1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN
VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
********
(Tài liệu lưu hành nội bộ)
Quyển 2
Chủ biên : PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
Tham gia: PGS.TS. Đào Thị Oanh
TS. Vũ Thị Sơn
Ths. Nguyễn Thị Hằng
Hà Nội, tháng 6/2011
LỜI MỞ ĐẦU
Trước thực tế chất lượng giáo dục nhân cách HS và giáo viên chủ nhiệm gặp nhiều khó
khăn trong việc quản lí và giáo dục HS, Vụ TrH, Bộ GD-ĐT đã tổ chức Hội thảo về nâng cao
năng lực công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học tại TP Đà Lạt, tháng 01/2011 nhằm thăm
dò nhu cầu về nội dung bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GVCN ngay trong dịp hè năm 2011.
Theo đó có13 kĩ năng được chọn ở mức độ ưu tiên hơn (đa số ý kiến cho là rất cần) đó là:
Nhóm kĩ năng giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi công tác chủ nhiệm
Vai trò, chức năng của GVCN vừa là nhà GD vừa là nhà quản lý tập thể HS
Kĩ năng tổ chức giáo dục KNS cho HS
2
Kĩ năng ngăn ngừa và giải quyết những xung đột trong tập thể lớp
Kĩ năng tổ chức giờ sinh hoạt lớp
Kĩ năng giáo dục học sinh cá biệt và HS có hành vi không mong đợi
Kĩ năng xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp ( kế hoạch năm, học kì, tháng, tuần)
Kĩ năng xử lí tình huống giáo dục
Kỹ năng tìm hiểu đặc điểm học sinh
Đặc điểm tâm lí- xã hội của HS THCS/ THPT hiện nay
Chủ biên
PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
MỤC LỤC
Nội dung Trang
1. Vai trò, chức năng của GVCN
GVCN vừa là nhà GD vừa là nhà quản lý tập thể HS.
Nhận thức hậu quả sự thiếu trách nhiệm của GVCN
Đặc điểm nhân cách của HS THCS/ THPT hiện nay
Kĩ năng giáo dục học sinh cá biệt và HS có hành vi không mong đợi
Kĩ năng lắng nghe tích cực và cảm thông
Kĩ năng tạo động lực học tập và hoàn thiện nhân cách cho HS
Kĩ năng quan hệ, hợp tác với phụ huynh HS
Một số từ viết tắt
1 Ban giám hiệu BGH
3
2 Cha mẹ học sinh CMHS
3 Kĩ năng hợp tác KNHT
5 Hoạt động ngoài giờ lên lớp HĐNGLL
6 Hoạt động giáo dục HĐGD
7 Học sinh HS
8 Hội đồng giáo dục HĐGD
9 Giáo dục-Đào tạo GD-ĐT
10 Giáo viên GV
11 Giáo viên chủ nhiệm GVCN
12 Giáo viên trung học GV TrH
13 Giáo dục GD
14 Giáo dục học GDH
15 Giáo dục và thời đại GD & TĐ
16 Lực lượng giáo dục LLGD
17 Thanh niên cộng sản TNCS
những chủ trương, kế hoạch đào tạo của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể
lớp và của mỗi học sinh.
4
Mỗi giáo viên chủ nhiệm còn là một thành viên tham mưu của Hội đồng sư phạm có
trách nhiệm phản ánh đầy đủ thông tin về lớp chủ nhiệm cũng như từng thành viên trong tập thể
lớp, đề xuất các giải pháp giáo dục học sinh, giúp cán bộ quản lý, lãnh đạo nhà trường đưa ra các
định hướng, giải pháp quản lý, giáo dục học sinh hiệu quả.
2.2. Đối với HS và tập thể lớp, GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi nhất,
người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng
xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản là cán bộ lớp, cán bộ Đoàn và tính
tự giác của mọi HS trong lớp.
Giáo viên chủ nhiệm lớp còn là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng học sinh của lớp
phản ánh với hiệu trưởng, với các tổ chức trong nhà trường và với các giáo viên bộ môn.Giáo
viên chủ nhiệm với tư cách là đại diện cho lớp còn có trách nhiệm bảo vệ, bênh vực quyền lợi
mọi mặt học sinh của lớp.
Ví dụ: những oan ức, sự hiểu lầm của thầy, cô giáo vì một lẽ nào đó. Ai là người giúp các em
giải tỏa những băn khoăn vướng mắc trong những quan hệ như vậy, không ai tốt hơn là giáo viên
chủ nhiệm.
Như vậy, GVCN là cầu nối giữa hiệu trưởng (Ban giám hiệu), giữa các tổ chức trong nhà
trường, giữa các giáo viên bộ môn với tập thể học sinh. Nói một cách khác, giáo viên chủ nhiệm
là người đại diện hai phía, một mặt đại điện cho Hội đồng sư phạm, mặt khác lại đại diện cho tập
thể học sinh trong quá trình thực hiện công tác chủ nhiệm lớp.
GVCN là người cố vấn cho công tác đội và công tác Đoàn ở lớp chủ nhiệm
GVCN giữ vai trò là người cố vấn cho Ban chỉ huy chi đội của lớp chủ nhiệm ở trường THCS,
và là người cố vấn cho Ban chấp hành chi đoàn ở trường THPT.
GVCN có thể tư vấn cho đội ngũ này về việc lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động theo tôn chỉ,
mục đich của từng tổ chức, đồng thời kết hợp với các hoạt động giáo dục trong kế hoạch của lớp
sẽ đem lại hiệu quả cao.
2.4. Trong quan hệ với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường, GVCN là
nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách học sinh và là cầu nối giữa gia đình, nhà
Chức năng quản lí và chức năng giáo dục,
Tổ chức các hoạt động GD và các quan hệ của HS theo định hướng phát triển toàn diện nhân
cách
Giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân,
- Tập thể phát triển với môi trường học tập thân thiện [2].
4. Nhiệm vụ của GVCN
4.1.Nhiệm vụ của GV CN lớp được quy định trong các văn bản pháp lí [5].
a.Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối
tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của mọi học sinh.
b. Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội
có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp.
c.Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ
luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện
thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ.
d.Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng
Trong 3 năm học gần đây khi thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa THPT, thì GV chủ
nhiệm còn có thêm nhiệm vụ: “Theo dõi tình hình tổ chức dạy và học tự chọn của lớp mình phụ
trách; Theo dõi kết quả học tập tự chọn của học sinh, tổng kết, xếp loại và ghi kết quả học tập
của HS theo quy định” [4].
Như vậy nhiệm vụ của GV chủ nhiệm lớp được quy định trong các văn bản pháp lí của
Bộ GD & ĐT còn sơ sài mới chỉ ở khía cạnh tìm hiểu, nắm vững và tác động phù hợp đến HS
( phản ánh chức năng giáo dục); phối hợp với các lực lượng giáo dục ( phản ánh chức năng tổ
chức, điều phối); đánh giá, hoàn thành hồ sơ HS và cung cấp thông tin phản hồi cho lãnh đạo nhà
trường ( Thực hiện chức năng quản lí).
4.2. Những công việc GVCN phải thực hiện trong thực tế
Trên thực tế, GVCN phải thực hiện rất nhiều công việc. Hầu hết giáo viên cho rằng, công
tác chủ nhiệm lớp là công việc bận rộn, vừa dễ vừa khó, vừa đơn giản vừa phức tạp, là một công
việc khó khăn vất vả và chiếm nhiều thời gian, sức lực của mỗi giáo viên. Tùy theo quan niệm về
trách nhiệm của GVCN và tâm huyết nghề nghiệp mà mỗi GVCN thực hiện công tác chủ nhiệm
bộ lớp là những người được GVCN bồi dưỡng năng lực tổ chức và quản lý tập thể lớp để đảm
bảo sự thống nhất giữa quản lý của GVCN và tự quản của HS.
Xây dựng tập thể HS phát triển và thân thiện vừa là mục đích vừa là phương tiện để giáo
dục nhân cách từng HS, đồng thời đưa tập thể đến trạng thái phát triển cao hơn là nhiệm vụ của
GVCN. Nguyên tắc giáo dục trong tập thể bằng tập thể cần được quán triệt trong công tác chủ
nhiệm lớp.
- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nội dung, hoạt động giáo dục toàn diện (hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp theo chương trình, hoạt động sinh hoạt dưới cờ, giờ sinh hoạt lớp, hoạt
động tư vấn trong công tác hướng nghiệp, dạy nghề…)
- Liên kết với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để đảm bảo sự thống nhất
trong giáo dục học sinh và tăng cường sức mạnh đồng bộ nhằm đem lại hiệu quả.
- Đánh giá kết quả giáo dục và học tập của HS lớp chủ nhiệm trong suốt quá trình cũng như khi
sơ kết, tổng kết năm học.
Cách nhìn nhận và đánh giá học sinh của đa số GVCN hiện nay vẫn theo nếp cũ, đơn giản học
sinh ngoan là phải biết nghe lời. Một số GVCN cũng chưa có ý thức nâng cao năng lực chủ
nhiệm của mình, nâng cao những hiểu biết về xã hội, hiểu biết về thế hệ trẻ mà mình đang có
trọng trách giáo dục.Từ đó dẫn đến những đánh giá về học sinh còn chưa đầy đủ, phiến diện và
thiếu khách quan.(Trích trong báo cáo hội thảo về GVCN của GV trường THPT Hưng yên).[6]
- Quản lí, giám sát việc ghi chép, bảo quản các loại hồ sơ của HS theo quy định của trường ( Sổ
lên lớp hàng ngày, Sổ điểm lớp (Lý lịch trích ngang của học sinh, kiểm diện, điểm số, hạnh
kiểm,… ) Kế hoạch học tập của lớp theo học kỳ, năm học; Thời khoá biểu lớp (diễn biến học tập
của học kì và cả năm, phân công giảng dạy), sổ liên lạc, học bạ (giám sát các giáo viên ghi sổ
học bạ, GVCN viết nhận xét và xếp loại học lực, hạnh kiểm,…)
5. Các yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm lớp hiện nay
5.1. Về đạo đức nghề nghiệp
Nếu như GV dạy các môn học quan tâm nhiều hơn đến kết quả nắm kiến thức và khả
năng vận dụng kiến thức đó thì người GVCN thực sự là nhà giáo dục, ảnh hưởng của họ đến
nhân cách HS đến hiệu quả giáo dục còn lớn hơn cả người Hiệu trưởng. Chính vì vậy mức độ
phát triển nhân cách, đạo đức nghề nghiệp của người GVCN rất quan trọng, tác động của nó đến
kết quả giáo dục không thua kém gì năng lực sư phạm, vì đặc thù của nghề này là nhân cách, đạo
3. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã
hội.
Điều 4. Đạo đức nghề nghiệp
1. Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo, có tinh
thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác, có lòng nhân
ái, bao dung, độ lượng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng.
2. Tận tụy với công việc, thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường,
của ngành
3. Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người
học, thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.
4. Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc, thường xuyên học tập
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.
Điều 5. Lối sống, tác phong
1. Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với
động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh.
2. Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp với bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ
của xã hội, biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê
phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ.
3. Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học, có thái độ văn minh, lịch sự trong
quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học, giải quyết công việc khách quan,
tận tình, chu đáo.
4. Trang phục, trang sức khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự, phù hợp với
nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học.
5. Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, đấu tranh, ngăn chặn những
hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp. Quan hệ, ứng xử đúng mực, gần gũi với
nhân dân, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp và người học, kiên quyết đấu tranh với các hành vi
trái pháp luật.
học kì để vận dụng vào việc tổ chức hoạt động giáo dục HS. Ngoài ra, GVCN còn phải tính đến
các hoạt động văn hóa, chính trị, xã hội của địa phương trong từng năm học để phối hợp tổ chức
các hoạt động lôi cuốn HS tham gia nhằm giáo dục HS, cũng như góp phần phát triển cộng đồng.
5.3. Thu thập và xử lý thông tin đa dạng về lớp chủ nhiệm để xây dựng hồ sơ học sinh và lập
kế hoạch phát triển tập thể.
GVCN cần tìm hiểu đặc điểm cá nhân, đặc điểm phát triển trí tuệ, xã hội, xúc cảm- tình
cảm và thể chất của học sinh, hoàn cảnh học sinh lớp mình phụ trách để hiểu rõ đặc điểm chung
về tập thể lớp chủ nhiệm cũng như những đặc điểm riêng, nhu cầu của từng cá nhân HS. Trên cơ
sở đó tìm ra những cách tiếp cận, để thiết kế nội dung và chiến lược giáo dục, phương pháp tác
động phù hợp, cũng như khuyến khích kỉ luật tích cực và ý thức tự giáo dục ở mỗi HS. Đây là
một trong những biểu hiện của quan điểm trong giáo dục “Hướng vào học sinh” hay là “ Học
sinh là trung tâm”
Để làm được việc này có hiệu quả, GVCN cần có kĩ năng sử dụng các phương pháp thu
thập và xử lí thông tin đa dạng đảm bảo tính khách quan. Chính vì vậy Chuẩn nghề nghiệp
GVTrH đã yêu cầu GV phải có năng lực tìm hiểu đối tượng, có phương pháp thu thập và xử lí
thông tin thường xuyên về nhu cầu và đặc điểm của học sinh, sử dụng các thông tin thu được vào
dạy học, giáo dục (Tiêu chí 6.).
Thông qua tìm hiểu thực trạng hoạt động nghề nghiệp của GV chủ nhiệm lớp ở trường
THPT cho thấy: cách thức điều tra phổ biến là: ở khối đầu cấp (khối 10), GVCN thường xem lại
học bạ của các học sinh ở lớp dưới, xem lại điểm tuyển sinh có trong hồ sơ học sinh. Ở các lớp
trên ( lớp 11,12) GVCN tìm hiểu kết quả học tập và rèn luyện của học sinh lớp dưới qua trao đổi
với GVCN lớp cũ. Ngoài ra, GVCN còn tìm hiểu học sinh thông qua phần tự khai của các em.
GVCN đến tận nhà, tiếp xúc với cha mẹ học sinh để tìm hiểu về các em, nhìn chung hiện nay ít
được sử dụng [2]. Vì vậy, GVCN cần được hướng dẫn phương pháp thu thập thông tin về HS và
hoàn cảnh gia đình một cách đầy đủ, khách quan, chính xác.
5.4. Với chức năng quản lí, GVCN phải biết lập kế hoạch năm học và các kế hoạch giáo dục
ngắn hạn khác để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục, các chủ trương, nhiệm vụ
nhà trường giao cho.
Đây là nhiệm vụ trung tâm của GV chủ nhiệm lớp nhằm tổ chức có hiệu quả các hoạt
động GD học sinh lớp chủ nhiệm. Lâu nay việc lập kế hoạch còn mang tính hình thức, bây giờ
vậy, GVCN giáo dục động cơ học tập, giá trị, hành vi tích cực, lành mạnh cho HS thuận lợi hơn.
Sứ mạng của người GV trong thế kỉ XXI là phải biết khơi dậy nhu cầu học hỏi và tự hoàn thiện
của HS.
Thông qua tìm hiểu thực trạng hoạt động nghề nghiệp của GV chủ nhiệm lớp ở trường
THPT cũng cho thấy: GV quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lớp để thực hiện nhiệm vụ tự
quảnnhưng lại chưa quan tâm đến việc xây dựng dư luận tập thể lành mạnh.Vì vậy, đa số cán bộ
lớp bị áp lực giữa một bên là GV và một bên là sự không đồng thuận của đa số HS trong lớp[6].
Cần phải giúp GVCN nhận thức được sự thống nhất giữa xây dựng tập thể phát triển với văn
hóa tổ chức của nó và xây dựng môi trường học tập thân thiện cũng như biết cách triển khai
nhiệm vụ này trong thực tiễn.
5.6. Tổ chức các hoạt động giáo dục và các hình thức giao lưu đa dạng
Bên cạnh việc sử dụng hệ thống các mối quan hệ và các giá trị, truyền thống trong tập thể
để giáo dục HS, GVCN còn phải tổ chức giờ sinh hoạt lớp, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp theo
chủ đề và các loại hình hoạt động GD đa dạng khác phù hợp với mục tiêu giáo dục của hoạt động
(mục tiêu trội mà hoạt động đó có ưu thế và mục tiêu giáo dục toàn diện mà hoạt động đó có
tiềm năng). Đây là một nhiệm vụ cơ bản của GVCN.Thông qua tổ chức các loại hình hoạt động
phong phú, đa dạng để giáo dục hành vi, thói quen ứng xử văn hóa cho HS về các mặt đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, lao động…đồng thời, qua đó phát triển tập thể lớp và từng HS. Tiêu chí
18 trong Chuẩn nghề nghiệp giáo viên TrH yêu cầu GV “Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các
hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng” và “Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các hoạt
động trong cộng đồng như: lao động công ích, hoạt động xã hội theo kế hoạch đã xây dựng”
(Tiêu chí 19). Trong xã hội hiện đại, GVCN rất cần chú trọng giáo dục những giá trị sống và kĩ
năng sống (KNS) cho HS để các em có thể tránh được những rủi ro, vượt qua những thách thức
trong cuộc sống. Cần phối hợp tổ chức các chủ đề giáo dục những KNS phù hợp với từng lứa
tuổi, vùng miền và giáo dục KNS theo tiếp cận Bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI “ Học để
biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình, Học để chung sống với mọi người”
Trên thực tế, đa số GV chủ nhiệm không thực hiện đầy đủ và thực hiện một cách hình thức các
chủ đề hoạt động ngoài giờ lên lớp.
5.7. Phát hiện kịp thời và ngăn ngừa những xung đột trong lớp
Sự bất hòa và những xung đột nảy sinh là điều khó tránh trong các mối quan hệ giữa các
xếp loại học sinh THCS và THPT ban hành theo Quyết định số 40/2006/ QĐ-BGDDT ngày 05
tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT) cũng quy định trách nhiệm GVCN phải “Phối
hợp với Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và
Ban Đại diện cha mẹ học sinh của lớp để tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh” ( Điều 19),
đồng thờiChuẩn nghề nghiệp GVTrH cũng yêu cầu GV “Phối hợp với gia đình và cộng đồng
trong hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh và góp phần huy động
các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường” (Tiêu chí 22). GVCN phối hợp với các
lực lượng xã hội để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và tổ chức các hoạt động giáo dục
HS.
Qua điều tra cho thấy: GVCNphối hợp nhiều nhất với cán bộ Đoàn trường, sau đó là với cha mẹ
HS để thông báo về tình hình học tập, hạnh kiểm của học sinh.Đôi khi GVCN có phối hợp với
GV môn học và Ban đại diện cha mẹ HS…
Theo Điều lệ nhà trường GV chủ nhiệm có quyền dự các giờ học, hoạt động giáo dục
khác của học sinh lớp, trên thực tế GVCN chưa thực hiện quyền này để hiểu và phối hợp với các
GV khác giáo dục, phát triển tập thể lớp chủ nhiệm.
5.10. Cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh bằng công nghệ thông
tin.
Bộ GD-ĐT cũng quy định về hồ sơ học sinh, sinh viên và ứng dụng công nghệ thông tin
trong quản lý hồ sơ học sinh, sinh viên (Ban hành kèm theo Quyết định số 58/2007/QĐ-BGDĐT
ngày 12 tháng 10 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). Việc tổ chức ứng dụng và
khai thác công nghệ thông tin trong công tác quản lí học sinh, sinh viên ở các trường là một
trong những tiêu chuẩn xét thi đua năm học đối với các cơ sở giáo dục.
Một mặt, việc cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh không chỉ
là thực hiện yêu cầu từ góc độ quản lí hành chính, mặt khác cập nhật hồ sơ học sinhđể theo dõi
sự phát triển của các em và khi cần thiết có thể kịp thời can thiệp điều chỉnh. Trong xã hội hiện
đại HS gặp nhiều thách thức về tâm lí, tinh thần, trong khi trong nhà trường nhìn chung chưa có
đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng tâm lí học đường, nên GVCN cần phải thực hiện chức năng
11
tư vấn/ thậm chí là tham vấn để HS tự giải quyết vấn đề bằng chính nội lực của mình.
6. Chức năng, nhiệm vụ của GVCN trong trường phổ thông ở một số nước[9].
-Nguyễn Thanh Bình. Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay.
NXB ĐHSPHN.2011
-Nguyễn Thanh Bình( 2010) Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT. MS.SPHN-09-465NCSP
-Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông (Ban hành kèm
theo Thông tư số 30 /2009 /TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo)
-Công văn số 7092/BGDĐT-GDTrH về việc Hướng dẫn dạy học tự chọn cấp THCS và THPT
năm học 2006-2007
-Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp
học”do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGD&ĐT
-Kỉ yếu hội thảo về công tác chủ nhiệm lớp do Cục nhà giáo kết hợp với Dự án THCS II tổ chức
năm 2010
-Luật giáo dục 2005.
-Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/08 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành
Quy định đạo đức nhà giáo
-Bùi Thanh Xuân. Về công tác GVCN ở một số nước. Bài viết cho hội thảo của đề tài “ Phương
hướng nâng cao năng lực giáo dục cho đội ngũ GVCN lớp ở trường phổ thong”. B.2010-37-
79TĐ.
12
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM - NHÀ QUẢN LÍ, NHÀ GIÁO DỤC
I. MỤC TIÊU
Sau khi đọc xong nội dung này GVCN sẽ:
1. Trình bày được vai trò của người GVCN lớp trong nhà trường THCS, THPT với tư cách là
nhà quản lý tập thể HS
2. Trình bày được vai trò của người GVCN lớp trong nhà trường THCS, THPT với tư cách là
nhà giáo dục
3. Nhận thức rõ trách nhiệm của người GVCN và tự giác học hỏi, phát triển các năng lực và
phẩm chất cần thiết để có thể làm công tác chủ nhiệm hiệu quả.
II. NỘI DUNG
Giáo viên chủ nhiệm với tư cách là người quản lý tập thể HS
Làm thế nào để biết lớp chúng ta đi đúng hướng và tới đích?
Dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ năm học cùng với các chỉ tiêu mà nhà trường định hướng kết
hợp với kết quả nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm của học sinh (cá nhân và tập thể), các điều kiện,
nguồn lực ( từ trong tập thể lớp, trong trường và XHHGD từ gia đình và các lực lượng XH
khác), và quan trọng là mong muốn của tập thể lớp cùng GVCN dự kiến sẽ đạt được những mục
tiêu nào mà xây dựng kế hoạch. Yêu cầu về những kịch bản ( kế hoạch) phát triển của tập thể lớp
mang tính khoa học, khả thi cũng như cách xây dựng những kế hoạch như vậy đã được đề cập
trong module “ Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp” thuộc tài liệu tập huấn nâng coa năng lực cho
GVCN.
Tuy nhiên ở đây để GVCN có cái nhìn tổng quát và hệ thống về quá trình phát triển tập
thể HS cần đề cập đến đặc điểm của tập thể HS.
Theo lí luận giáo dục tập thể học sinh phát triển qua 3 giai đoạn:
13
Giai đoạn đang hình thành thì xây dựng tập thể là mục tiêu của GVCN và mọi thành viên trong
lớp. Ở giai đoạn này, quan trọng nhất là hình thành được mục tiêu chung, xây dựng đội ngũ tự
quản, tổ chức các hoạt động giáo dục.
- Giai đoạn đã hình thành: Có kỉ luật và dư luận tập thể lành mạnh. Từ giai đoạn này tập thể đã
trở thành phương tiện giáo dục, và giáo dục trong tập thể, thông qua tập thể trở thành nguyên tắc
tổ chức giáo dục HS. Giai đoạn này tập thể lớp đã hình thành được các yếu tố của môi trường
học tập thân thiện.
- Giai đoạn phát triển : Các mối quan hệ trong tập thể mang tính nhân văn, thực sự trở thành môi
trường thân thiện đối với sự phát triển của mỗi cá nhân trong tập thể. Các chuẩn mực trong quan
hệ, giá trị, truyền thống chung của tập thể - văn hóa tổ chức của tập thể …trở thành nội dung,
chất liệu để giáo dục phẩm cách của từng thành viên trong đó. Giai đoạn này có thể tương đương
với tập thể có môi trường thực sự thân thiện.
Theo đó khi xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp với nội dung phát triển tập thể HS, GVCN
cần:
-Xác định mục tiêu chung và viễn cảnh, văn hóa của tập thể lớp.
-Mục tiêu chung là yếu tố đầu tiên để đoàn kết mọi thành viên trong lớp. Vì vậy, ngay từ khi mới
nhận lớp chủ nhiệm GVCN cùng toàn thể lớp thảo luận để trả lời các câu hỏi:
nhiệm trước GVCN điều hành, quản lý toàn bộ các hoạt động của lớp và từng thành viên trong
lớp, cụ thể:
+ Tổ chức, quản lý lớp thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo quy định của nhà trường.
+ Theo dõi, đôn đốc lớp chấp hành đầy đủ và nghiêm chỉnh quy chế, quy định, nội quy về học
tập và sinh hoạt của nhà trường. Xây dựng và thực hiện nề nếp tự quản trong HS.
+ Tổ chức, động viên giúp đỡ những HS gặp khó khăn trong học tập, rèn luyện và đời sống.
+ Chủ trì các cuộc họp lớp để đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, bình xét học bổng, đề nghị thi
14
đua khen thưởng đối với tập thể và cá nhân HS trong lớp. Cụ thể là : Quản lý 15 phút đầu giờ,
theo dõi chung các hoạt động của lớp, tổng hợp kết quả thi đua và điều hành tiết sinh hoạt cuối
tuần.
Lớp phó phụ trách học tập: Theo dõi nề nếp học tập chung và tổng hợp để đánh giá hoạt
động học tập vào tiết sinh hoạt cuối tuần.
Lớp phó phụ trách lao động: Phân công, theo dõi, đôn đốc công tác lao động, vệ sinh lớp
và khu vực, phân công chăm sóc công trình măng non, tổng hợp để đánh giá vào tiết sinh hoạt
cuối tuần.
Lớp phó phụ trách Văn - Thể: Theo dõi, đôn đốc các hoạt động văn nghệ, thế dục giữa
giờ, tổng hợp để đánh giá vào tiết sinh hoạt cuối tuần.
Tổ trưởng: Điều hành các hoạt động của tổ theo sự phân công của lớp trưởng, lớp phó.
Theo dõi điểm của các bạn qua phiếu điểm, ký và trả phiếu điểm vào thứ 7 và thu vào thứ 2 hàng
tuần.
Tổ phó: Kết hợp cùng tổ trưởng đôn đốc các hoạt động của tổ, điều hành tổ khi tổ trưởng
vắng.
Bàn trưởng: Kiểm tra sách, vở, đồ dùng học tập, trang phục học sinh của bàn.
Nhiệm vụ đội cờ đỏ: Theo dõi kiểm tra, đánh giá, giữ trật tự, kỉ luật, thực hiện nội quy
của lớp và tổ, báo cáo kết quả hang tuần, tháng cho lớp trưởng và báo cáo trước lớp
- Các cán sự chức năng như cán sự môn học thì có nhiệm vụ liên hệ với GV bộ môn, đề đạt
nguyện vọng của lớp, xin ý kiến GV bộ môn…nhằm giúp lớp học bộ môn có hiệu quả; còn cán
sự vệ sinh chịu trách nhiệm kiểm tra đôn đốc vệ sinh lớp và cá nhân, vệ sinh môi trường hàng
ngày, cán sự tài chính chịu trách nhiệm thu giữ quỹ lớp, quản lí chi tiêu cho các hoạt động chung
+ Giải quyết những vướng mắc tồn tại, những việc phát sinh khác của lớp, giữ vững đoàn kết nội
bộ trong lớp.
15
+ Thường xuyên liên hệ phối hợp với giáo viên giảng dạy các môn học đối với lớp để nắm tình
hình học tập, rèn luyện của các bạn trong lớp.
+ Báo cáo kịp thời với giáo viên chủ nhiệm về tình hình chung cũng như việc bất thường của
lớp, đề xuất các giải pháp xử lý.
Nếu đội ngũ cán bộ lớp đảm nhiệm được những trách nhiệm này thì có thể thấy GVCN
chỉ giữ vai trò cố vấn, quản lý gián tiếp tập thể lớp mà thôi. GVCN quản lý thông qua chức năng
cố vấn hoạt động tự quản của HS: Phát huy sự tham gia và quyền Ra quyết định cho HS. Lúc này
GVCN không trực tiếp tham gia điều khiển công việc của lớp mà ủy quyền cho đội ngũ cán bộ
lớp, tổ tự quản và tổ chức mọi hoạt động của HS.
Bằng cách đó GVCN đã đào tạo được kĩ năng quản lý cho HS ngay từ khi các em đang
học phổ thông và sẽ là hành trang rất hữu ích cho các em bước vào đời.
Thực hiện chức năng tổ chức, quản lý những GVCN có kinh nghiệm còn quan tâm đến
việc lập sơ đồ tổ chức lớp học, mà cụ thể hơn là bố trí và luân chuyển vị trí ngồi học của các
thành viên trong tập thể lớp. Việc phân công chỗ ngồi và luân chuyển vị trí ngồi học cũng là một
công việc rất quan trọng tạo điều kiện thuận lợi từng HS trong lớp học tập và cho đội ngũ cán bộ
lớp, tổ tự quản kỉ luật lớp học, đồng thời góp phần xây dựng quan hệ giúp đỡ, gắn bó với nhau
giữa HS trong lớp học. GVCN cần linh hoạt bố trí để : HS yếu kém, chậm tiến ngồi trước; HS
khá giỏi ngồi sau. HS thấp ngồi bàn trước, cao bàn sau; HS mắt yếu ngồi gần bảng. Ban cán sự
ngồi đan xen ở giữa, trước và sau. Trong một học kì GVCN cần điều chỉnh đổi luân phiên từ 2
đến 3 lần. Mỗi lần thay đổi là một lần thiết lập lại sơ đồ lớp để trên bàn giáo viên để giáo viên bộ
môn kết hợp tổ chức hoạt động trong mỗi tiết dạy cho phù hợp. Những em trong Ban cán sự lớp
ngồi sau có thể quản lí, theo dõi, nhắc nhở các bạn khác trong các giờ học. Những em học sinh
yếu kém ngồi đầu sẽ được giáo viên bộ môn quan tâm theo dõi và giúp đỡ kịp thời, như thế mỗi
em sẽ có cơ hội thể hiện mình bằng cách từ bỏ thói quen thụ động, trông chờ, ỷ lại trong học tập.
1.3. Giáo viên chủ nhiệm thực hiện chức năng quản lý qua vai trò là người tổ chức triển khai kế
hoạch chủ nhiệm bao gồm các loại kế hoạch, trong đó quan trọng nhất là thiết kế và tổ chức,
quản lý, điều phốicác hoạt động giáo dục đa dạng như: Hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chủ đề,
bộ của từng HS cũng như phong trào chung, hay sự phát triển của tập thể.
Phương thức đánh giá đảm bảo sự tham gia tự đánh giá của HS theo cơ chế hàng tuần
dựa vào tiêu chí đã được thống nhất các tổ đánh giá xếp loại hàng tuần, lớp trưởng tổng hợp tình
hình từ các tổ trưởng và lớp phó sau đó báo cáo cho GVCN và tập thể lớp. GVCN là người tổng
kết, nhận xét chung và biểu dương các thành tích đạt được đồng thời rút kinh nghiệm những điều
còn tồn tại qua từng tuần,tháng, học kì và cả năm học.
Một nội dung rất quan trọng trong đánh giá là: GVCN cùng tập thể HS xác định xem sau
mỗi chặng đường trong năm học tập thể lớp đã đạt đến trình độ phát triển nào dựa trên các tiêu
chí: Các giá trị, truyền thống mà lớp đã có; Mức độ tự quản của HS, tính chất các mối quan hệ
giữa các thành viên trong tập thể, tác động của dư luận tập thể/ ảnh hưởng giáo dục của tập thể
đối với từng thành viên trong đó…để xem có đạt được mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch hay
không? Nếu không thì cần điều chỉnh gì hay có những biện pháp khắc phục nào?
Cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh không chỉ là thực hiện
yêu cầu từ góc độ quản lí hành chính, mặt khác cập nhật hồ sơ học sinhđể theo dõi sự phát triển
của các em và khi cần thiết có thể kịp thời can thiệp điều chỉnh.
Vai trò quản lý của GVCN còn thể hiện ở vai trò cố vấn cho BCH chi đoàn Đoàn, BCH
chi Đội trong lớp chủ nhiệm. GVCN là người lĩnh hội các chủ trương, kế hoạch công tác, phong
trào của nhà trường và các đoàn thể trong trường, đồng thời cũng là người đồng chí của đoàn
viên HS, người phụ trách đội viên…nên hội tụ những hiểu biết, kinh nghiệm và tư cách làm cố
vấn cho các tổ chức chính trị trong đơn vị lớp.
Vai trò cố vấn thể hiện không chỉ ở khâu lựa chọn đội ngũ cán bộ như Ban chấp hành chi
đoàn, hay Ban chỉ huy chi đội, mà còn trong việc tổ chức các hoạt động và lồng ghép, phối hợp
các nội dung hoạt động của Đoàn, Đội với nội dung giáo dục của lớp như thế nào để đạt hiệu quả
giáo dục cao nhất, để cùng đạt mục tiêu chung của tập thể lớp.
Vai trò cố vấn của GVCN cần được thể hiện đúng nghĩa không can thiệp thô bạo, mà để
các em tự quyết. Ví dụ, GVCN tham mưu để đề cử được những ứng viên có năng lực thúc đẩy
các phong trào Đoàn, Đội và tập thể lớp phát triển, nhưng đội ngũ cán bộ của các tổ chức này
cần để cho đại hội tự bầu ra theo nguyên tắc tập trung, dân chủ.
Ngoài ra, GVCN còn phải nắm bắt thông tin, cập nhật mọi công tác do trường, Đoàn
thanh niên đề ra để nhắc nhở, đôn đốc học sinh trong lớp thực hiện kịp thời.
em bằng những ngôn ngữ không được lịch sự và các em phản ứng.
Thế là một cuộc rượt đuổi xảy ra. Các em học sinh chạy xuống tầng hầm để lấy xe đã bị dồn vào
hành lang và tại đây các bảo vệ đã dùng những gì có trong tay đánh vào học sinh. Một số chạy
được đã bị rượt theo đánh đập dã man gây chấn thương nghiêm trọng.
Em Lâm Chí Minh được bác sĩ điều trị Nguyễn Khánh Nho xác định: chấn thương sưng nề vùng
mũi, chấn thương đầu, mặt.
Sự việc chỉ chấm dứt khi công an phường 15 xuất hiện. Có 2 bảo vệ và nhiều học sinh được công
an mời về phường để lấy lời khai, đồng thời chuyển các học sinh bị thương đến cấp cứu tại bệnh
viện.
Bình chân như vại
Gần 100 người là phụ huynh và học sinh đã có mặt trước trụ sở công an phường. Tại đây chúng
tôi được hai học sinh vừa xuất viện do chấn thương chưa nghiêm trọng là Lâm Chí Minh và
Nguyễn Văn Trường cho xem những vết thương trên người.
Em Trường vạch áo, một vết bầm trên lưng được em mô tả đã bị bảo vệ dùng cán vá (vá
xúc cát) đánh mạnh vào lưng. Em Minh thì mang những vết trầy xước ở cổ và vùng mặt do bị
đánh bằng mũ bảo hiểm, roi điện và dùi cui
Nhiều phụ huynh đã bày tỏ sự bức xúc trước hành động thô bạo của bảo vệ trung tâm
thương mại Lotte Mart. Ông Huỳnh Thành, phụ huynh em Huỳnh Vĩnh Phước đề nghị chính
quyền phải giải quyết vấn đề một cách rốt ráo.
Ông nói, chỉ còn 2 ngày nữa là các cháu thi tốt nghiệp cuối cấp vậy mà các bảo vệ đã nhẫn
tâm gây cho các cháu những thương tích nghiêm trọng. Ông cũng đề nghị cần phải làm rõ nhưng
hành vị xâm phạm thân thể mà các bảo vệ đã hành xử với các cháu học sinh.
Một phụ huynh bức xúc: “Việc bảo vệ đánh khách hàng một lần nữa chứng minh cung
cách thiếu nghiêm túc của Lotte Mart. Chúng tôi yêu cầu ban giám đốc của trung tâm thương
mại này phải có động thái tích cực và tỏ ra hiểu biết để xứng tầm với một đơn vị kinh doanh có
tầm cỡ quốc tế”.
Một phụ huynh khác nói, các cháu có khuyết điểm thì bảo vệ có thể nhắc nhở bằng lời
nói hoặc một vài cử chỉ mang tính răn đe hơn là đánh đập.
Đến 22h30, phụ huynh và học sinh vẫn còn khá đông trước trụ sở công an phường. Tại bệnh
viện, thân nhân các em học sinh đang nằm viện tỏ ra rất lo lắng. Làm sao các em có thể đến
cảm; đảm bảo sự tham gia, có chương trình học tập chất lượng và phù hợp đang được thực
nghiệm ở hơn 40 quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng đang phát động phong trào xây dựng
trường học thân thiện.
Theo đó nội dung xây dựng tập thể và môi trường học tập thân thiện bao gồm[1].:
Xây dựng văn hóa và truyền thống của lớp
Văn hóa lớp học được hiểu là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi
ứng xử, đặc trưng của một lớp học, tạo nên sự khác biệt với các lớp học khác, một phong cách
riêng để mỗi khi nhắc về lớp mình, mọi thành viên đều có thể nhớ được và tự hào về truyền
thống, phong cách đặc trưng của lớp mình. Như vậy, văn hóa của một tập thể lớp liên quan đến
toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của lớp học. Nó biểu hiện trước hết ở tầm nhìn, sứ mạng,
triết lí, mục tiêu, các giá trị, phong cách quản lí lớp, bầu không khí tâm lí trong lớp học, thể
hiện thành hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử, được xem là tốt
đẹp và được mỗi thành viên trong lớp học chấp nhận và trở thành truyền thống mà mọi người
trong lớp đều trân trọng giữ gìn, để mỗi khi nhắc về lớp mình, mọi thành viên đều có thể nhớ
được và tự hào về truyền thống, phong cách đặc trưng.
Vì vậy, ngay từ đầu năm học GVCN cùng mọi thành viên trong lớp cần xác định cụ thể
các vấn đề như:
Các giá trị chung của tập thể lớp?
Truyền thống nào của lớp học cần tạo dựng, giữ gìn và phát huy ?
Các mối quan hệ trong tập thể lớp phải như thế nào ?
Hiện tượng tiêu cực nào trong quan hệ cần xóa bỏ, hiện tượng nào cần ủng hộ, khuyến khích?
Các viễn cảnh của tập thể lớp cần đạt được?
Lôi cuốn sự tham gia của HS trong việc xây dựng nội quy lớp học
Nội quy, nề nếp kỷ luật là những điều rất cần thiết để giáo dục, nuôi dưỡng, và bảo đảm sự phát
triển lành mạnh, an toàn cho HS em. Chính vì vậy, việc thiết lập nội quy, quy tắc ứng xử trong
lớp học là rất quan trọng.
Nội quy, nề nếp một mặt cũng phản ánh văn hóa, truyền thống của tập thể lớp, mặt khác là cơ sở
cho HS hiểu xem những hành vi nào là phù hợp, những hành vi nào là không phù hợp và đâu là
giới hạn không được vượt qua.
Việc lôi cuốn HS tham gia vào quá trình ra quyết định trong lớp học có ý nghĩa quan trọng.Sự
bổ sung quy định về những vấn đề mới nảy sinh)
Khích lệ mọi thành viên trong lớp suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân và hành động vì
sự phát triển của tập thể lớp
Sau khi đã cùng các thành viên trong lớp xác định mục tiêu, viễn cảnh, tầm nhìn cũng như văn
hóa tổ chức của lớp mà thể hiện tập trung nhất ở nội quy lớp học, GVCN cần khích lệ mọi thành
viên suy nghĩ xem mình có thể làm gì để cùng với các bạn trong lớp, cô giáo xây dựng được tập
thể như mong muốn. Cần xây dựng những cam kết tập thể ( tổ) và cá nhân nhưng phải xuất phát
từ nhận thức sâu sắc và ý chí quyết tâm của các em, tránh hình thức. Có thể thông qua một buổi
thảo luận theo chủ đề về “trách nhiệm của học sinh lớp …” với các bước cụ thể như sau:
GVCN cùng HS điểm lại những nội dung cơ bản trong mục tiêu, nội quy, chuẩn mực, giá
trị, truyền thống của lớp.
Từng thành viên (HS và GVCN) suy nghĩ xem mình có thể làm được gì để góp phần đạt được
mục tiêu, duy trì và củng cố các giá trị , truyền thống, đảm bảo nội quy của lớp…tạo ra môi
trường học tập thân thiện, tập thể lí tưởng. Đồng thời từng HS viết ra lời hứa những điều mình có
thể làm để tạo ra môi trường tập thể như mong đợi. Trong khi HS viết, GV cũng lập danh mục
những việc mình cần làm, những rào cản cần khắc phục…
Thảo luận việc làm theo lời hứa dễ hay khó? Bằng cách nào mỗi HS trong lớp có thể giúp
mình và bạn giữ lời hứa? Sau khi cân nhắc cẩn thận chốt lại những việc có thể làm là khả thi.
Từng người đưa ra lời hứa trước lớp, những lời hứa này được treo ở vị trí ai cũng có thể thấy.
Hàng tuần, hàng tháng xem xét việc thực hiện lời hứa. Cố gắng tìm ra những mặt tích
cực, tiến bộ dù rất nhỏ để động viên khen ngợi.
Chú ý điều chỉnh danh mục những lời hứa dựa trên những kết quả đạt được
Xây dựng dư luận tập thể lành mạnh
Thái độ, hành vi của con người được điều chỉnh bằng hai yếu tố: yếu tố bên ngoài là dư
luận xã hội (hay dư luận tập thể) và yếu tố bên trong là ý thức về sự tất yếu phải hành động theo
chuẩn mực xã hội, là lương tâm, trách nhiêm của từng cá nhân. Khi con người có ý thức tự giác,
trình độ phát triển đạo đức, pháp luật cao thì có thể tự kiểm soát hành vi của mình bằng lương
tâm, trách nhiệm, dù có người nhìn thấy hay không nhìn thấy họ đều hành động phù hợp với
chuẩn mực xã hội. Còn những người ý thức tự giác chưa thật cao thì hành vi của họ có phù hợp
với chuẩn mực của xã hội hay không còn phụ thuộc vào yếu tố kiểm soát bên ngoài là dư luận xã
Dư luận tập thể cần được thể hiện một cách nghiêm túc thông qua cuộc họp chung của
lớp. Trong đó các thành viên của tập thể được chia sẻ cởi mở, chân thành những chính kiến trước
những thái độ, hành vi không mong đợi của bạn và biết lắng nghe bạn một cách tích cực, đồng
thời có thái độ thiện chí khi nhìn nhận vấn đề của bạn.
Xây dựng các mối quan hệ nhân văn
Theo nhà tâm lí học Maslow, nhu cầu con người có nhiều và được phân chia theo 5 tầng :
- Tầng thứ nhất (Physiological): là các nhu cầu thuộc về “thể lý” bao gồm các nhu cầu như: Đồ
ăn, thức uống, thở, nghỉ ngơi, chỗ ở, quần áo, bài tíêt, tình dục.
- Tầng thứ hai (Safety): nhu cầu an toàn về thân thể, sức khỏe, việc làm, tài sản…
- Tầng thứ ba (Love/belongging): nhu cầu xã hội như tình cảm, tình bạn, muốn được trực thuộc
một nhóm cộng đồng nào đó.
- Tầng thứ tư (Esteem): bao gồm các nhu cầu được kính trọng, được quý mến, tin tưởng, địa vị,
danh tiếng, thành đạt…
- Tầng thứ năm (Self-actualization): là các nhu cầu tự thể hiện bản thân như khả năng trình diễn,
khả năng sáng tạo…
Theo sự phát triển của lứa tuổi và trình độ phát triển của mỗi cá nhân, con người sẽ có và
muốn được thỏa mãn các nhu cầu từ tầng thấp đến cao. Đối với học sinh THPT các em đã có đầy
đủ các nhu cầu bậc cao và rất muốn được thỏa mãn những nhu cầu này trong nhóm, tập thể gồm
các bạn cùng trang lứa. Khi xây dựng kế họach chủ nhiệm, GVCN cần tính đến điều này trong sứ
mạng coi đây là nhu cầu của HS trong lớp.
Để thỏa mãn nhu cầu của HS từ tầng thứ hai đến tầng thứ năm, tập thể HS cần đạt đến giai
đoạn phát triển, ở đó không chỉ có mục tiêu chung, đội ngũ tự quản tốt, có dư luận tập thể lành
mạnh, có kỉ luật mà còn có hệ thống các mối quan hệ nhân văn dựa trên các giá trị như: tôn
trọng, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết có tinh thần trách nhiệm, biết cách giải quyết các
xung đột không bằng bạo lực…, có không khí thân thiện nhằm tạo ra môi trường cảm thông, chia
sẻ, hợp tác trong lớp học. Môi trường học tập thân thiện là môi trường hòa nhập bình đẳng, hoan
nghênh và chào đón, tôn trọng tất cả HS không có sự phân biệt về giới tính, thể chất , trí tuệ, tâm
lí, hoàn cảnh xuất thân và những đặc điểm khác. Môi trường học tập thân thiện còn là môi
trường học tập an toàn, gần gũi, yêu thương, tôn trọng, không phân biệt đối xử với tất cả HS
21
vực hoạt động thực tiễn và văn hóa - xã hội bao gồm:
Giáo dục trí tuệ
Giáo dục đạo đức
Giáo dục thẩm mĩ
Giáo dục thể chất
Giáo dục lao động
Xã hội hiện đại làm nảy sinh nhiều vấn đề mới mà giáo dục cần phải trang bị cho người
học những kiến thức, thái độ, kĩ năng ứng xử phù hợp để tránh rủi ro cho bản thân, nâng cao chất
lượng cuộc sống, đồng thời giảm thiểu các tệ nạn xã hội như: giáo dục phòng tránh ma túy,
HIV/AIDS, an toàn giao thông, giáo dục môi trường; giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản, giáo
dục giới tính và giới, GD quân sự…
Những nội dung giáo dục trên được triển khai tích hợp, lồng ghép qua các môn học,
nhưng quan trọng hơn là được triển khai thông qua con đường ngoài giờ lên lớp dưới các hình
thức đa dạng khác nhau.
Tuy nhiên, trong thực tế cách tổ chức giáo dục hiện nay vẫn nặng về truyền thông nâng cao nhận
thức, mà chưa đạt được mục tiêu làm thay đổi hành vi, do đó hiệu quả giáo dục thấp.
Bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI được xác định là “ Học để biết; Học để làm: học để
tự khẳng định; Học để chung sống với mọi người” được xem là một cách tiếp cận kĩ năng sống
đối với những nội dung cần giáo dục cho HS[4] Nếu GVCN có thể xác định từng nội dung giáo
dục theo tiếp cận bốn trụ cột này thì hiệu quả giáo dục sẽ đảm bảo.
Ví dụ: Nội dung giáo dục phòng tránh HIV/AIDS được xác định theo tiếp cận 4 trụ cột:
1. Học để biết ( kỹ năng nhận thức)
Hiểu thế nào là HIV/AIDS và văn bản pháp luật, quy định liên quan.
Nắm bắt được các thông tin trên thế giới về HIV/AIDS.
22
Hiểu được mối quan hệ giữa HIV và các yếu tố khác trong xã hội như: đói nghèo, quyền con
người, bất ổn xã hội
Hiểu được những tác động của HIV/AIDS với xã hội (bất ổn xã hội, chi phí y tế, ) và cá nhân
(bệnh tật, tuổi thọ, sức khỏe, khả năng miễn dịch…)
Sự cần thiết có kiến thức và kỹ năng về HIV/AIDS và phòng tránh HIV/AIDS cho bản thân và
Rõ ràng nếu tổ chức giáo dục theo cách tiếp cận này thì nội dung giáo dục sẽ sâu sắc hơn và mục
tiêu đạt được trong nội dung giáo dục này sẽ toàn diện hơn.
Trong thực tế, GVCN đã tổ chức rất nhiều hình thức giáo dục đa dạng khác như:
+ Cho học sinh sưu tầm các tư liệu nói về truyền thống văn hóa của địa phương, bản sắc văn hóa
dân tộc để phục vụ tiết sinh hoạt các em ít nhiều đã nắm được giá trị truyền thống, thuần phong
mĩ tục của dân tộc; GVCN có thể đưa ra những tình huống xảy ra trong trường học cho các em
tự đề ra các cách xử lí khác nhau trên cơ sở đó GVCN sẽ nắm bắt được cách cư xử, thái độ của
các em, có thể uốn nắn kịp thời. Vào những tiết sinh hoạt cuối tuần GVCN có thể tranh thủ thời
gian đọc các bài báo nói về tệ nạn nghiện game của học sinh và hậu quả của nó, hoặc những tấm
gương học sinh nghèo vượt khó.
+ Tổ chức cho các em được giao lưu sinh hoạt với trẻ em nghèo bất hạnh, học sinh trường
khuyết tật để các em có điều kiện hiểu thêm hoàn cảnh của những số phận kém may mắn tạo môi
trương thân thiện giáo dục lòng nhân ái cho các em. Tuyên truyền vận động các em tham gia
đóng góp ủng hộ cho các bạn học sinh vùng sâu vùng xa, học sinh khuyết tật.
+ Khuyến khích động viên các em tích cực tham gia các phong trào như hội thi học sinh thanh
lịch, thi giọng hát hay, hội trại truyền thống qua những hoạt động này giúp các em có được kĩ
năng sống đồng thời đó là những sân chơi bổ ích giúp các em thư giãn sau những giờ học căng
thẳng.
+ Tổ chức cho các em tham quan bảo tàng, nhà truyền thống hay xem các bộ phim có tính giáo
23
dục đạo đức cách mạng, lòng yêu nước
+ Tổ chức hội nghị học tốt, mời những học sinh có thành tích cao trong học tập viết tham luận
trao đổi kinh nghiệm học tập qua đó giúp các em nhận thức được cần phải chăm học và có
phương pháp phù hợp mới có thể đem lại thành tích cao trong học tập. Khi các em chăm học sẽ
có những hành vi đạo đức tốt.
+ Tổ chức cho các em tham gia ngày chủ nhật xanh sach đẹp để giáo dục các em ý thức giữ gì vệ
sinh môi trường cũng như ý thức cộng đồng
2.3. Tổ chức các hoạt động và giao lưu tập thể nhằm củng cố và phát triển tập thể
Tính tập thể cũng như quan hệ gắn bó, hiểu biết, chia sẻ với nhau của mọi thành viên
trong lớp được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động tập thể, những buổi thảo luận,
cần phải thoải mái và cần phải thay đổi thái độ và hành vi của học sinh. Cần sử dụng các phương
pháp tạo sự tương tác giữa GV và HS và giữa học sinh với nhau. Đồng thời cần quan tâm đến vai
trò tham gia của người học trong việc thực hành kỹ năng. Trong tương tác và tham gia thực hành
mỗi người đều là chủ thể tích cực. Để tăng cường sự tham gia còn cần tạo môi trường học tập vui
vẻ, thoải mái, không có sự chỉ trách phê phán.
Sự tham gia của HS vào các HĐGD có thể ở những mức độ khác nhau. Roger A. Hart đã
đưa ra 8 mức độ khác nhau của “thang tham gia” mà HS có thể đạt được theo các nấc thang (xếp
theo thứ tự từ cao xuống thấp) sau đây:
8/ HS khởi xướng và cùng GV quyết định: là khi dự án, hoạt động hoặc chương trình do HS
khởi xướng và việc ra quyết định sẽ được chia sẻ giữa HS và GV. Những dự án/hoạt động này
trao quyền cho các em đồng thời giúp các em có thể tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm sống và kỹ
năng của GV.
7/ HS khởi xướng và điều hành: là khi HS khởi xướng và điều hành dự án, hoạt động hoặc
chương trình. GV chỉ tham gia với vai trò hỗ trợ.
24
6/ GV khởi xướng, quyết định cùng với HS: Là khi dự án, hoạt động hoặc chương trình được
GV khởi xướng nhưng việc ra quyết định được chia sẻ với các em.
5/ HS được hỏi ý kiến và được thông báo: Là khi HS đưa ra ý kiến về dự án, hoạt động hoặc
chương trình do GV xây dựng và thực hiện. HS được thông báo là ý kiến đóng góp của các em
sẽ được sử dụng như thế nào và kết quả của quyết định do GV đưa ra.
4/ HS được giao nhiệm vụ và được thông báo: Là lúc mà HS được giao một vai trò cụ thể và
được thông báo là các em sẽ được tham gia như thế nào và tại sao.
3/ Hình thức tượng trưng: Là lúc HS có vẻ như được có tiếng nói nhưng trong thực tế các em
có rất ít hoặc không có sự chọn lựa là phải làm gì hoặc tham gia như thế nào.
2/ Hình thức trang trí: Là lúc HS được sử dụng để trợ giúp hoặc “cổ động” cho việc gì đó một
cách tương đối gián tiếp, mặc dù GV không làm ra vẻ như việc đó do chính HS đưa ra.
1/ GV điều khiển: Là lúc GV sử dụng HS để hỗ trợ những ý định hoặc việc làm của mình và làm
ra vẻ như những điều đó do chính HS đưa ra.
Như vậy, theo thang này thì ở các mức từ 1 - 3 là những mức độ HS không có sự tham
gia. Chỉ bắt đầu từ mức 4 mới thể hiện sự tham gia của các em vào quá trình hoạt động giáo dục.
khác biệt. Các em sẽ học hỏi, bổ sung, giúp đỡ lẫn nhau và phát triển các mối quan hệ đoàn kết,
thân thiện và hiểu biết lẫn nhau. Số lượng HS trong nhóm cũng cần được chú ý. Điều đó phụ
thuộc vào yêu cầu của công việc, sao cho mỗi thành viên đều có nhiệm vụ và nằm trong mối
quan hệ phụ thuộc tích cực với nhau.
Cách tổ chức hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác
a. Bước chuẩn bị:
- Xác định, đề xuất nhu cầu hoạt động
GV có thể trực tiếp thu thập thông tin về mong muốn, nguyện vọng của HS trong lớp về hoạt
động nào đó, hoặc khơi gợi để HS đề xuất những nội dung các hoạt động nên tổ chức. Từng HS
25
cùng tham gia suy nghĩ, phát hiện và trao đổi để hình thành ý tưởng: định làm gì?
- Xác định mục tiêu, các nhiệm vụ của hoạt động và mục tiêu hình thành, củng cố các kĩ
năng hợp tác, lập kế hoạch và xác định cách thực hiện:
Tùy theo trình độ phát triển của tập thể lớp, khả năng tự quản của HS, giáo viên có thể
thu hút học sinh cùng xác định mục tiêu chung (trong đó có mục tiêu công việc và các kĩ năng
hợp tác nào cần đươc củng cố hoặc hình thành) và các nhiệm vụ cụ thể. Giáo viên cần giải thích
để các em hiểu rằng: mục tiêu là cái đích cần đạt, còn nhiệm vụ là cái phải làm để đạt tới đích,
dẫn dắt các em cách suy nghĩ khi lập kế hoạch, lựa chọn cách thực hiện bằng cách đặt ra các câu
hỏi lôgic: làm gì vào thời gian nào? Tại sao? Làm như thế nào cho có hiệu quả? Cần những điều
kiện, phương tiện gì? Lôi cuốn các em cùng giải đáp các câu hỏi đặt ra, dần dần các em có thể
độc lập ở khâu này. Ở đây GV phải chủ động lựa chọn mô hình hoạt động hợp tác định tổ chức
sao cho phù hợp với mục đích đặt ra. GVcần kích thích, khơi gợi suy nghĩ của HS và lắng nghe ý
kiến của họ, tìm ra những ý kiến hợp lí để khẳng định, khen ngợi giúp HS củng cố niềm tin vào
bản thân, tăng thêm niềm vui và nhiệt tình đóng góp sức mình vào công việc chung. HS sẽ tích
cực khi các em tìm thấy những điều bổ ích cho mình và khẳng được giá trị của mình. Tương tác
thày-trò diễn ra dưới dạng trao đổi thông tin, ý tưởng, tư vấn, thừa nhận và khuyến khích. Ở đây
những kĩ năng hợp tác giữa GV-HS và HS-HS được thể hiện trong nhóm kĩ năng trao đổi ý
tưởng khi đề xuất vấn đề, xác định mục đích, nhiệm vụ, cách thức thực hiện và lập kế hoạch như
sau:
- Đối với giáo viên:
- Phân công nhiệm vụ:
GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm, việc phân công trách nhiệm đến từng cá nhân nên để
cho nhóm trưởng và các thành viên trong nhóm tự làm.
Kĩ năng hợp tác giữa GV-HS và HS-HS được thể hiện trong các kĩ năng hình thành nhóm