giới sinh vật hạt kín (đầy đủ thông tin về giới sinh vật hạt kín) - Pdf 24

GIỚI SINH VẬT HẠT KÍN
I. ÐẶC ÐIỂM CHUNG
Thực vật bậc cao gồm những cơ thể đa bào đã thoát ly
khỏi đời sống ở nước và chuyển lên cạn. Ðây là một bước biến
đổi quan trọng đối với thực vật. Từ đó dẫn tới hình thành những
đặc điểm mới ở thực vật bậc cao, tiến hóa hơn so với thực vật
bậc thấp.
Nếu như ở Thực vật bậc thấp ta gặp nhiều loài mà cơ thể
dinh dưỡng chỉ là một tế bào thì ở Thực vật bậc cao tất cả các
loài đều có cơ thể đa bào. Hơn nữa, tuyệt đại đa số cơ thể Thực
vật bậc cao phân hóa thành các cơ quan rễ, thân, lá (trừ ngành
Rêu chưa có rễ thật). Mỗi cơ quan đảm nhận chức năng riêng,
phù hợp với hoàn cảnh sống mới. Trong môi trường cạn thì
nguồn thức ăn từ đất (nước và các chất hòa tan) chỉ có thể
được đưa vào trong cây nhờ hệ thống rễ (trong khi đó ở môi
trường nước thức ăn hòa tan trong nước có thể được đưa trực
tiếp vào cơ thể thực vật), ngoài ra rễ còn giúp cây đứng vững
trong đất. Lá làm nhiệm vụ quan hợp, tổng hợp các chất hữu cơ
từ chất vô cơ. Còn thân làm nhiệm vụ nâng đỡ tán lá và vận
chuyển thức ăn.
Cơ thể thực vật không những phân hóa thành các cơ
quan khác nhau, mà mỗi cơ quan đều có cấu tạo phức tạp, và
phân hóa thành nhiều loại mô, trong đó quan trọng nhất là mô
dẫn. Mô dẫn làm nhiệm vụ chuyển nước và các chất hòa tan từ
rễ lên lá, và dẫn các chất hữu cơ do lá chế tạo ra đưa đến các bộ
phận của cây để nuôi cây. Mô dẫn đầu tiên chỉ gồm các quản
bào về sau có các mạch thông hoàn thiện dần.
Sống trên cạn, cơ thể thực vật còn chịu nhiều tác động
của điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, gió, độ ẩm thường xuyên
thay đổi. Ðể hạn chế những tác này và cũng nhằm làm giảm sự
thoát hơi nước của cây, phía ngoài cơ thể thực vật có một lớp

III. NGUỒN GỐC VÀ TIẾN
HÓA:
TOP
Về phương diện tiến hóa, Thực vật bậc cao là một nhóm
trẻ xuất phát từ thực vật bậc thấp (Tảo). Vấn đề nguồn gốc của
chúng có quan hệ chặt chẽ với sự xen kẽ thế hệ. Chúng có thể
phát sinh từ những tảo có xen kẽ thế hệ rõ ràng. Ðó là các ngành
Tảo lục , Tảo nâu và Tảo đỏ (Tảo hồng). Nhưng nhóm Tảo nào
là nguồn gốc của thực vật bậc cao đầu tiên thì hiện vẫn chưa đủ
tài liệu để chứng minh. Sở dĩ người ta cho rằng Thực vật bậc cao
có nguồn gốc từ các ngành tảo trên là vì người ta đã căn cứ vào
những đặc điểm sau đây để chứng minh điều này:
1. Trong lịch sử phát triển của trái đất, Thực vật bậc cao
xuất hiện sau Tảo.
2. Sự giống nhau giữa Thực vật bậc cao nguyên thủy
(Dương xỉ trần) với Tảo thể hiện ở tính chất phân nhánh đôi.
3. Sự giống nhau trong sự xen kẽ thế hệ.
4. Sự có mặt của túi giao tử đa bào ở Thực vật bậc cao và
ở một số Tảo.
5. Sự có mặt tinh trùng ở Thực vật bậc cao.
6. Sự giống nhau trong cấu tạo và chức phận của diệp
lục.
Một số nhà Thực vật học trong đó có Bower (1933) cho
rằng thực vật bậc cao đi ra từ Tảo lục, với lý do là giữa Tảo lục
và Thực vật bậc cao có một vài điểm giống nhau sau đây:
1. Chất mầu quang hợp (các sắc tố quang hợp) và sản phẩm
được tạo thành.
2. Sự có mặt trong nhóm các Tảo lục những dạng sống ở
cạn sinh sống trên bề mặt đất, trên vỏ cây
3. Sự có mặt của chất cutin ở một vài loài Tảo lục.

phát triển cao thì tổ chức cơ thể của chúng lại ở mức độ tiến hóa
còn cao hơn những dạng thực vật bậc cao đầu tiên. Ngoài ra còn
một vài điểm đáng chú ý nữa là: ở tế bào Tảo nâu có những sắc
tốvà chất dự trữ khác với các thực vật bậc cao (sắc tố ở Tảo nâu
là diệp lục tố a, c, phycoxantin, chất dự trữ là tinh bột), giao tử
đực ở Tảo nâu không có nhiều roi như ở phần lớn Thực vật bậc
cao. Sau cùng, những đại diện đầu tiên của ngành Rêu như ở
Lớp Rêu sừng cơ thể cấu tạo giống như ở Tảo lục.
Những điều trên chứng tỏ rằng vấn đề tổ tiên cụ thể của
Thực vật bậc cao còn chưa rõ ràng. Tuy nhiên có thể tin chắc
rằng thực vật bậc cao xuất phát từ một dạng tổ tiên nào đó thuộc
nhóm Tảo có xen kẽ thế hệ giống nhau (Tảo nâu hoặc Tảo lục).
Khi chuyển lên đời sống ở cạn, các tổ tiên của thực vật
bậc cao do phụ thuộc vào điều kiện môi trường khác nhau mà
phát triển ra hai dòng tiến hóa đơn bội và lưỡng bội khác nhau :
Dòng thứ nhất tiến hóa theo hướng Thể giao tử chiếm ưu
thế so với Thể bào tử, cho ra ngành Rêu; ngành này tiến hóa từ
cơ thể dạng tản đến dạng thân lá.
Dòng thứ hai, theo hướng thể bào tử chiếm ưu thế, hình
thành ra tất cả các Thực vật bậc cao khác. Dòng này phát triển đi
xa hơn, tới những dạng có tổ chức cao nhất như Hôût trần, Hôût
kín.
Thực vật bậc cao bao gồm những ngành sau: ngành Rêu
(Bryophyta), ngành Quyết trần (Rhyniophyta), ngành Lá thông
(Psilotophyta), ngành Thông đá (Lycopodiophyta), ngành Cỏ
tháp bút (Equisetophyta), ngành Dương xỉ (Polypodiophyta),
ngành Hột trần (Gymnospermatophyta/Gymnospermae), ngành
Hột kín (Angiospermatophyta/Angiospermae).
Sáu ngành đầu thuộc nhóm có bào tử (trừ Rêu, 5 ngành còn
lại thường gộp chung thành nhóm Quyết thực vật ), hai ngành

vi. Tinh trùng xoắn, có 2 roi, ít khi nhiều roi.
5. Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta)/Mộc tặc
(Sphenophyta): Thể bào tử thường là đơn trục hay phân nhánh
đôi. Lá có nguồn gốc chồi cành, nhỏ, xếp vòng. Rễ phát triển.
Hệ dẫn là trung trụ nguyên sinh hay trung trụ đốt. Quản bào
thang, ít khi điểm. Bào tử nang đài phân bố trên những bào tử
diệp hình khiên nhiều hay ít. Thể giao tử lưỡng tính hay đơn
tính. Tinh trùng xoắn nhiều roi.
6. Ngành Dương xỉ (Pteridophyta/Polypodiophyta): Thể
bào tử phân nhánh đôi. Lá có nguồn gốc chồi cành, lớn hay nhỏ
do kết quả của sự tiêu giảm. Rễ phát triển. Hệ dẫn có tất cả các
kiểu (từ trung trụ nguyên sinh đến trung trụ ống, trung trụ
mạng). Quản bào vòng xoắn hay thang. Bào tử nang đơn độc
hay tập hợp thành nang quần, phân bố ở đỉnh, ở mép hay ở bề
mặt lá. Cây có bào tử giống nhau hay khác nhau. Thể giao tử
lưỡng tính hay đơn tính to hay có kích thước hiển vi. Tinh trùng
xoắn, nhiều roi.
7. Ngành Hột trần
(Gymnospermae/Gymnospermatophyta)/Ngành Thông
(Pinophyta): Thể bào tử phân nhánh đơn. Lá thường có kích
thước nhỏ, có hình dạng khác nhau. Thân cấu tạo thứ cấp, nhưng
chưa có mạch thông: gỗ chỉ có quản bào điểm, chưa có sợi gỗ và
nhu mô gỗ. Bào tử nang tập hợp thành chùy, đơn tính hay lưỡng
tính ở đầu các ngọn cành. Cây có bào tử khác nhau. Thể giao tử
có kích thước nhỏ. Tinh trùng nhiều roi hay biến thành tinh tử
không roi và được chuyển tới túi noãn nhờ ống phấn. Hợp tử
phát triển thành phôi được bảo vệ bên trong lớp vỏ tạo thành hột
nằm trên những lá bào tử (lá noãn) hở.
8. Ngành Hột kín
(Angiospermae/Angiospermatophyta)/Ngành Ngọc lan

trong), gỗ với các quản bào vòng hoặc xoắn. Không có cấu tạo
thứ cấp.
Bào tử nang một ô, nằm đơn độc ở tận cùng các nhánh.
Thể giao tử chưa rõ.
Quyết trần được coi như là tổ tiên của thực vật sống trên
cạn. Từ chúng xuất hiện thành nhiều ngành thực vật bậc cao tiến
hóa theo hai hướng: hướng lá to ở dương xỉ (liên hệ với sự biến
đổi của chồi cành kiểu Rhynia) và hướng lá nhỏ như ở thông đá,
Cỏ tháp bút (liên hệ với sự hình thành lá từ những vảy hay
những phần lồi ra của mô bì kiểu Asteroxylon).

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

Hình 2: Một số Dương xỉ trần (Quyết trần)
1. Rhynia (a. Dạng chung; b. Cấu tạo cắt ngang thân; c. Hình cắt
dọc bào tử nang).
2. Horneophyton; 3. Asteroxylon.

NGÀNH RÊU (NGÀNH ÐÀI THỰC VẬT) BRYOPHYTA

I. ÐẶC ÐIỂM CHUNG TOP
Rêu là một trong những ngành Thực vật bậc cao đầu tiên có
cấu tạo rất đơn giản. Những đại diện thấp của chúng cơ thể còn
có dạng tản, các đại diện phức tạp hơn cơ thể đã phân hóa thành
thân và lá, nhưng chưa có rễ thật, mà chỉ có rễ giả đơn hoặc đa
bào, tức là những lông hút để giữ cây và hút nước, chưa có mô
dẫn.
Chính vì sự phân hóa các mô dẫn và mô cơ bản của Rêu
còn sơ khai, do đó chúng ít thích nghi với đời sống ở cạn.
Trong chu trình phát triển, thể giao tử chiếm ưu thế. Cây

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng) 2. Lớp rêu tản
(Marchantiopsida)
TOP
Cơ thể sinh dưỡng cũng dạng tản, cấu tạo mặt lưng và
mặt bụng khác nhau, chỉ một số ít phân hóa thành thân lá. Có
sinh sản dinh dưỡng và sinh sản hữu tính .
Ðại diện điển hình của lớp là bộ Rêu tản (Marchantiales).
Bộ này gồm khoảng 453 loài thuộc 33 giống và được xếp vào 12
họ. Ðại diện đã được nghiên cứu kỹ là cây là Rêu tản
(Marchantia polymorpha L.), thường ở chỗ ẩm, bờ sông, bờ
suối, chân tường ẩm Cơ thể sinh dưõng (Thể giao tử) là một
tản lớn hình bản mỏng, màu lục tối, phân nhánh đôi, phần giữa
tản dày gồm vài lớp tế bào tạo thành "gân" giữa chạy dọc theo
tản. Phía cuối mỗi nhánh của tản có một chỗ lõm chứa điểm sinh
trưởng. Nhờ điểm sinh trưởng mà tản phát triển theo chiều dài.
Mặt trên có vô số các lổ nhỏ li ti làm nhiệm vụ của khí khẩu (tuy
cấu tạo còn đơn giản). Mặt dưới tiếp xúc với đất mang nhiều rễ
giả đơn bào mọc ra từ những tế bào biểu bì dưới và một số vảy
bụng mỏng màu tím hoặc nâu phát triển ở vùng gân giữa, xếp
khít nhau và cả hai bên gân cũng có hai hàng vảy bụng.
Cắt ngang tản, từ mặt trên xuống mặt dưới có cấu tạo
như sau: một lớp tế bào biểu bì xen lẫn với các lổ khí gồm 16 tế
bào xếp chồng lên nhau thành 4 dãy ở chung quanh lổ, bên dưới
là phòng khí. Dưới lớp tế bào biểu bì là các tế bào chứa diệp lục

Rơi trên đất ẩm, bào tử nẩy mầm thành sợi cấp một, mỗi
sợi sẽ phát triển thành một rêu tản mới.
Như vậy ở rêu tản, hiện tượng xen kẻ thế hệ rất rõ, và ưu
thế thuộc thế hệ đơn bội (tức Thể giao tử ).

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

Hình 5: Marchantia polimorpha L.
A. Chụp đực cắt dọc cho thấy các hùng cơ.
B. Chụp cái cắt dọc cho thấy các noãn cơ.
C. Cấu tạo cắt ngang tản (Thể giao tử).

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

Hình 6: Marchantia polimorpha L.
Sơ đồ các giai đoạn phát triển kế tiếp nhau của chụp cái.

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

Hình 7: Marchantia polimorpha L.
A. Thể bào tử cắt dọc (a. Lớp tế bào bao; b. Bào tử; c. Sợi đàn ty
(đàn hồi);
d. chân; e. Chân; f. Mô của Thể giao tử). B. Chén truyền thể và
truyền thể.
C. Một phần của sợi đàn hồi và bào tử.

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

Hình 8: Chu trình sống của Marchantia polymorpha


nước).

* Rêu than hay Rêu tường (Funaria hygrometria Hedw),
thuộc Bộ Rêu (Bryales) thường mọc ở trên tường. Lá có một
đường gân giữa do các tế bào dài xếp xít nhau. Cuống của thể
bào tử cong ở ngọn. Bào tử nang mở bằng một vòng nứt ngang ở
trên làm thành một cái nắp. Khi bào tử nang chín, nắp rơi ra, để
lộ một vòng lổ nhỏ được che đậy bằng những vẩy hình lưỡi gà
(gọi là lông răng), khi lông răng quăn ngược lên các bào tử được
phóng thích ra ngoài. Phía bên ngoài nắp bào tử nang còn mang
một cái chụp là di tích của vách noãn cơ cũ.

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

Hình 11: Chu trình sống của Rêu tường (Funaria
hygrometica).

Nhìn chung ngành Rêu là một ngành tiến hóa thấp, chúng
xuất hiện khá sớm, nhiều đại diện nhìn thấy ở kỷ Pecmơ và kỷ
Than đá. Trong ngành, lớp Rêu sừng thấp hơn cả, gần gũi nhiều
với tảo. Tiếp đó là lớp Rêu tản rồi đến lớp Rêu có đặc điểm hình
thái tiến hóa hơn cả (nhưng thân vẫn chưa có bó mạch). Ðây là
một nhánh đặc biệt trong thang tiến hóa chung không tiến hóa
cao hơn nữa, và không phải là tổ tiên của thực vật sau này.

NGÀNH LÁ THÔNG (PSILOTOPHYTA)

Ngành Lá thông hiện nay cũng chỉ còn 2 giống là Psilotum
và Tmesopteris với vài loài. Ðó là những cây nhỏ, phụ sinh hay
sống trên đất mùn ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm. Chưa có

thân phân nhánh vào. Bào tử nang một ô nằm trên những lá đặc
biệt gọi là bào tử diệp hợp thành chùy ở ngọn cành. Bào tử
giống nhau hoặc khác nhau; bào tử nảy mầm thành nguyên tản
đơn giản. Hùng cơ và noãn cơ nằm trên nguyên tản. Sau khi thụ
tinh, hợp tử phát triển thành phôi lúc đầu còn sống trên nguyên
tản một thời gian, về sau phát triển thành một cây độc lập. Như
vậy ở Thông đá, thể bào tử chiếm ưu thế so với thể giao tử.
Các tổ tiên của ngành Thông đá đã được tìm thấy nhiều
vào kỷ Silua cũng với nhiều đại diện khác của ngành Quyết trần
là những dẫn liệu cho phép nói rằng ngành Thông đá có thể
xuất phát trực tiếp từ ngành Quyết trần, từ đó phát triển theo
hướng lá nhỏ.

II. PHÂN LOẠI
Theo K.R.Sporne (1966) , ngành Thông đá gồm có 5 bộ,
nhưng trong đó hầu hết các đại diện đã hóa đá. Ðó là những đại
diện có thân gỗ lớn và có vai trò trong việc hình thành các mỏ
than. Chỉ có 2 bộ Thông đất và Quyển bá là còn các đại diện
đang sống.

1. Bộ Thông đất
(Lycopodiales)
TOP
Bộ này đặc trưng ở chỗ có bào tử giống nhau phát triển
thành nguyên tản lưỡng tính, tinh trùng có 2 roi. Lá mọc xít trên
thân.
Bộ thông đất chỉ có 1 họ thông đất (Lycopodiaceae). Vài
loài phổ biến trong họ này như :
* Thông đất (Lycopodiella cernua (L.) Franco et Vasc. hay
Lycopodium cernuum L.): Cây nhỏ cao độ 30cm. Thường mọc ở

đối ở 2 bên, còn lá nhỏ thường mọc hơi chéo nhau làm thành
đường sống ở giữa.
Bộ Quyển Bá cũng chỉ có một họ Quyển Bá
(Selaginellaceae) với một giống Selaginella gồm khoảng 700
loài.

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

Các di tích hóa đá của bộ Quyển bá được tìm thấy ở đầu kỷ
Than đá và con cháu của chúng sau này chính là các đại diện
Quyển bá hiện nay.
Một số loài thường gặp:
* Quyển bá quấn (Selaginella involvens Spring): thân mọc
đứng lá ở hai bên khía răng và có ánh bạc ở mặt dưới. Thường
gặp ở khe đá, lòng suối.
* Quyển bá yến (S. delicatula(Desv.) Alston.): lá mỏng.
* Quyển bá râu (S. petelotii Alston): lá bên ở thân chính
xếp thưa hơn ở cành.
* Quyển bá tai liềm(S.pseudo - paleifera Hand. Mazz): dễ
nhận biết vì cành có nhiều lông và lá co tai nhỏ hình lưỡi liềm.
Cây mọc trong rừng ẩm.
* Quyển bá trường sinh (S. tamariscina Spring): thân mọc
thành cụm, làm thành một gốc cao tới 10cm, khi khô sẽ cuộn
cong lên: Cây mọc ở những nơi khô trên đá hoặc đất sỏi sạn ở
vùng gần biển. Dùng làm thuốc cầm máu và chữa đại tiện ra
huyết.


một phiến hình 6 cạnh, ở chính giữa bề mặt dưới có một cuống
nhỏ đính vào trục chùy. Mặt dưới bào tử diệp mang 6-8 bào tử
nang đài, trong có nhiều bào tử, hình cầu, chung quanh có 4 sợi
đàn hồi cuộn tròn. Khi khô, 4 sợi này sẽ duỗi ra, bắn bào tử ra
ngoài. Bào tử tuy giống nhau nhưng khi nảy mầm thì một số
phát triển thành nguyên tản đực, một số khác thành nguyên tản
cái. Nguyên tản là một bản nhỏ màu lục, phân chia thành những
thuỳ ngắn, có rễ giả. Nguyên tản đực nhỏ hơn nguyên tản cái, và
ở tận cùng các thùy là những túi tinh (hùng cơ) mang nhiều tinh
trùng có một chùm roi. Nguyên tản cái lớn hơn, có thể dài tới 1-
2cm, và noãn cơ nằm ở các khe giữa các thuỳ của nguyên tản.
Phôi lúc đầu còn sống nhờ vào nguyên tản cái, sau đó mọc ra
cây mới, tức là thể bào tử .
Ơí Việt Nam có vài loài phổ biến là:
* Có tháp bút (Equiestum arvense L.): thường mọc ở vùng
Sapa.
* Có đốt (E. debile Roxb): thường mọc ở nơi ẩm, ven bờ
sông suối và ở độ cao 700-900 (Ðà lạt), trước đây cũng gặp ở Hà
Nội. Chùy nhọn đầu.* Mộc tặc (E. diffusum Don): Chùy tù đầu, mọc ở Sapa.
Ngoài còn có loài E. hyemale L.var.japonicum Willd.(cũng
gọi là Mộctặc) được làm thuốc trong y học dân tộc để bệnh đau
bụng, đau mắt, trĩ. Các loài Equisetum đều có thân ráp vì thấm
silic nên được dùng để đánh bóng đồ gỗ, sừng, ngà.

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)
Lớp này chỉ gồm có một Bộ lưỡi rắn (Ophioglossales) với 1
Họ Lưỡi rắn (Ophioglossaceae). Ðó là những cây nhỏ có thân rễ
ngắn bò trên mặt đất. Lá gồm hai phần: phần mang bào tử nang
tập hợp thành chùy và phần không sinh sản hình phiến, có màu
lục. Bào tử nang không cuống, vách dày gồm nhiều lớp tế bào,
không có vòng cơ. Bào tử giống nhau.
`Hiện nay chỉ còn lại 3 giống: Lưỡi rắn (Ophioglossum), Quản
trọng (Helminthostachys) và Âm địa (Botrychium).

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

2. Lớp Toà sen
(Marattiopsida)
TOP
Cũng chỉ gồm một Bộ Toà sen (Marattiales), một Họ Tòa
sen (Marattiaceae).
Lá nhiều khi rất lớn, một hai lần lông chim, gốc thường
phồng lên. Lá non cuộn tròn. Bào tử xếp xít nhau thành quần
(gọi là nang quần) ở mặt dưới lá. Vách bào tử nang dày, có
vòng cơ thô sơ. Bào tử giống nhau.
Họ có 6 giống, trong đó hai giống hay gặp là Angiopteris
và Marattia.
* Móng trâu - Angioteris evecta(Forst): thân rễ đứng, nữa
hình cầu. Lá rất to dày đến 1,5m kép lông chim, gốc cuống lá
phồng trông như móng con trâu hay con ngựa, do đó toàn bộ củ
nổi lên mặt đất trông như toà sen của đức phật. Cây mọc phổ
biến ở các khe suối trong rừng núi SaPa, Ba vì, Cúc phương
thân rể có thể ăn được hay dùng để chăn nuôi.

(Xem hình vẽ trong tập bài giảng)

và Salviniales; còn Bộ Osmundales lại thuộc lớp phụ
Osmundidae. Như vậy Bộ Filicales là sự gọp chung của 3 bộ
Schizaeales, Polypodiales và Cyantheales.
Ðể đơn giản hơn trong việc học của Sinh viên, trong bài
soạn cũng theo hệ thống phân loại của Takhtajan (tức lớp này
được phân thành 6 bộ) nhưng tôi không chia thành những phân
lớp mà đi trực tiếp đến bộ. Ðây cũng là cách phân chia như Tác
giả Hoàng Thị Sản trong sách Phân loại học Thực vật.
Như vậy, Lớp Dương xỉ có trên 10.000 loài chia thành 6
bộ: Osmundales, schizaeas, Polypodiales, Cyatheales,
Marsileales và Salviniales với các họ như sau:
Bộ 1: Osmundales
Họ 1: Osmundaceae
Họ 2: Plagiogyriaceae
Bộ 2: Schizaeales
Họ 1: Schizaeaceae
Họ 2: Platyzomataceae
Họ 3: Adiantaceae (Pteridaceae)
Bộ 3: Polypodiales
Họ 1: Gleicheniaceae
Họ 2: Matoniaceae
Họ 3: Dipteridaceae
Họ 4: Cheiropleuriaceae
Họ 5: Polypodiaceae
Họ 6: Grammitiraceae
Bộ 4: Cyatheales
Họ 1: Cyatheaceae


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status