ĐỀ TÀI: BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - 2 - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN
VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
********
(Tài liệu lưu hành nội bộ)
Quyển 2
Hà Nội, tháng 6/2011
Chủ biên : PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
Tham gia: PGS.TS. Đào Thị Oanh
TS. Vũ Thị Sơn
Ths. Nguyễn Thị Hằng
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
1. Học để biết ( kỹ năng nhận thức) 44
Hiểu thế nào là HIV/AIDS và văn bản pháp luật, quy định liên quan 44
Nắm bắt được các thông tin trên thế giới về HIV/AIDS 44
Hiểu được mối quan hệ giữa HIV và các yếu tố khác trong xã hội như: đói nghèo, quyền
con người, bất ổn xã hội 44
Hiểu được những tác động của HIV/AIDS với xã hội (bất ổn xã hội, chi phí y tế, ) và cá
nhân (bệnh tật, tuổi thọ, sức khỏe, khả năng miễn dịch…) 44
Sự cần thiết có kiến thức và kỹ năng về HIV/AIDS và phòng tránh HIV/AIDS cho bản
thân và ở cộng đồng hướng đến một xã hội phát triển bền vững như : 44
‘Tình dục an toàn’ là gì? 44
‘Sử dụng kim tiêm an toàn’ là gì? 44
Liệu có bị nhiễm AIDS khi ‘tiếp xúc thông thường’ với người bị nhiễm bệnh không? 44
Cần làm gì nếu tôi có thể đã bị nhiễm HIV? 44
Sẽ làm gì nếu bạn biết ai đó bị nhiễm HIV hoặc AIDS? 44
2. Học để tự khẳng định (Chính là các các kỹ năng cá nhân) 44

lại chỗ viên đá được ném ra. Quả là có một đứa trẻ đang đứng giữa những chiếc xe đậu. Nhảy
bổ ra khỏi xe, không kịp quan sát xung quanh, ông tóm lấy đứa trẻ, đè gí nó vào một chiếc xe
gần đó và hét lên: “Mày làm cái quỷ gì thế hả?”. Cơn nóng giận bốc ngược lên đỉnh đầu, ông
tiếp: “Chiếc xe này mới toanh, mày sẽ phải trả cả đống tiền vì cái viên đá của mày đấy” 177
2
- “Làm ơn, thưa ông. Con xin lỗi. Con không biết làm cách gì khác hơn” – cậu bé van nài –
“Con ném viên đá là vì con đã từng vẫy ra hiệu nhưng không có một người nào dừng xe
lại…”. Nước mắt lăn dài trên má cậu bé khi nó chỉ tay về phía vỉa hè. “Nó là em con” – cậu
bé nói – “Chiếc xe lăn từ trên lề đường xuống, nó bị ngã ra khỏi xe lăn, nhưng con không thể
nâng nó dậy nổi”. Vừa thổn thức, cậu bé vừa năn nỉ: “Ông làm ơn giúp con đặt nó vào xe lăn.
Nó đang bị đau, và nó quá nặng đối với con”.
Tiến lại chỗ đứa bé bị ngã, người đàn ông cố gắng nuốt trôi cái gì đó đang chẹn ngang cổ
họng mình. Ông ta nâng đứa bé lên đặt vào chiếc xe lăn rồi rút khăn ra cố lau sạch các vết bẩn
và kiểm tra mọi thứ cẩn thận một cách ngượng nghịu.
- “Cám ơn rất nhiều, ông thật tốt bụng”.Đứa trẻ nói với ông cùng ánh nhìn biết ơn rồi đẩy em
nó đi. Người đàn ông đứng nhìn mãi, sau cùng cũng chậm bước đi về phía xe của mình. Đoạn
đường dường như quá dài 178
Về sau, dù đã nhiều lần đưa xe đi sơn, sửa lại, nhưng ông vẫn giữ lại vết lõm ngày nào như
một lời nhắc nhở bản thân suốt cả cuộc đời 178
Đôi khi, bạn không có thời gian để lắng nghe cho đến khi có một “viên đá” ném vào mình.
Bạn sẽ chọn điều gì: Lắng nghe hay là chờ một viên đá?! 178
Mục tiêu 195
Giải thích được lí do vì sao nhà trường, GVCN cần kết hợp với CMHS trong công tác giáo
dục 196
Giải thích những nội dung cơ bản của công tác kết hợp với CMHS 196
Xác định những yêu cầu về tổ chức họp CMHS của lớp 196
Xác định những yêu cầu về sự liên lạc giữa GVCN và CMHS 196
Thực hành các bước xây dựng kế hoạch tổ chức họp Chi Hội CMHS của lớp. 196
Tin tưởng vào lợi ích của sự phối hợp với CMHS 196
Sẵn sàng thu hút CMHS vào các hoạt động của lớp và nhà trường 196

đọc cho GVCN
Tài liệu dành cho GVCN tự đọc này bao gồm những nội dung sau:
1. Vai trò, chức năng của GVCN
4
2. GVCN vừa là nhà GD vừa là nhà quản lý tập thể HS.
3. Nhận thức hậu quả sự thiếu trách nhiệm của GVCN
4. Đặc điểm nhân cách của HS THCS/ THPT hiện nay
5. Kĩ năng giáo dục học sinh cá biệt và HS có hành vi không mong đợi
6. Kĩ năng lắng nghe tích cực và cảm thông
7. Kĩ năng tạo động lực học tập và hoàn thiện nhân cách cho HS
8. Kĩ năng quan hệ, hợp tác với phụ huynh HS
Tài liệu được sử dụng để GVCN tự học cho nên ở mỗi vấn đề chúng tôi đều xác
định mục tiêu, nội dung cơ bản, câu hỏi để GVCN trả lời và tự đánh giá mức độ nắm
vấn đề của bản thân. Trong phần nội dung, tùy từng vấn đề các tác giả cố gắng hướng
vào trả lời 3 câu hỏi cốt lõi sau:
1. Vì sao phải làm việc này? Nội dung trả lời cho câu hỏi này đề cập đến
những luận cứ lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao nhận thức cho giáo viên chủ
nhiệm lớp
2. Làm cái gì? (Nội dung phải làm)
3. Làm như thế nào? ( Cách thức thực hiện)
Nội dung trả lời cho 2 câu hỏi sau nhằm nâng cao năng lực cho GVCN
Đăc biệt là nội dung tài liệu đãcập nhật những cách tiếp cận phù hợp với đổi mới tư
duy “hướng vào người học” trong giáo dục hiện nay
Chắc chắn cuốn tài liệu này còn những điều chưa đáp ứng nhu cầu của GVCN.
Rất mong được sự chia sẻ, góp ý của những người đọc và sử dụng.
Thay mặt nhóm tác giả
Chủ biên
PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
5
MỤC LỤC

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1

A. MỤC TIÊU
Sau khi đọc xong nội dung này GVCN trình bày được:
1. Vị trí, vai trò của người GVCN lớp trong trường trung học
2. Chức năng và nhiệm vụ của người GV được quy định trong văn bản pháp lí
và thực tiễn giáo dục
3. Yêu cầu về đạo đức và năng lực đối với người GVCN.
B. NỘI DUNG
1.Phân biệt GVCN và công tác GVCN
Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức
để giảng dạy và giáo dục học sinh là lớp học. Hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo
lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc Comenxki đề xướng. Để
quản lý lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang giảng dạy làm chủ
nhiệm lớp. Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) được hiệu trưởng lựa chọn từ những GV có
kinh nghiệm giáo dục, có uy tín trong học sinh, được Hội đồng giáo dục nhà trường
nhất trí phân công chủ nhiệm các lớp học xác định để thực hiện mục tiêu giáo dục.
Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người
làm công tác chủ nhiệm lớp, còn nói công tác chủ nhiệm lớp là đề cập đến những
nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm.
2. Vị trí, vai trò của GVCN
1
Nguyễn Thanh Bình-Viện Nghiên cứu sư phạm – Trường ĐHSP Hà Nội
8
2.1. GVCN là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay mặt
hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ học sinh (CMHS) quản lý và chịu trách
nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức thực
hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp.

theo tôn chỉ, mục đich của từng tổ chức, đồng thời kết hợp với các hoạt động giáo dục
trong kế hoạch của lớp sẽ đem lại hiệu quả cao.
2.4. Trong quan hệ với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường, GVCN
là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách học sinh và là cầu nối giữa
gia đình, nhà trường và xã hội.
9
GVCN vừa đưa ra những định hướng, mục tiêu phát triển, giáo dục HS vừa
phải tổ chức phối hợp với các lực lượng xã hội có liên quan nhằm thực hiện mục tiêu
giáo dục của lớp chủ nhiệm, giáo dục HS hiệu quả.
Giáo viên chủ nhiệm cũng là người triển khai những yêu cầu giáo dục của nhà
trường đến với gia đình, cha mẹ học sinh, đồng thời cũng là người tiếp nhận các
thông tin phản hồi từ học sinh, gia đình học sinh, các dư luận xã hội về học sinh trở lại
với nhà trường để giúp lãnh đạo nhà trường có giải pháp quản lý, phối hợp hiệu quả,
đồng thời tạo lập mối liên hệ thông tin đa chiều giữa nhà trường – gia đình học sinh –
xã hội.
3. Chức năng của người GVCN.
Trong lí luận GDH truyền thống công tác chủ nhiệm lớp chủ yếu được xem xét
từ bình diện của giáo dục học (GDH), mà ít được quan tâm phân tích từ bình diện quản
lí, trong khi đó hai chức năng này bổ trợ và quy định lẫn nhau.GVCN thực hiện chức
năng quản lí toàn diện tập thể lớp để thực hiện chức năng giáo dục từng cá nhân có
hiệu quả.
Vì vậy, cần quan tâm tìm hiểu chức năng lãnh đạo, tổ chức, quản lí của người
GVCN. Chức năng lãnh đạo và quản lí là không giống nhau. Người quản lý có chức
năng tổ chức thực hiện để đạt mục tiêu, còn lãnh đạo có chức năng định ra đường lối,
chiến lược và phương pháp hoạt động, đồng thời tác động, ảnh hưởng, động viên
người bị lãnh đạo thực hiện mục đích chung. Tuy vậy, cả hai chức năng này được tích
hợp hài hòa ở chủ thể quản lý là người GVCN. Người GVCN thực hiện chức năng
quản lí khi là đại diện cho Hiệu trưởng, Hội đồng nhà trường thực hiện các chủ trương,
kế hoạch chung của trường, nhưng lại là người lãnh đạo khi phải xác định tầm nhìn
cho sự phát triển của HS trong lớp chủ nhiệm với tư cách là người đứng đầu một tập

Như vậy nhiệm vụ của GV chủ nhiệm lớp được quy định trong các văn bản pháp
lí của Bộ GD & ĐT còn sơ sài mới chỉ ở khía cạnh tìm hiểu, nắm vững và tác động
phù hợp đến HS ( phản ánh chức năng giáo dục); phối hợp với các lực lượng giáo dục
( phản ánh chức năng tổ chức, điều phối); đánh giá, hoàn thành hồ sơ HS và cung cấp
thông tin phản hồi cho lãnh đạo nhà trường ( Thực hiện chức năng quản lí).
4.2. Những công việc GVCN phải thực hiện trong thực tế
Trên thực tế, GVCN phải thực hiện rất nhiều công việc. Hầu hết giáo viên cho
rằng, công tác chủ nhiệm lớp là công việc bận rộn, vừa dễ vừa khó, vừa đơn giản vừa
phức tạp, là một công việc khó khăn vất vả và chiếm nhiều thời gian, sức lực của mỗi
giáo viên. Tùy theo quan niệm về trách nhiệm của GVCN và tâm huyết nghề nghiệp mà
mỗi GVCN thực hiện công tác chủ nhiệm ở các mức độ và theo những cách đa dạng
khác nhau.
Quan niệm công tác chủ nhiệm là dễ và đơn giản nếu người GVCN chỉ thực hiện
có chừng mực những công việc được quy định trong công tác chủ nhiệm lớp, lặp đi lặp
lại với những công việc như: làm việc theo kế hoạch chung, theo đợt phát động và tổng
kết thi đua, tham dự những tiết chào cờ, tổ chức những giờ sinh hoạt lớp hàng tuần, tổ
chức những buổi họp phụ huynh học sinh trong từng học kì, đôi khi gặp gỡ trao đổi với
cha mẹ và HS cá biệt, đánh giá HS, ghi sổ chủ nhiệm, sổ liên lạc, phê học bạ hay thu
tiền học phí,…
Bên cạnh đó, lại có những GVCN làm những việc thấy cần phải làm vì HS với tâm
huyết, tinh thần trách nhiệm cao.Những GVCN như vậy sẽ thấy công tác chủ nhiệm vô
cùng khó khăn và phức tạp, chiếm nhiều thời gian và tâm trí của họ.
Khái quát những công việc mà GVCN lớp đã làm trong thực tiễn giáo dục hiện
nay, bao gồm:
11
- Lập kế hoạch năm học dựa trên kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học chung
của nhà trường. Trên thực tế GVCN xây dựng kế hoạch còn mang tính hình thức, hoặc
duy ý chí , chưa theo quy trình khoa học, có tính đến các yếu tố mục tiêu, điều kiện…
nên tính khả thi và hiệu quả còn hạn chế. Do đó, nảy sinh nhu cầu từ thực tế của GVCN
và các các nhà quản lý GD là cần trang bị năng lực ( kĩ năng) xây dựng các loại kế

Cách nhìn nhận và đánh giá học sinh của đa số GVCN hiện nay vẫn theo nếp cũ,
đơn giản học sinh ngoan là phải biết nghe lời. Một số GVCN cũng chưa có ý thức
nâng cao năng lực chủ nhiệm của mình, nâng cao những hiểu biết về xã hội, hiểu biết
về thế hệ trẻ mà mình đang có trọng trách giáo dục.Từ đó dẫn đến những đánh giá về
12
học sinh còn chưa đầy đủ, phiến diện và thiếu khách quan.(Trích trong báo cáo hội
thảo về GVCN của GV trường THPT Hưng yên).[6]
- Quản lí, giám sát việc ghi chép, bảo quản các loại hồ sơ của HS theo quy định
của trường ( Sổ lên lớp hàng ngày, Sổ điểm lớp (Lý lịch trích ngang của học sinh, kiểm
diện, điểm số, hạnh kiểm,… ) Kế hoạch học tập của lớp theo học kỳ, năm học; Thời
khoá biểu lớp (diễn biến học tập của học kì và cả năm, phân công giảng dạy), sổ liên lạc,
học bạ (giám sát các giáo viên ghi sổ học bạ, GVCN viết nhận xét và xếp loại học lực,
hạnh kiểm,…)
5. Các yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm lớp hiện nay
5.1. Về đạo đức nghề nghiệp
Nếu như GV dạy các môn học quan tâm nhiều hơn đến kết quả nắm kiến thức
và khả năng vận dụng kiến thức đó thì người GVCN thực sự là nhà giáo dục, ảnh
hưởng của họ đến nhân cách HS đến hiệu quả giáo dục còn lớn hơn cả người Hiệu
trưởng. Chính vì vậy mức độ phát triển nhân cách, đạo đức nghề nghiệp của người
GVCN rất quan trọng, tác động của nó đến kết quả giáo dục không thua kém gì năng
lực sư phạm, vì đặc thù của nghề này là nhân cách, đạo đức GV cũng trở thành
phương tiện giáo dục.
Những yêu cầu về nhân cách, đạo đức người GV, kể cả những điều cấm GV
không được vi phạm đã được đề cập ở nhiều văn bản pháp quy từ Luật cho đến những
văn bản dưới Luật.
Người GVCN tối thiểu cũng phải đảm bảo những yêu cầu về đạo đức, nhân
cách đã được quy định trong các văn bản này. Cụ thể là:
Điều 72. Nhiệm vụ của nhà giáo trong Luật giáo dục (2005) đã quy định[7]:
• Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và
có chất lượng chương trình giáo dục.

nghiệp và cộng đồng.
2. Tận tụy với công việc, thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị,
nhà trường, của ngành.
3. Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của
người học, thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.
4. Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc, thường xuyên
học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.
Điều 5. Lối sống, tác phong
1. Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn
đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
2. Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp với bản sắc dân tộc và thích ứng
với sự tiến bộ của xã hội, biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn
minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ.
3. Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học, có thái độ văn minh,
lịch sự trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học, giải quyết
công việc khách quan, tận tình, chu đáo.
4. Trang phục, trang sức khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự,
phù hợp với nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học.
14
5. Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, đấu tranh, ngăn
chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp. Quan hệ, ứng xử
đúng mực, gần gũi với nhân dân, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp và người học, kiên
quyết đấu tranh với các hành vi trái pháp luật.
6. Xây dựng gia đình văn hoá, thương yêu, quý trọng lẫn nhau, biết quan tâm đến
những người xung quanh, thực hiện nếp sống văn hoá nơi công cộng.
Điều 6. Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo
1. Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy
chế, quy định, không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân.

từng năm học để phối hợp tổ chức các hoạt động lôi cuốn HS tham gia nhằm giáo dục HS,
cũng như góp phần phát triển cộng đồng.
5.3. Thu thập và xử lý thông tin đa dạng về lớp chủ nhiệm để xây dựng hồ sơ học
sinh và lập kế hoạch phát triển tập thể. GVCN cần tìm hiểu đặc điểm cá nhân, đặc điểm
phát triển trí tuệ, xã hội, xúc cảm- tình cảm và thể chất của học sinh, hoàn cảnh học sinh
lớp mình phụ trách để hiểu rõ đặc điểm chung về tập thể lớp chủ nhiệm cũng như những
đặc điểm riêng, nhu cầu của từng cá nhân HS. Trên cơ sở đó tìm ra những cách tiếp cận,
để thiết kế nội dung và chiến lược giáo dục, phương pháp tác động phù hợp, cũng như
khuyến khích kỉ luật tích cực và ý thức tự giáo dục ở mỗi HS. Đây là một trong những
biểu hiện của quan điểm trong giáo dục “Hướng vào học sinh” hay là “ Học sinh là
trung tâm”
Để làm được việc này có hiệu quả, GVCN cần có kĩ năng sử dụng các phương
pháp thu thập và xử lí thông tin đa dạng đảm bảo tính khách quan. Chính vì vậy Chuẩn
nghề nghiệp GVTrH đã yêu cầu GV phải có năng lực tìm hiểu đối tượng, có phương
pháp thu thập và xử lí thông tin thường xuyên về nhu cầu và đặc điểm của học sinh, sử
dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục(Tiêu chí 6.).
Thông qua tìm hiểu thực trạng hoạt động nghề nghiệp của GV chủ nhiệm lớp ở
trường THPT cho thấy: cách thức điều tra phổ biến là: ở khối đầu cấp (khối 10),
GVCN thường xem lại học bạ của các học sinh ở lớp dưới , xem lại điểm tuyển sinh có
trong hồ sơ học sinh. Ở các lớp trên ( lớp 11,12) GVCN tìm hiểu kết quả học tập và
rèn luyện của học sinh lớp dưới qua trao đổi với GVCN lớp cũ. Ngoài ra, GVCN còn
tìm hiểu học sinh thông qua phần tự khai của các em. GVCN đến tận nhà, tiếp xúc với
cha mẹ học sinh để tìm hiểu về các em, nhìn chung hiện nay ít được sử dụng [2]. Vì
vậy, GVCN cần được hướng dẫn phương pháp thu thập thông tin về HS và hoàn cảnh
gia đình một cách đầy đủ, khách quan, chính xác.
5.4. Với chức năng quản lí, GVCN phải biết lập kế hoạch năm học và các kế hoạch
giáo dục ngắn hạn khác để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục, các chủ
trương, nhiệm vụ nhà trường giao cho. Đây là nhiệm vụ trung tâm của GV chủ nhiệm lớp
nhằm tổ chức có hiệu quả các hoạt động GD học sinh lớp chủ nhiệm. Lâu nay việc lập kế
hoạch còn mang tính hình thức, bây giờ GVCN cần có kĩ năng lập kế hoạch khoa học hơn,

chuẩn nghề nghiệp GV đã yêu cầu GV “Tạo dựng môi trường học tập: dân chủ, thân
thiện, hợp tác, cộng tác, thuận lợi, an toàn và lành mạnh”. (Tiêu chí 13). Trong tập thể
như vậy, GVCN giáo dục động cơ học tập, giá trị, hành vi tích cực, lành mạnh cho HS
thuận lợi hơn. Sứ mạng của người GV trong thế kỉ XXI là phải biết khơi dậy nhu cầu
học hỏi và tự hoàn thiện của HS.
Thông qua tìm hiểu thực trạng hoạt động nghề nghiệp của GV chủ nhiệm lớp ở
trường THPT cũng cho thấy: GV quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lớp để thực hiện
nhiệm vụ tự quảnnhưng lại chưa quan tâm đến việc xây dựng dư luận tập thể lành
mạnh.Vì vậy, đa số cán bộ lớp bị áp lực giữa một bên là GV và một bên là sự không
đồng thuận của đa số HS trong lớp[6]. Cần phải giúp GVCN nhận thức được sự thống
nhất giữa xây dựng tập thể phát triển với văn hóa tổ chức của nó và xây dựng môi
trường học tập thân thiện cũng như biết cách triển khai nhiệm vụ này trong thực tiễn.
5.6. Tổ chức các hoạt động giáo dục và các hình thức giao lưu đa dạng. Bên cạnh
việc sử dụng hệ thống các mối quan hệ và các giá trị, truyền thống trong tập thể để
giáo dục HS, GVCN còn phải tổ chức giờ sinh hoạt lớp, hoạt động GD ngoài giờ lên
lớp theo chủ đề và các loại hình hoạt động GD đa dạng khác phù hợp với mục tiêu
giáo dục của hoạt động (mục tiêu trội mà hoạt động đó có ưu thế và mục tiêu giáo dục
toàn diện mà hoạt động đó có tiềm năng). Đây là một nhiệm vụ cơ bản của
GVCN.Thông qua tổ chức các loại hình hoạt động phong phú, đa dạng để giáo dục
17
hành vi, thói quen ứng xử văn hóa cho HS về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mĩ, lao động…đồng thời, qua đó phát triển tập thể lớp và từng HS. Tiêu chí 18 trong
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên TrH yêu cầu GV “Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các
hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng” và “Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua
các hoạt động trong cộng đồng như: lao động công ích, hoạt động xã hội theo kế
hoạch đã xây dựng” (Tiêu chí 19). Trong xã hội hiện đại, GVCN rất cần chú trọng
giáo dục những giá trị sống và kĩ năng sống (KNS) cho HS để các em có thể tránh
được những rủi ro, vượt qua những thách thức trong cuộc sống. Cần phối hợp tổ chức
các chủ đề giáo dục những KNS phù hợp với từng lứa tuổi, vùng miền và giáo dục
KNS theo tiếp cận Bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI “ Học để biết, Học để làm,

trường giáo dục, tổ chức giáo dục và đánh giá học sinh. GVCN thường xuyên cần kết
hợp với GV bộ môn để giáo dục HS và tổ chức hoạt động tự học nhằm không ngừng
nâng cao chất lượng học tập cho HS lớp mình.GVCN cũng phải phối hợp với tổ chức
Đoàn, các tổ chức xã hội khác để GD đạo đức, nề nếp, lối sống cho học sinh; tổ chức
và đưa HS vào hoạt động xã hội.Đặc biệt, GVCN cần phối hợp với cha mẹ HS để xây
dựng môi trường giáo dục lành mạnh, dựa trên tình cảm, quan hệ huyết thống, tác
động giáo dục đến con, em theo mục tiêu giáo dục, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện
của HS. Quy chế đánh giá xếp loại học sinh THCS và THPT ban hành theo Quyết định
số 40/2006/ QĐ-BGDDT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT)
cũng quy định trách nhiệm GVCN phải “Phối hợp với Đội Thiếu niên tiền phong Hồ
Chí Minh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Ban Đại diện cha mẹ học sinh
của lớp để tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh” ( Điều 19), đồng thờiChuẩn nghề
nghiệp GVTrH cũng yêu cầu GV “Phối hợp với gia đình và cộng đồng trong hỗ trợ,
giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh và góp phần huy động
các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường” (Tiêu chí 22). GVCN phối hợp
với các lực lượng xã hội để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và tổ chức các
hoạt động giáo dục HS.
Qua điều tra cho thấy: GVCNphối hợp nhiều nhất với cán bộ Đoàn trường, sau đó là
với cha mẹ HS để thông báo về tình hình học tập, hạnh kiểm của học sinh.Đôi khi
GVCN có phối hợp với GV môn học và Ban đại diện cha mẹ HS…
Theo Điều lệ nhà trường GV chủ nhiệm có quyền dự các giờ học, hoạt động giáo
dục khác của học sinh lớp, trên thực tế GVCN chưa thực hiện quyền này để hiểu và
phối hợp với các GV khác giáo dục, phát triển tập thể lớp chủ nhiệm.
5.10. Cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinhbằng công nghệ
thông tin. Bộ GD-ĐT cũng quy định về hồ sơ học sinh, sinh viên và ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ học sinh, sinh viên (Ban hành kèm theo Quyết
định số 58/2007/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 10 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo). Việc tổ chức ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin trong công
tác quản lí học sinh, sinh viên ở các trường là một trong những tiêu chuẩn xét thi đua
năm học đối với các cơ sở giáo dục.

Ở Úc GVCN cần quan tâm đảm bảo môi trường an toàn, thuận lợi cho HS học tập,
đồng thời GVCN phải lập hồ sơ cá nhân của từng HS để theo dõi quá trình phát triển,
tiến bộ của từng em. Ở cả Úc và Mỹ, GVCN cần phát hiện kịp thời những vấn đề, khó
khăn của HS và phối hợp với chuyên gia tư vấn, cán bộ xã hội, các đơn vị trợ giúp
khác để chăm sóc sức khỏe tinh thần cho HS. Do được chia sẻ trách nhiệm nên GVCN
ở các nước này thường tập trung vào giám sát, quản lý lớp học, hỗ trợ chung cho các
hoạt động học tập chính khóa và ngoại khóa của HS.
20
21
22
23
24
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status