giáo
dục toàn diện HS. Một số chức năng, nhiệm vụ chính của GVCN là:
- Lãnh đạo, tổ chức, quản lý lớp chủ nhiệm theo các quy định của nhà nước và nhà
trường.
- Hướng dẫn, trợ giúp HS về mọi mặt trong học tập và đời sống tinh thần, các mối
quan hệ xã hội
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, kỉ luật cho HS.
- Thực hiện các chức năng tư vấn tâm lí, tình cảm nghề nghiệp cho HS.
- Trợ giúp BGH nhà trường trong việc thực hiện kế hoach giảng dạy và các chính
sách, biện pháp giáo dục.
- Cùng chia sẻ trách nhiệm giáo dục HS với cha mẹ HS.
Ở Nhật Bản, GVCN còn có trách nhiệm với HS trong thời gian các em không ở
trong trường, nếu HS có vấn đề gì như tai nạn, hoặc liên quan đến pháp luật, cảnh sát
không chỉ liên hệ với gia đình mà còn báo cho cả GVCN.
6.2. Còn ở các nước như Mỹ, Úc, GVCN hướng dẫn HS có thể nhận được sự trợ
giúp, hướng dẫn từ nhiều nguồn khác nhau, không chỉ duy nhất là GVCN nên công tác
chủ nhiệm lớp đỡ phức tạp, nhưng GVCN chủ động và linh hoạt hơn. Hơn nữa sĩ số
HS trong lớp ở các nước này ít (không quá 25 HS) nên GVCN có điều kiện tiếp cận cá
nhân và hiểu HS thuận lợi hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status