MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Có thể nói, nỗ lực đổi mới không ngừng là hướng đi chủ yếu của văn học
Việt Nam sau 1975 và đú chớnh là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo
nên tính đa dạng và phong phú của giai đoạn văn học này. Đặc biệt, đối với
các nhà văn “hậu đổi mới” (từ giữa những năm 90 thế kỷ đến nay), vấn đề
quan tâm lớn nhất là “khụng còn là viết về cái gì mà viết như thế nào”. Có thể
thấy điều đó qua một loạt sáng tác của các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Huy
Thiệp, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thỏi,….Cựng với
những thay đổi về tình hình văn hoá - xã hội và xu thế cách tân mạnh mẽ của
văn học trong nước và thế giới, dòng văn học hải ngoại cũng có những bước
bứt phá, đổi mới về nhiều mặt. Trong số những cây bút tiêu biểu ấy, Thuận là
một gương mặt nổi bật với những trăn trở, thể nghiệm mới trong sáng tác.
1.2. Cho dù không ít người tỏ ra hoài nghi về số phận của tiểu thuyết thì đến
nay, tiểu thuyết vẫn tiếp tục phát triển và thực sự vẫn là “thể loại cỏi”, đóng
vai trò quyết định đối với sự phát triển và quy mô của bất cứ một nền văn học
văn học nào. Một mặt, tiểu thuyết xâm thực vào các thể loại, mặt khác, dung
nạp vào nó ưu thế của nhiều thể loại để tạo nên “dưỡng chất” cho mình. Ngay
cả cây bút xuất sắc trong lĩnh vực truyện ngắn như Nguyễn Huy Thiệp cũng
từng khẳng định: thời nay là thời của tiểu thuyết! Với Thuận, sau một số
truyện ngắn, tiểu thuyết thực sự là “cuộc phiêu lưu nguy hiểm” nhằm đi tìm
và khẳng định những giá trị mới của chị.
1.3. Những nỗ lực của Thuận đã được ghi nhận bằng sự chào đón nồng nhiệt
của độc giả và Tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2005 cho cuốn
Paris, 11 tháng 8 (2005). Chính vì vậy, nghiên cứu những cách tân trong tiểu
thuyết của Thuận là một hướng đi triển vọng trong việc nhìn nhận, khám phá
tài năng của nhà văn cũng như những hướng cách tân của tiểu thuyết Việt
Nam sau đổi mới. Đây cũng chính là lựa chọn của chúng tôi trong quá trình
thực hiện luận văn này.
1
2. Lịch sử vấn đề
bé trong các chiều kích thời gian: quá khứ - hiện tại – tương lai để thấy rõ hơn
thân phận của họ. Đặc biệt Thuận đã tạo “phong cách thơ” trong tiểu thuyết”.
Phong cách ấy được tạo nên bởi “nhiều câu mang tiết tấu lạ, nhưng cách đổi
nhịp vô cùng linh động…”, “bằng cách nói song hành khi tương phản khi hô
ứng”, “bằng cỏch luụn lạc đề, mải cuốn theo cuộc chạy đua với chữ”…
2.1.3. Trong một số công trình nghiên cứu khoa học, chúng tôi thấy có
nhiều ý kiến phân tích về những cách tân trên nhiều phương diện trong tiểu
thuyết của Thuận. Luận văn Ý thức về nhịp điệu trong một số tiểu thuyết Việt
Nam thời đổi mới của Lê Thị Thanh Huyền đề cập đến tính nhịp điệu được ý
thức rõ rệt trong tiểu thuyết của Thuận, đặc biệt từ cỏc phộp lặp ở nhiều cấp độ.
Trong luận văn Những cách tân nghệ thuật theo hướng hiện đại của tiểu thuyết
Việt Nam thời kì đổi mới, tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga cũng đề cập, phân
tích về những cách tân của Thuận ở phương diện nhân vật, tổ chức điểm nhìn
trần thuật và giọng điệu mang tính chất uymua đen. Nhịp điệu tiểu thuyết
Chinatown ở hai cấp độ cơ bản: lớp cấu trúc hình tượng và lớp cấu trúc hình
thức cũng đã được tìm hiểu trong báo cáo khoa học Nhịp điệu tự sự trong
Chinatown của Thuận của sinh viên Đỗ Thị Thoan (04/2006)
2.1.4. Những tiểu thuyết của Thuận đã gây sự chú ý đối với dư luận.
Điều đó thể hiện ở rất nhiều ý kiến đánh giá, phân tích phê bình, nhiều bài giới
thiệu sách, phỏng vấn được đăng trờn cỏc bỏo mạng hoặc website cá nhân:
- Ngôn ngữ Việt thừa tinh tế để sáng tạo [38]
- Phỏng vấn tác giả Made in vietnam [65]
- Khi nhà văn yên vị tức là lúc ngòi bút bất lực [46]
- Các bài phỏng vấn trên website Phongdiep.net [66]
- Với tôi mỗi tác phẩm như một chuyến đi xa. [30]
- Đụi nét về thi pháp và kết cấu của Chinatown [21]
3
- Thuận và Phố Tàu: dùng nghịch lí để kể những nghịch lí[22]
…………
Nhìn chung các ý kiến đều cho rằng Thuận đã có nhiều nỗ lực đổi mới
3.2. Phạm vi
Luận văn chủ yếu khảo sát các tiểu thuyết của Thuận đã được xuất bản:
1. Made in Vietnam
2. Chinatown
3. Paris 11 tháng 8
4. T mất tích
Ngoài ra, người viết sẽ tiến hành so sánh, đối chiếu với một số tiểu thuyết,
truyện ngắn của một số nhà văn trong và ngoài nước để làm nổi rõ hơn những
đóng góp nghệ thuật của Thuận.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê
Để khái quát những cách tân của Thuận, chúng tôi sự dụng phương pháp
khảo sát thống kê nhằm làm cơ sở cho những khái quát khoa học của mình.
Trong luận văn, phương pháp này được vận dụng chủ yếu khi: thống kê tần số
xuất hiện của các kiểu loại nhân vật trong tiểu thuyết của Thuận, khảo sát
thống kê tỉ lệ sử dụng câu (độ dài ngắn khác nhau), cỏc phộp lặp….
4.2. Phương pháp phân tích
Phương pháp này nhằm cụ thể hóa các phương diện cách tân trong tiểu
thuyết của Thuận dựa trên những nét khái quát mà phương pháp khảo sát
thống kê đã chỉ ra.
4.3. Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp nhằm tìm ra những cách tân của tiểu thuyết đương
đại, những cách tân của tiểu thuyết Việt Nam (trong nước và hải ngoại) sau
1975 trên cả hai bình diện lý thuyết và thực tiễn, làm rõ những cách tân của
Thuận trong tiểu thuyết so với các nhà văn trước đó và cùng thời.
5
5. Đóng góp mới của luận văn
- Lần đầu tiên luận văn đặt vấn đề nghiên cứu cách tân trong tiểu thuyết
của Thuận một cách tương đối hệ thống và toàn diện.
- Người viết sẽ cố gắng sử dụng những tri thức về thi pháp học và tự sự
đại, trong đó có Thuận.
1.1.1. Sự gây hấn và phá vỡ những rào cản truyền thống
Không còn nghi ngờ gì nữa, tiểu thuyết hiện đại có những sự khác biệt
rất lớn so vơi tiểu thuyết truyền thống. Người ta vẫn đọc H. Balzac, V.
Hugo nhưng rõ ràng quan niệm và cách thức tổ chức cấu trúc tiểu thuyết
hiện đại đó khỏc xưa rất nhiều. Trong tiểu luận xem xét về vấn đề cái mới
trong tiểu thuyết thế kỉ XX, Hoàng Ngọc Tuấn đã đề cập đến những quan
niệm cũ về tiểu thuyết, gồm những đặc điểm tổng quát sau đây:
7
Trước hết tiểu thuyết truyền thống được viết bằng văn xuôi và mang
tính cách hiện thực, chủ yếu nhắm vào việc thuật tả đầy đủ và trung thực
những kinh nghiệm trong đời sống con người. Loại văn xuôi hiện thực này
chủ yếu giải trí người đọc bằng cách kể chuyện, qua đó người đọc thích thú
theo dõi những phát triển và diễn biến đời sống của một hay nhiều nhân vật
có những đặc trưng cá nhân giống mình hoặc ngược lại với mình. Những phát
triển và diễn biến trong tiểu thuyết thường xảy ra theo trình tự thời gian và
dựa trên một chủ đề mang tính đạo đức hay luân lý. Và cuối cùng tính cách
mỹ học của tiểu thuyết nằm trong vẻ đẹp về hình thức, phản ánh qua ngôn
ngữ gọn gàng, súc tích, tính nhất quán giữa tổng thể và các phân đoạn, sự phát
triển tinh tế từ phần này đến phần kia. Vẻ đẹp hình thức có tác dụng làm cho
cuộc kể chuyện được mạch lạc, trôi chảy, hợp lý và do đó làm tăng khả năng
lôi cuốn người đọc vào cõi “hiện thực” hư cấu của câu chuyện.
Quan niệm hiện thực đã là một sự cách tân lớn so với quan niệm cổ
điển trước đó (đòi hỏi nghệ thuật thể hiện cuộc sống theo một khuôn thức lí
tuởng “như nú nờn là”).
Tuy nhiên để diễn tả hiện thực “như nó là”, tiểu thuyết phải sử dụng
ngôn ngữ như một tấm gương phản chiếu trung thực, hay là một khung cửa
không có màn che, qua đó mọi sự vật và diễn biến được nhìn thấy đúng như
sự thực không bị bóp méo. Chính ở chỗ này đã bộc lộ rõ những nghịch lý. Bởi
ngôn ngữ không bao giờ có thể đồng nhất với đối tượng được miêu tả, nghĩa
đó, tiểu thuyết sẽ trở nên tẻ nhạt, nhàm chán và lỗi thời.
Thế kỉ XX đã chứng kiến sự thay đổi của tiểu thuyết từ quan niệm đến
thực tiễn sáng tác trong tinh thần gây hấn và phá vỡ những rào cản truyền
thống. M.Kundera khẳng định, tiểu thuyết phải là sự khám phá cuộc sống ở
phía sau “tấm màn”. “Một tấm màn huyền ảo, dệt bằng những huyền thoại,
được treo trước thế giới. Cervantes cho don Quichotte ra đi và xé rách tấm
màn. Thế giới mở ra trước chàng kị sĩ lang thang trong sự trần truồng hài
hước của nó. Giống như một ngưũi đàn bà trang điểm trước khi vội vã đến
9
cuộc hẹn đầu tiên với tình nhân, thế giới, khi nó chạy đến với chúng ta vào giờ
khắc chúng ta sinh ta nú đó được trang điểm, đã đeo mặt nạ, đã được tiền diễn
giải.Và không chỉ những kẻ phò chính thống bị mắc lừa mà ngay cả những kẻ
nổi loạn hau háu đối nghịch với tất cả cũng thế, bọn họ nhận ra rằng mình dễ
bảo đến mức nào; bọn họ chỉ nổi loạn chống những gì được diễn giải (tiền diễn
giải) là đáng để nổi loạn. Chính bằng cách xé rách tấm màn của tiền diễn giải
mà Cervantes thiết lập thứ nghệ thuật mới mẻ này; hành dộng phá hủy của ông
được phản chiếu và được kéo dài trong mỗi tiểu thuyết xứng danh là tiểu
thuyết; đó là dấu hiệu bản nguyên của nghệ thuật tiểu thuyết” [27]
Như vậy tiểu thuyết theo M. Kundera, phải vượt qua, bóc trần tất cả
những sự thật diễn ra đằng sau tấm màn hào nhoáng che phủ thế giới. Chỉ có
như vậy mới khám phá được những góc khuất, những éo le, những điều
thường được che giấu, “ngụy trang” và hơn tất vả là sự truy tầm tới chiều sâu
của ý thức con người trước những vấn đề xã hội. Và khi đó con người hiện ra
với với khuôn mặt thật của mình, phơi bày tất cả những hỉ, nộ, ái, ố, những
mưu đồ, những dằn vặt, những hoang mang… Một thế giới bên trong phong
phú, bí ẩn, phức tạp, như chính hiện thực đời sống. Tiểu thuyết phải phá bỏ
trật tự tuyến tính giả định của hiện thực bên ngoài để từ đó một trật tự khác
của thế giới bên trong được nhìn thấy như chính nó. Một thế giới phi không
gian, phi thời gian, bất định, năng động và vĩnh viễn bất khả đoán. Một thế
giới của những khả năng, khả hữu, không phải của những câu chuyện đã kết
duy nghệ thuật của con người về thế giới.
So sánh với quan niệm về tiểu thuyết của các nhà lí luận thế kỉ XIX,
chúng ta thấy có một sự thay đổi rõ rệt trong tư duy về thể loại. Bờlinxki và
Turghenhep nhấn mạnh đến chức năng phản ánh của tiểu thuyết. “Tiểu thuyết
là sự phản ánh nên thơ đời sống xã hội. Bên trong nó quan trọng là sự huyền
bí của trái tim con người, sự tham gia của con người và những quan hệ của nó
với tất cả mối quan hệ quần chỳng….” (Bờlinxki). Cùng thời, Turghenhiev
(1818 – 1883), nhà tiểu thuyết vĩ cự phách của văn học Nga và Châu Âu cũng
11
từng nêu một nguyên lý đồng dạng: “Tiểu thuyết là lịch sử cuộc sống”. Chính
những quan niệm này đã thu hẹp phạm vi phản ánh của tiểu thuyết.
Một khi tấm màn huyền ảo, dệt bằng những huyền thoại bị xé rách,
thế giới hiện ra trong sự trần truồng và hài hước của nó cũng là lỳc thỏi độ
của con người trước cuộc sống hoàn toàn thay đổi. Không còn là khoảng cách
sử thi với những giá trị tuyệt đối, không còn thái độ sùng bái, ngưỡng mộ tôn
thờ. Con người nhìn thế giới với sự thản nhiên, thậm chí suồng sã, bỡn cợt.
Không còn là sự an tâm hay mặc nhiên thừa nhận đối với các giá trị đã được
định giá. Theo M.Kundera, “cuốn tiểu thuyết có tính tra vấn, mỉa mai, thoát
khỏi thiên kiến tư tưởng có thế giúp định hướng trong cái thế giới hiện nay
của những sự thật bị bóp méo và những tình cảm bị trương phình. Nếu như
trữ tình với cảm hứng thiếu suy nghĩ chỉ làm cho tư tưởng bị tê liệt đi, thì tiểu
thuyết bằng “sự hiền minh của hoài nghi” sẽ đánh thức tư tưởng dậy, giúp
hiểu ra sự phức tạp khôn cùng của cuộc sống”[26]. Kundera dành một vai trò
hết sức quan trọng cho sự mỉa mai khi ông đối lập “cỏi cười ác quỷ” mang
tính tra vấn khiêu khích và do đó đưa tới nhận thức với “cỏi cười thiên thần”
mang tính phụ họa, tán dương dẫn đến sự cảm nhận sai lệch về thế giới. Ngay
cả lịch sử một đối tượng đã được xỏc tớn và cần phải xem xét với thái độ
thành kính nhất thì ông vẫn cho rằng: “tiểu thuyết gia không phải là thằng hầu
của những sử gia. Anh không thể kể về hay bàn về lịch sử nhưng khám phá
những khía cạnh chưa biết tới của hiện hữu con người. Những biến động lớn
đầy chủ động của nhà văn, tức có dụng ý nghệ thuật và bộc lộ một quan niệm
nhất định của tác giả về đời sống.
Tính chất trò chơi nhìn từ phía những người tạo lập (nhà văn) có thể hiểu
là những thủ pháp nghệ thuật mà họ sử dụng nhằm chuyển tải một thông điệp
nào đó. Họ tự tạo ra trò chơi, đặt qui tắc và lôi cuốn khán giả vào trong đó.
Hiểu như vậy, tác phẩm không còn là những bài học, triết lý lớn lao, những
lời răn dạy mà chỉ là những nghi vấn, những băn khoăn, là những cuộc đối
13
thoại không ngừng giữa nhà văn - tác phẩm - độc giả. Và nhà văn không còn
phải gánh vác nhiệm vụ cao cả của một nhà đạo đức hay một nhà triết học hay
một người chiến sĩ, “dạy bảo”, chỉ dẫn tận tình cho độc giả với vai trò của
một kẻ “biết hết mọi thứ” mà tạo ra khoảng cách cần thiết để được phiêu lưu
với câu chuyện, với nhân vật và khuyến khích sự đồng hành của độc giả.
Ở phương diện trò chơi cấu trúc văn bản, nhà văn luôn nỗ lực tìm kiếm
một hình thức lạ hóa ngôn từ, lạ húa cỏch triển khai văn bản, nhằm thay đổi
sự tập trung hay phi tập trung của người đọc một cách thật biến hóa. Kết cấu
hiền hòa, đơn giản, thường đi theo trật tự tuyến tính thời gian trong tiểu
thuyết truyền thống đã không còn hấp dẫn, đã không còn có thể chuyển tải
những biến động, những xáo trộn phức tạp của đời sống hiện đại. Trong tiểu
thuyết hiện đại thể hiện rõ tinh thần phân mảnh tan rã, mỗi chương mỗi đoạn
là những mảnh đời sống vô cùng đa đạng và phức tạp và sự liên kết những
phân mảnh đó ở chiều sâu của nó tạo nên một ý niệm nhất quán nào đó về thế
giới. Những nỗ lực đổi mới này nhằm phá hủy cốt truyện truyền thống. Đồng
thời tự nó cũng mang nghĩa biểu đạt sự phân rã, đổ vỡ của hiện thực đời sống
đương đại. Con người sống trong vùng bủa vây của cô đơn, bất trắc, xô bồ,
hỗn loạn, trong một thế giới không liên kết. Cách biểu đạt tinh thần phân
mảnh này là một cố gắng của kĩ nghệ tự sự nhằm thể hiện cho được hiện thực
đời sống đầy lo âu hôm nay.
Tính trò chơi còn thể hiện ở phương diện nhân vật. Trong tiểu thuyết
truyền thống, nhà văn giữ vai trò Thượng đế tối cao, thấu hiểu mọi lẽ, “chỉ
được mời chọn một trong hai đề nghị sau đây: Cuốn thứ nhất có thể được đọc
theo lối thông thường và chấm dứt ở cuối Chương 56. Độc giả có thể bỏ hẳn
phần còn lại của cuốn sách mà không phải cảm thấy áy náy gì nữa. Cuốn thứ
hai nên được bắt đầu đọc từ Chương 73 và rồi theo trình tự được ghi chú ở
cuối mỗi chương”.[63]
Như thế Rayuela là một tiểu thuyết trong nó chứa ít nhất là hai cuốn tiểu
thuyết: một cuốn dài 56 chương dành cho những người ít kiên nhẫn và đọc
15
kiểu tiểu thuyết cũ để giải trí, một cuốn dài 155 chương dành cho người nhiều
kiên nhẫn thích thí nghiệm cách đọc nhảy lò cò. Ngoài ra dĩ nhiên nguời đọc
có thể tự mình sáng tạo những cách đọc khác. Như vậy với Rayuela, thế giới
phải được liên tục định nghĩa lại và để làm đuợc điều đó, độc giả và nhà văn
phải liên tục khám phá những gúc nhỡn mới.
Trong trò chơi tiểu thuyết, nhà văn vừa viết truyện vừa biểu hiện thái độ
tự phản tỉnh về lối viết của mình. Sự nghi ngờ trở thành bạn đồng hành của
tác giả vì vậy độc giả luôn bị đánh động, luôn bị đẩy ra khỏi tiến trình câu
chuyện để nhận thức rằng đây chỉ là một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải
phản ánh hiện thực gì cả. Độc giả vừa đọc truyện vừa được chứng kiến quá
trình suy nghĩ và viết lách của nhà văn. Trong cuốn Dans le labyrinthe (Trong
mê cung, 1959), Robbe Grillet đã sử dụng kỹ thuật mô tả sự vật cực kỳ chính
xác để dẫn người đọc đến một cảm giác an tâm như đi vào một tiểu thuyết
hiện thực, nhưng kỳ thực đó chỉ là một cái bẫy và bất ngờ người đọc đã thấy
mình rơi vào một thế giới phi thực từ lúc nào. Là người có kinh nghiệm về kĩ
thuật làm phim, Robbe Grillet ứng dụng cái nhìn qua ống kính vào tiểu thuyết
để thực hiện cuộc đánh bẫy người đọc. Cuốn tiểu thuyết mở đầu như thể một
ống kính đang thu hình khung cảnh tổng quát của một câu chuyện. Thế rồi
ống kính hướng về một sự vật cụ thể, cận cảnh, nhích dần từ vật này đến vật
khác và dừng lại để soi rọi chi tiết mỗi vật. Thế nhưng đến một lúc nào đó,
khi ống kính trở với khẩu độ bình thường, người ta kinh ngạc khi thấy khung
cảnh tổng quát đã hoàn toàn thay đổi thành một thế giới khác. Cứ thế người
cả, cuộc đời là một mớ chân lý tương đối mà những con người chia lấy cho
nhau” (M.Kundera). Trong xã hội bùng nổ thông tin, toàn cầu hóa, lượng tri
thức tăng vọt khiến mắt người không thể nhận thấy, phát hiện ra vạn vật với
bao cách nhìn khác nhau có thể biện minh được. Vì vậy tiểu thuyết hiện đại
khước từ thiên chức và sứ mệnh đi tìm chân lý, lý luận không còn có quyền
uy để đưa ra những chuẩn mực. Tính tương đống tuyệt đối lại được xác lập.
17
Mọi vật đều ngang nghĩa và ngang giá trong thế giới của cái hỗn độn, nơi mọi
giá trị đều bị hạ bệ.
Tiểu thuyết hoàn toàn không tin vào uy tín của những định hướng trước đó,
dẫn đến cái gọi là văn học khủng hoảng niềm tin, khủng hoảng uy tín, bất tín
nhận thức. Robbe Grillet từng viết: “Những ý nghĩa của thế giới, xung quanh
chúng ta, không gì hơn là mang tính chất bộ phận tạm thời, thậm chí mâu thuẫn
và luôn luôn được tranh cãi. Làm thế nào mà tác phẩm nghệ thuật lại có thể tính
chuyện minh họa cho một ý nghĩa biết trước, cho dù đó là ý nghĩa nào? Tiểu
thuyết hiện đại như chúng ta đã nói lúc đầu là một sự kiếm tìm, nhưng là sự
kiếm tìm mà chính nó dần dần tự sáng tạo ra những ý nghĩa của riêng nú”[14].
Và trò chơi như một phương thức tiêu biểu mà nhà tiểu thuyết muốn dùng để
chống chọi với tính thể chế trật tự giả dối của thế giới.
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, đặc biệt là từ sau 1990 ngoài sự gia tăng
mạnh mẽ các yếu tố huyền thoại, trào lộng, xu hướng ngắn gọn, dồn nộn…
cuộc thể nghiệm ở các tiểu thuyết triển khai từ quan niệm về tính trò chơi của
văn chương. Theo Nguyễn Thị Bình, nghệ thuật bao giờ chả có hư cấu bịa đặt
nhưng hư cấu ở văn chương truyền thống là để thuyết phục người đọc tin vào
tính chất thật của câu chuyện được kể. Còn ở “trũ chơi tiểu thuyết” bây giờ sự
hư cấu bịa đặt lại cố cho lộ liễu để vừa gián cách người đọc với câu chuyện
vừa gây men ngờ vực trong họ. Không đặt mục tiêu thuyết phục độc giả, nhà
văn bày ra cuộc chơi, bước vào cuộc chơi ấy độc giả có thể vừa thưởng thức
vừa chứng nghiệm. Chõu Diờn bày ra trò chơi của mình trong Người sông
Những quan niệm mới mẻ về tiểu thuyết tất yếu sẽ kéo theo sự đa dạng
về bút pháp và phong cách nghệ thuật. Nếu như trong tiểu thuyết truyền
thống, nguyên tắc tả thực được đề cao thì trong tiểu thuyết hiện đại, do quan
niệm cuộc sống như những “mảnh vỡ” nờn tớnh phi lý, phi thực đặc biệt được
chú ý. Các nhà văn có ý thức qua cái phi lý để biểu đạt cái hữu lý, qua cái phi
19
thực để khám phá chiều sâu của hiện thực. Hơn thế, hiện thực trong cuộc sống
không đơn giản là hiện thực được “nhỡn thấy” mà quan trọng hơn là thứ hiện
thực tự cảm thấy( Nguyễn Đăng Điệp). Tại đây, những chiều sâu tâm linh,
những trạng thái phi thực được hiển thị qua tài năng hữu hình hoá cái thế giới
vô hình của nhà văn. Trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại, có ba loại
bút pháp được thường xuyên sử dụng là bút pháp trào lộng, bút pháp tượng
trưng và bút pháp huyền thoại.
Quan sát những tiểu thuyết gây được sự chú ý của người đọc trong hơn
hai mươi năm đổi mới ( 1986 đến nay) như Thiên sứ ( Phạm Thị Hoài), Cơ
hội của Chúa( Nguyễn Việt Hà), Đức Phật, nàng Savitri và tôi( Hồ Anh
Thỏi) ta đều thấy các tác giả sử dụng khá thuần thục các bút pháp trên. Thiên
sứ Phạm Thị Hoài sử dụng rất nhiều yếu tố huyền thoại. Bé Hon là một thiên
sứ mong muốn mang đến tình yêu thương cho con người. Thoạt đầu, bé làm
cho mọi người mừng vui. Nhưng cuộc đời chật hẹp vật lộn với bao nhọc nhằn
mưu sinh đã khiến cho người ta dần xa lánh thiên sứ. Xem ra, tình yêu là một
thứ xa xỉ đối với cõi thế đầy vô cảm. Bé Hon ra đi giữa một ngày lạnh giá, bỏ
lại sau lưng nhiệm vụ dang dở. Trong Cơ hội của Chúa, bút pháp trào lộng
được sử dụng hiệu quả. Điều đó ám cả vào ngôn ngữ trần thuật: “ Gã bạn của
Tâm là thành viên chính của ban giám định, sếp ruột của gã là Phó Chủ tịch
tỉnh. Tiền mặt bạn ơi, hãy nói chuyện bằng tiền mặt. Gã hơi phờ phờ, khua cái
đùi gà trước mặt Tâm. Nắng xế hè, đất Ái Châu có tiếng là đẻ ra những hào
kiệt lắm mồm”[17;6]. Thuận cũng là nhà văn sử dụng bút pháp trào lộng sắc
sảo: “Con My túc khụng vàng, mơ trở thành tài tử điện ảnh. Mười bốn tuổi cao
một một sỏu lăm, ngực và mông nở, bụng mỏng dính. Mai Lan bảo kỷ lục của
nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của thời kì hậu
chiến. Tính chất chuyển tiếp thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phương
thức nghệ thuật và qui luật vận động của văn học. Ở nửa cuối thập kỉ 70,
những năm liền ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước,
21
khuynh hướng sử thi vẫn được tiếp tục nhưng mờ nhạt dần với những tiểu
thuyết , kí sự, hồi kí về chiến tranh , tiêu biểu như: Họ cùng thời với những ai
(Thỏi Bá Lợi), Tháng Ba ở Tõy Nguyờn (Nguyễn Khải), Năm 75 họ đã sống
như thế nào (Nguyễn Trớ Huõn), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oỏnh), Miền
cháy (Nguyễn Minh Chõu)…
Tất nhiên bên cạnh việc tiếp tục mảng đề tài lịch sử, tái hiện khai thác
“dữ liệu” từ cuộc kháng chiến chống Mĩ oanh liệt, văn xuôi sử thi sau 1975
cũng có những khác biệt nhất định so với trước. Nhà văn có tâm thế, điều kiện
để nhìn lại quá khứ phân tích lí giải những chiến công rạng rỡ cũng như thấm
thía những mất mát đau thương - hệ quả tất yếu của chiến tranh mà trước đây
họ phải tạm quên đi hoặc né tránh. Một số cây bút cũng đã kịp thời phản ánh
những bộn bề sau cuộc chiến, có niềm vui, hạnh phúc, được đoàn tụ, được tự
do được sống trong hòa bình, nhưng cũng có không ít những khó khăn phức
tạp thậm chí cả những mâu thuẫn xung đột trong cuộc sống ở một đất nước
mới hồi sinh, thống nhất (Những khoảng cách còn lại - Nguyễn Mạnh Tuấn,
Miền cháy - Nguyễn Minh Chõu….). Bước vào những năm đầu thập kỉ 80,
tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn chồng chất và rơi
vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Văn học cũng chững lại, không ít
người lâm vào tình trang bối rối mất phương hướng trong sáng tác. Họ vẫn
chưa thoát khỏi quán tính của dòng chảy văn học thời trước, lúng túng trước
một hiện thực mới, không còn chiến tranh, không còn tiếng súng, không còn
máu đổ nhưng cũng không kém phần cam go, phức tạp muôn dạng hình, cùng
với những đòi hỏi mới của người đọc. Nhưng đây cũng là thời điểm “lửa thử
vàng” của những người cầm bút. Những tìm tòi, trăn trở, suy tư thầm lặng mà
mãnh liệt ở một số nhà văn có tấm lòng và ý thức trách nhiệm cao về nghề đã
những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phức tạp.
So với những tác phẩm văn học trước đây, nhiệt tình phê phán của văn học
giai đoạn này dữ dội hơn rất nhiều. Tuy vậy, cảm hứng phê phán cú lỳc cũng đẩy
tới cực đoan. lệch lạc, nhiều cây bút bộc lộ một cái nhìn ảm đạm, hoài nghi.
23
Sự xuất hiện cảm hứng sự thật, quả thực là một tất yếu nhưng cũng là
điều tất yếu mà văn học phải vượt qua để tìm đến những chiều sâu mới.
Người đọc chờ nhà văn qua những vận động xã hội phức tạp đó đưa đến cho
họ những tổng kết nhân văn sâu sắc, lâu dài.
Từ cuối những năm 90 đến nay, trong xu thế ổn định của xã hội, văn
học về cơ bản cũng trở lại với những quy luật mang tính bình thường nhưng
không xa rời định hướng đổi mới theo hướng dân chủ hóa đã hình thành từ
những năm 80. Nếu như trước đó, động lực thúc đẩy văn học đổi mới là nhu
cầu đổi mới xã hội và khát vọng dân chủ, thì khoảng mười năm trở lại đây,
văn học quan tâm nhiều hơn đến sự đổi mới của chính nó. Vấn đề đặt ra
không còn là viết như cái gì mà là viết như thế nào, như có người đã nói:
“sỏng tạo nghệ thuật trước hết là sáng tạo hình thức”.
Những thể nghiệm mạnh bạo để cách tân tiểu thuyết được các tác giả
thực hiện trong hàng loạt tiểu thuyết gần đây: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Hồ
Quý Li (Nguyễn Xuõn Khỏnh), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), Cơ hội của
Chúa (Nguyễn Việt Hà), Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kì thủy, Ngồi
(Nguyễn Bình Phương), Người sông Mê (Chõu Diên), Giàn thiờu (Vừ Thị
Hảo), Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái),
China town, T mất tớch…(Thuận)……
Có thể nói tiểu thuyết Việt Nam là những nỗ lực thể nghiệm, có khi còn
dang dở, khó đọc, lạ lẫm, …những đặc điểm nổi bật là chúng đang nỗ lực
khước từ truyền thống, có thể thấy điều đó qua mấy phương diện sau:
1. Cách tân về qui mô, dung lượng:
Không còn là những đại tự sự với qui mô lớn về nhiều mặt: số trang,
nhân vật…tiểu thuyết Việt Nam đương đại chống lại quan niệm truyền thống
tác phẩm tiểu thuyết, ví dụ như Mai Trừng (Cõi người rung chuông tận thế)
có khả năng phát điện mỗi khi kẻ ác đến gần, linh hồn của Hoa, Hương,
Khánh (Người sông Mê). Thiên sứ của Phạm Thị Hoài lại xây dựng một số
nhân vật mang dáng dấp của nhân vật chức năng trong văn học huyền thoại
25