cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta - Pdf 24

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NGOÀI
QUỐC DOANH TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA
1.1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các loại hình doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
1.1.1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta, khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm nhiều hình thức sở hữu đan xen đang đóng
vai trò quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Kinh tế ngoài quốc doanh rất đa dạng cả về hình thức sở hữu và các loại hình
kinh doanh của các chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế.
Theo pháp luật hiện hành, các cơ sở kinh doanh ngoài quốc doanh ở nước
ta thường hoạt động theo một trong các hình thức được dưới đây:
Bảng 1.1: Các hình thức kinh doanh ngoài quốc doanh phổ biến.
Hình thức kinh doanh Cơ sở pháp lý hiện hành
Hộ kinh doanh cá thể
(Trước đây gọi là cá nhân
và nhóm kinh doanh theo
NĐ số 66/HĐBT)
Điều 17-21 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ban hành
ngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh (Các quy
định thay thế Nghị định số 66/HĐBT ban hành ngày
2/3/1992 trước đây)
Doanh nghiệp tư nhân
Điều 99-104, Luật doanh nghiệp1999 ban hành ngày
20/06/1999 (thay thế các quy định của Luật DNTN
ban hành ngày 21/12/1990 trước đây)
Hộ gia đình kinh doanh Điều 116-119 Luật dân sự, điều 5 Luật thương mại
Nhóm kinh doanh

kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Quy ước này chỉ có tính tương đối, vì theo các
quy định mới của pháp luật về hợp tác xã, hình thức này cũng là một loại hình
kinh doanh do tư nhân thành lập, hoạt động theo các nguyên tắc về cơ bản có thể
so sánh với các doanh nghiệp tư nhân và công ty khác.
Loại hình DNNQD hiện nay trong một số tài liệu còn gọi là doanh nghiệp
dân doanh (DNDD) bao gồm: doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công ty trách
nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần (CTCP). Đây là những loại hình DN
phổ biến nhất ở nước ta hiện nay.
1.1.2. Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Thực tế hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều hình thức kinh doanh mới mà
không nhất thiết phải thành lập các DN như chung vốn kinh doanh theo các hợp
đồng; liên kết kinh doanh; hoặc các tập thể, cá nhân nhận thuê, khoán một bộ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

phận hay toàn bộ cơ sở kinh doanh của một DN; nhận gia công đại lý theo vụ
việc Những mô hình liên kết như vậy có thể đan xen về vốn giữa các cơ sở
quốc doanh, các cơ sở kinh doanh của các tổ chức chính trị- xã hội và vốn của tư
nhân. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào hoạt động của các
DNNQD mà chủ yếu là DNTN, công ty TNHH, CTCP.
Quan niệm về DN, theo Luật doanh nghiệp, là một tổ chức kinh tế có tên,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trong đó, “kinh doanh”
phải được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng hàng hoá, dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
• Doanh nghiệp tư nhân: Điều 99- Luật doanh nghiệp1999 quy
định: doanh nghiệp tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN. DNTN có đặc
điểm như sau:
− DN thuộc sở hữu tư nhân, chủ DN là người tổ chức, quản lý sản xuất

hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên và giám đốc (tổng giám đốc).
− Phân phối lợi nhuận theo tỷ lệ phần vốn góp củacác thành viên,
nhưng công ty chỉ được chia lợi nhuận khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn
thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp
luật.
− Số lượng thành viên không lớn (không quá 50) nên tổ chức và quản
lý tương đối đơn giản.
Công ty TNHH có một thành viên là DN do một tổ chức làm chủ sở hữu,
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong
phạm vi số vốn điều lệ của DN. Giống như công ty TNHH có hai thành viên trở
lên, công ty TNHH một thành viên cũng không được phép phát hành cổ phiếu.
• Công ty cổ phần: là công ty trong đó số thành viên gọi là cổ
đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là 3, không hạn
chế số lượng tối đa. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần. Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận
quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó gọi là cổ phiếu. Công ty
cổ phần có quyền phát hành trái phiếu [26].
Đây cũng là loại hình công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn. Trong đó
các thành viên (cổ đông) có cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn góp vào DN. Đây là một
trong những loại hình DN đang chiếm nhiều ưu thế và hoạt động có hiệu quả,
đồng thời mang tính xã hội hoá rất cao. Đặc điểm của loại công ty này là:
− Công ty được phép phát hành chứng khoán ra công chúng theo đúng
quy định của pháp luật. Như vậy, nếu công ty có uy tín, làm ăn phát đạt, cần mở
rộng quy mô sản xuất thì việc mở rộng vốn trong mọi tầng lớp dân cư rất thuận lợi.
− Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau. Mệnh giá cổ phiếu
là do công ty quyết định phù hợp với hoạt động kinh doanh, đồng thời thu hút
được sự tham gia rộng rãi của công chúng.

còn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành công
nghiệp hoá đất nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội. Ở
Việt nam từ khi đổi mới, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và
DNNQD nói riêng đã ngày càng phát triển mạnh mẽ. Sự lớn mạnh của nó gắn
với sự lớn mạnh của đất nước. Hiện nay, các DNNQD đang đóng một vai trò
quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thể hiện qua tỷ lệ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

phần trăm trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), số công ăn việc làm do
khu vực này mang lại và những đóng góp vào quá trình phân phối thu nhập,
giảm bớt sự phát triển không đồng đều giữa đô thị và nông thôn Sự phát triển
của các DNNQD đã thực sự góp phần quan trọng trong giải quyết những mục
tiêu kinh tế - xã hội, vai trò của các DN này được cụ thể hoá ở những khía cạnh
chủ yếu sau đây:
1.2.1. Thu hút lượng lớn vốn đầu tư của tư nhân vào sản xuất kinh
doanh, khai thác các nguồn vốn trong nước
Sự ra đời và phát triển của các loại hình DNNQD, đặc biệt là mô hình
CTCP sẽ tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân có thể tham gia đầu tư . Trong quá
trình hoạt động, các loại hình DNNQD có thể dễ dàng huy động vốn vay thông
qua các quan hệ gia đình, bạn bè… Vì vậy, việc phát triển các loại hình
DNNQD được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng
các khoản tiền đang phân tán, nhàn rỗi trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư.
Ở nước ta hiện nay, do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, các hình thức sở
hữu nhà nước và sở hữu tập thể chưa khai thác hết tiềm năng kinh tế to lớn của
đất nước thì việc khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản
xuất và tạo khả năng khai thác tối đa các tiềm năng kinh tế của đất nước.
Sự phát triển nhanh chóng của DNNQD đã tạo ra một kênh đầu tư mới để
khai thác và phát huy có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt động
sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực phù hợp với chính sách

chủng loại hàng hoá, dịch vụ, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, phù hợp với
thị hiếu và tập quán tiêu dùng của từng địa phương. Như vậy, sự phát triển của các
DNNQD sẽ cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn về nhu
cầu đời sống xã hội. Chính việc tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn,
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

phong phú hơn và có chất lượng tốt sẽ thay thế được nhiều mặt hàng nhập khẩu,
góp phần cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và sự gia tăng xuất khẩu
của khu vực DNNQD là yếu tố góp phần tạo cho nền kinh tăng trưởng và ổn định.
Xét trên giác độ tổng cầu, nhìn chung ở nước ta, theo tính toán của các nhà
thống kê, để tăng trưởng 1% GDP cần tăng trưởng tiêu dùng 2,1 đến 2,2% (kể cả
tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống) [25]. Khi khu vực kinh tế tư
nhân nói chung và các DNNQD nói riêng phát triển sẽ làm tăng tổng cầu, bởi vì:
− Do mở rộng sản xuất làm cho nhu cầu các yếu tố đầu vào gia tăng.
− Thu nhập của người lao động tăng do sản xuất phát triển và do số lao
động được huy động vào làm việc tăng thêm.
Bên cạnh đó, một điều được thừa nhận chung là đầu tư là động lực cho tăng
trưởng kinh tế ở tất cả mọi nước. Việt Nam đã đạt được tăng trưởng cao trong
thập kỷ qua với vòng tăng trưởng đầu tiên vào đầu những năm 90 được kích
thích do sự “cởi trói” năng lực sản xuất ở giai đoạn đầu đổi mới, sự tăng trưởng
đó có phần đóng góp rất quan trọng của các loại hình DNNQD - loại hình DN
lần đầu tiên được thừa nhận sau ba thập kỷ bị cấm đoán. Xét về cơ cấu ngành
của các DNNQD cho thấy, nếu có môi trường kinh doanh thuận lợi, khu vực
kinh tế này có tiềm năng to lớn thúc đẩy một sự tăng trưởng theo định hướng
xuất khẩu của nền kinh tế. Thực tế các DNNQD sử dụng nhiều lao động (may
mặc, chế biến thực phẩm, đồ da), là loại DN có định hướng xuất khẩu mạnh, đặc
biệt là vào thị trường châu Âu và Đông Á. Hiện tại, đầu tư và tăng trưởng của
khu vực này còn bị hạn chế do môi trường kinh doanh có không ít rủi ro, do các
quy định của Nhà nước và bị chèn ép bởi các DNNN trong cuộc cạnh tranh
không bình đẳng.

chuyển đổi kinh tế ở nước ta trong thời gian qua. Do vậy, với sự ra đời và phát
triển của các DNNQD, áp lực thất nghiệp đã được giảm mạnh.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Như vậy, một mặt các DNNQD đã tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho người
lao động, mặt khác đã góp phần giải tỏa tâm lý tập trung lao động về khu vực
Nhà nước hay khu vực có vốn ĐTNN. Đồng thời, phát triển các DNNQD đã
từng bước làm thay đổi quan niệm của người lao động về vấn đề việc làm, một
mặt, mở ra khả năng giải quyết việc làm và thu nhập của người lao động. Do đó,
việc thay đổi quan niệm này đã làm giảm bớt gánh nặng xã hội cho Nhà nước
trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp và những vấn đề xã hội khác.
Các DNNQD có tác động thúc đẩy quá trình đô thị hoá phi tập trung.
DNNQD phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã
tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản
và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất
thấp, thu nhập chưa cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực DN công
nghiệp, dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn. Trên thực tế, số lượng
việc làm mới được tạo thêm từ khu vực DNNQD đã góp phần tích cực trong
mục tiêu thực hiện chuyển dịch lao động nông nghiệp.
Sự phát triển của các DNNQD ở nông thôn không chỉ tạo ra việc làm cho
một bộ phận dân cư mà còn thu hút số lượng lớn lao động thời vụ trong thời
gian nông nhàn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lực lượng lao động
nông nghiệp sang làm công nghiệp và dịch vụ tại địa phương, giảm bớt được tốc
độ di dân vào thành phố.
1.2.4. Góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu cho cho ngân sách
Với việc tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động nên phát triển
khu vực kinh tế tư nhân nói chung và DNNQD nói riêng đã tạo thu nhập cho
người lao động, đồng thời góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của
toàn xã hội.
Về đóng góp với Ngân sách Nhà nước (NSNN), DN là khu vực tạo ra nguồn

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa
các vùng trong một quốc gia từ việc xây dựng các cụm, khu công nghiệp- dịch
vụ tổng hợp ở nơi có cơ sở hạ tầng phát triển. Đồng thời, chính việc phát triển
rộng khắp các DNNQD ở các vùng sẽ giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng
nông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triển
nhanh các ngành sản xuất, dịch vụ tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, rút ngắn
khoảng cách chênh lệch về mọi mặt giữa các vùng.
Sự phát triển của các DNNQD cũng tạo điều kiện trong việc chuyển dịch
cơ cấu ngành. Đến nay, hoạt động của loại hình DNNQD tuy còn nhỏ nhưng
phát triển nhanh, rộng khắp ở các địa phương trong cả nước, do đó trừ một số ít
các lĩnh vực, ngành nghề Nhà nước giữ vai trò độc quyền, còn lại hầu hết các
lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thì các DNNQD đều tham gia với mức độ ngày
càng lớn. Trong đó ở một số ngành nghề, DNNQD đã chiếm tỷ trọng khá cao
như sản xuất lương thực, thực phẩm, bán lẻ hàng hoá, hàng tiêu dùng, nuôi trồng
thuỷ sản Nếu như trước đây, các DNNQD chỉ hoạt động trong các lĩnh vực
thương mại, dịch vụ là chủ yếu thì vài năm trở lại đây, số DN sản xuất trực tiếp
đã tăng lên đáng kể, kể cả những ngành đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao như cán
thép, dây cáp điện, xi măng, xe gắn máy, máy tính, thiết bị điện tử và đồ điện
gia dụng chất lượng cao. Nhiều DN đã bước đầu khẳng định được vị thế của
mình trên thương trường, góp phần tích cực vào quá trình phát triển chung của
cả nước, đồng thời tạo cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và
thúc đẩy cho các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển.
Với sự tham gia của DNNQD cùng với các thành phần kinh tế khác sẽ tạo
ra động lực cạnh tranh, làm cho nền kinh tế hàng hoá phát triển đa dạng, phong
phú, sôi động và có tốc độ tăng trưởng nhanh. Chính sự phát triển phong phú, đa
dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩm dịch vụ, các hình
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

1.2.7. Góp phần hình thành và phát triển các nhà doanh nghiệp có
trình độ chuyên môn, tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của mọi người,
từng bước thực hiện công bằng xã hội
Việc ra đời và phát triển của các DNNQD, đã từng bước hình thành đội ngũ
các nhà DN hoạt động trên các lĩnh vực, các ngành nghề của nền kinh tế quốc
dân. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ DNNQD đã tỏ rõ bản lĩnh và khả
năng thích ứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế. Họ đã vươn lên tự khẳng định
mình, tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tạo việc làm và
thu nhập cho người lao động, đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội và được xã
hội tôn vinh. Đây cũng là một cơ hội tự khẳng định sự nghiệp của các doanh
nhân trong thời kỳ đổi mới kinh tế. DNNQD cũng chính là nơi đào tạo và sàng
lọc các nhà quản lý DN qua thực tiễn kinh doanh, góp phần vào việc đào tạo lực
lượng cán bộ quản lý DN có chất lượng cao cho đất nước. Mặc dù không tránh
khỏi những bất cập và hạn chế, sự phát triển của các DNNQD đã tạo ra được đội
ngũ doanh nhân tiếp cận với kinh tế thị trường.
Sự phát triển DNNQD với các loại hình khác nhau đã góp phần làm cho
quan hệ sản xuất chuyển biến phù hợp với lực lượng sản xuất trong giai đoạn
chuyển đổi của nền kinh tế. Thị trường lao động được hình thành và phát triển,
các DN chủ động ký kết các hợp đồng lao động theo yêu cầu sản xuất kinh doanh,
tạo cơ hội trong việc tìm kiếm việc làm cho người lao động thay cho việc phân bổ
lao động vào các DNNN theo chỉ tiêu trong thời cơ chế bao cấp trước đây. Quan
hệ phân phối cũng trở nên đa dạng, linh hoạt, ngoài phân phối chủ yếu dựa theo
lao động, còn sử dụng các hình thức phân phối theo vốn góp, theo tài sản, theo cổ
phần và nhiều hình thức khác.
Sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối đã làm cho
quan hệ sản xuất trở nên mềm dẻo, đa dạng, linh hoạt, phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh nền kinh tế và tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay. Nhờ vậy đã khơi dậy
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

và phát huy tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt

giá lao động thấp, từ đó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn.
− Có thể duy trì sự tự do cạnh tranh
Các DNNQD với số lượng đông đảo, phần nhiều có quy mô không lớn, do
vậy thường khó có khả năng độc quyền trên thị trường. Các DN này dễ dàng và
sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh, có thể sản xuất sản phẩm chất lượng tốt
ngay cả khi điều kiện kinh doanh còn nhiều hạn chế, nhất là với những sản phẩm
có hàm lượng lao động thủ công cao. Nó làm cho nền kinh tế sống động và thúc
đẩy việc sử dụng tối đa các tiềm năng của mọi thành phần kinh tế.
− Các DNNQD sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức
độ rủi ro cao.
Do khó có thể cạnh tranh trên thị trường truyền thống của các DN lớn cũng như
các công ty, tổng công ty thuộc sở hữu nhà nước, các DNNQD thường tìm cách phát
triển những lĩnh vực mới, chấp nhận rủi ro cao để thu lợi nhuận.
1.3.2. Những hạn chế của loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bên cạnh những ưu thế mà các DNNQD có được, trong thực tiễn hoạt
động sản xuất kinh doanh, các DNNQD có những hạn chế nhất định. Từ khảo
sát các DNNQD có những hạn chế sau:
− Phát triển tự phát và thể hiện tính kém bền vững.
Các DNNQD với đặc trưng thuộc sở hữu tư nhân, hoạt động gắn liền với
lợi ích và động lực cá nhân, mục tiêu cao nhất là tối đa hoá lợi nhuận do đó dễ
dàng bỏ qua hoặc không coi trọng các mục tiêu kinh tế, xã hội khác. Bên cạnh
đó, do tính tự phát cùng với khả năng tài chính hạn chế, không có được sự bảo
hộ của Nhà nước nên khi có những biến động lớn về thị trường, các DN này dễ
đi đến tình trạng phá sản và dễ dẫn đến tình trạng đổ vỡ gây khủng hoảng kinh
tế nếu Nhà nước buông lỏng quản lý.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

− Hạn chế về quy mô
Trừ một số nước công nghiệp phát triển cao như CHLB Đức, Nhật Bản,
Mỹ… cùng với quá trình tư nhân hoá và làn sóng sáp nhập các công ty đã tạo ra

1.4. Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển
doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Qua các kỳ đại hội Đảng, sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh nói chung và các DNNQD nói riêng đang ngày càng được quan tâm đúng
mức và được khẳng định tồn tại lâu dài dưới sự đảm bảo của Nhà nước. Do vậy,
các chính sách, pháp luật đã được ban hành và điều chỉnh, bổ sung nhằm phá bỏ
mọi rào cản, tạo môi trường cho các DNNQD phát triển.
1.4.1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
Tháng 12.1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt quan
trọng trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khẳng định sự tồn tại
lâu dài của các thành phần kinh tế. Từ những đổi mới trong tư duy lý luận, cơ
chế chính sách, Đảng và Nhà nước đã đổi mới cách nhìn nhận về sự tồn tại của
các loại hình DN. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi trong sản
xuất kinh doanh của các DN trong nước và cả các DN liên doanh, liên kết với
các DN nước ngoài, khuyến khích mọi người tham gia kinh doanh, phát triển
sản xuất, mọi cá nhân có khả năng về vốn, kỹ thuật, công nghệ đều được phép
thành lập DN, hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật.
Tháng 03/1989, Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) khẳng định sự nhất
quán trong chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần để giải phóng mọi năng
lực sản xuất và coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

lâu dài , có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH. Nghị quyết đã nhấn
mạnh các hình thức kinh tế ngoài quốc doanh như cá thể, tiểu chủ, tư bản tư
nhân là cần thiết cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần ở nước ta.
Chủ trương đổi mới tiếp tục được khẳng định trong kỳ Đại hội lần thứ
VII của Đảng năm 1991. Tháng 04/1991, Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư
nhân ra đời và có hiệu lực đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các DNNQD

kinh doanh của mọi thành phần kinh tế. Tiếp đó, Nghị định 90/2001/NĐ-CP về
khuyến khích và hỗ trợ phát triển DN được ban hành. Theo đó, Nhà nước sẽ
thành lập các tổ chức tư vấn, điều phối và hỗ trợ DN như quỹ bảo lãnh tín
dụng, Cục phát triển DN của Bộ Kế hoạch và đầu tư, đồng thời xây dựng các
khu công nghiệp tập trung, hỗ trợ cung cấp thông tin, đào tạo, xúc tiến xuất
khẩu.
Như vậy, các chủ trương và quan điểm của Đảng đã có những đổi mới quan
trọng mang tính đột phá, từ chỗ nhận thức và hành động không thừa nhận nền
kinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế tư nhân là lực lượng phải cải tạo, đến xác
định mỗi thành phần kinh tế đều có vị trí quan trọng trong cơ cấu của nền kinh
tế, đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng
phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Từ chỗ coi kinh tế quốc
doanh là chủ đạo theo nghĩa các DNNN phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọi
ngành nghề, lĩnh vực, độc quyền, chi phối thị trường, đã chuyển sang coi khu
vực ngoài quốc doanh trong đó có các DNNQD là một bộ phận trong cơ cấu nền
kinh tế quốc dân, có khả năng góp phần xây dựng đất nước và được phát triển
không hạn chế trong các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được kinh
doanh, xuất nhập khẩu và đầu tư ra nước ngoài theo quy định chung, thực hiện
hợp tác với DNNN. Những nỗ lực trên đã tạo hành lang pháp lý để các DNNQD
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

có thể phát triển nhanh chóng và vững chắc, đóng góp cho sự phát triển kinh tế
của đất nước.
1.4.2. Chính sách của Nhà nước về phát triển doanh nghiệp ngoài
quốc doanh
Những chủ trương của Đảng trong các kỳ đại hội đã được cụ thể hoá bằng
các chính sách và pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho khu vực kinh tế
tư nhân nói chung và các DNNQD nói riêng phát triển nhanh chóng cả về số
lượng và quy mô hoạt động.
 Chính sách đất đai.

trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN.
Trong những năm qua, nhiều văn bản, pháp luật thuế, tín dụng và đầu tư đã được
ban hành theo hướng phù hợp hơn đối với các yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Năm 1994 Quốc hội đã ban hành ban hành Luật khuyến khích đầu tư
trong nước. Các chính sách về đầu tư đã góp phần tạo môi trường thuận lợi
cho các các DNNQD như được thuê mặt bằng trong các khu công nghiệp tập
trung; lập các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay trung và dài hạn; có các chế độ
ưu tiên, ưu đãi trong đầu tư vào một số ngành nghề, vùng lãnh thổ; bảo đảm
an toàn cho hoạt động đầu tư, đảm bảo tài sản và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư.v.v
Bên cạnh những chính sách về đầu tư, nhiều sắc thuế đã được ban hành và bổ
sung sửa đổi cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế như thuế giá trị gia tăng;
thuế thu nhập DN, thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế chuyển quyền sử dụng đất,
thuế nhà đất; thuế xuất nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế thu nhập với những
người có thu nhập cao… Các chính sách thuế đã có nhiều mặt tích cực hỗ trợ cho
các DNNQD trong hoạt động sản xuất kinh doanh như hệ thống thuế ngày càng
hoàn chỉnh hơn, đối tượng chịu thuế được mở rộng và không phân biệt các thành
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

phần kinh tế; thuế suất áp dụng thống nhất cho các đối tượng và giản đơn hoá; có
nhiều ưu đãi thuế cho các cơ sở kinh tế trong đó có DNNQD.
Về tín dụng, tháng 12/1997 Luật các tổ chức tín dụng đã được ban hành.
Nhà nước đã có những biện pháp cụ thể hỗ trợ về tín dụng đối với các DNNQD
trong đầu tư phát triển thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển, hỗ trợ trong các dự án
phát triển nông nghiệp nông thôn, trong các chính sách cho vay vốn tạo việc
làm. Thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển, các DNNQD có thể được vay với lãi suất
ưu đã thấp hơn lãi suất cho vay từ các Ngân hàng thương mại.
Nhìn chung, từ nhiều năm nay, Nhà nước ta đã coi trọng việc khai thác và
phát huy tiềm năng đầu tư của kinh tế ngoài quốc doanh; một bước tiến khá
quan trọng từ thể chế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang thể chế kinh tế thị

công nghệ mới, nhận chuyển giao công nghệ, đầu tư phát triển công nghệ.
Luật Khoa học và công nghệ được Quốc hội thông qua ngày 9/6/2000 xác
định rõ Khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững đất nước [3].
Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới chính sách khoa học công
nghệ với các nội dung:
- Xác định cách thức tiếp nhận công nghệ hợp lý thông qua đầu tư nước
ngoài, mua bằng phát minh, sáng chế. Khuyến khích đầu tư nước ngoài có
công nghệ tiên tiến.
- Khuyến khích các hoạt động đào tạo kỹ năng và xây dựng kết cấu hạ tầng
khoa học công nghệ, tạo thị trường và thông tin khoa học công nghệ cho khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động.

Trích đoạn Phương hướng phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hà Nộ Hoàn thiện môi trường pháp lý Đổimới và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách nhằm phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh Tăng cường chức năng định hướng quản lý của chính quyền địa phương Thành lập các tổ chức hỗ trợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status