điều tra tình hình chăn nuôi và 4 bệnh đỏ trên đàn lợn nuôi tại xã đa, như thanh, thanh hoá - Pdf 24

Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập tại TTTN và ĐTN trờng Trung cp kinh tờ, tôi luôn
nhận đợc sự chỉ bảo tận tình cuả các thầy cô giáo trong trờng, đặc biệt là của các Thầy
Cô giáo trong khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Nhân dịp làm đề tài
tốt nghiệp tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới toàn thể các Thầy Cô giáo.
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi luôn
nhận đợc sự hớng dẫn tận tình của Cô giáo Nguyễn Thị Bảy và các Thầy Cô giáo
trong bộ môn TTTN và ĐTN . Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy Cô.
Tôi xin chân thành biết ơn gia đình, bạn bè, ngời thân, những ngời đã giúp tôi
cả về vật chất và tinh thần trong quá trình học tập tại trờng.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Hải Vân huyện Nh Thanh tỉnh
Thanh Hoá đã tạo điều kiện cho tôi hoàn khoá luận tốt nghiệp này.
Hà nội, ngày tháng năm 20
Sinh viên
Lê Văn Thu
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
1
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
Phần I
Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi thú y ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự chuyển dịch
kinh tế, xóa đói giảm nghèo và làm giàu của ngời dân.
Xã Hải Vân - Huyện Nh Thanh là một huyện miền núi nhng lại có một số lợng
đàn gia súc, gia cầm tơng đối lớn. Để bảo vệ an toàn dịch bệnh cho 500 con lơn, 7000
con gia cầm và 215 con gia súc thì công tác phòng bệnh chiếm một vị trí hết sức quan
trọng, đặc biệt là trong việc phòng bệnh chủ động bằng vacxin. Trong điều kiện chăn
nuôi nông hộ ở nớc ta hiện nay nói chung. Xã Hải Vân - Huyện Nh Thanh - Tỉnh
Thanh Hóa nói riêng, do trình độ dân trí còn thấp, khả năng tiếp thu khoa học kỹ

thờng có triệu chứng bại huyết, xuất huyết hoại tử, loét ở nhiều bộ máy.
Bệnh dịch tả lợn đợc biết đến đầu tiên ở Bắc Mĩ từ năm 1833. Năm 1885
Xamon simit cho rằng bệnh gây ra do một số loại vi khuẩn mà hai ông đặt tên là
Bacillas choleasuis. Sau đó bệnh xuất hiện ở nhiều nớc Châu Âu, năm 1862 ở Anh,
năm 1887 ở Thụy Điển và Đan Mạch sau đó ở Pháp và Italia .
Năm 1903 Savannit và Docxet (Mỹ) đã chứng minh rằng căn bệnh là một virut,
còn vi khuẩn Pacillus choleraesuis chỉ đóng vai trò phụ. Bệnh dịch tả lợn có ở khắp
nơi trên thế giới. ở Châu Âu có ở Pháp, ở Châu Mĩ bệnh còn phát triển mạnh. ở nớc
ta bệnh dịch tả lợn còn gây nhiều thiệt hại năm 1949-1950, một vụ dịch lớn xảy ra ở
Việt Bắc rồi lan sang các Tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên . Bệnh dịch tả lợn
gây ra do một loại virus qua lọc gọi là Tortor suis, đợc xếp vào loại virus qua lọc nhỏ
nhất, có hình cầu. Bệnh dịch tả lợn do virus có cấu trúc ARN thuộc họ Flavirus, giống
Pestisvirus. Đây là bệnh có tình lây lan nhanh mạnh. Trong điều kiện tự nhiên tất cả
các giống lợn đều mắc nhng nặng nhất là lợn con, lợn cai sữa, lợn nái mắc truyền cho
lợn con.
Virus thờng xâm nhập vào cơ thể qua đờng tiêu hoấ, đờng niêm mạc (mắt mũi,
sinh dục) ngoài ra còn qua đờng da, qua vết thiến giải phẫu, không khí bị nhiễm virus
qua các chất bài xuất của lợn chứa mầm bệnh, nớc mắt, nớc mũi, nớc tiểu, phân .
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
3
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
2.1.2. Triệu chứng:
Sau thời kỳ nung bệnh từ 3-4 ngày đến 8 ngày hay hơn (Tuy độc lực số virus
trong cơ thể và sức đề kháng của con vật) bệnh xuất hiện với 3 thể, quá cấp tính, cấp
tình và mạn tính.
- Thể quá cấp tính hay kịch liệt:
Bệnh phát ra nhanh chóng, con vật đang khỏe tự nhiên chê cám, ủ rũ, sốt đến
40-41-42
0

gạch, xuất huyết phủ chất bựa nhày có khi có những mụn loét sâu có bờ.
Niêm mạc ruột nhất là van hồi manh tràng, trực tràng, hậu môn, viêm xuất
huyết có nốt loét. ở ruột già đầu tiên các nang lâm ba sng lên, bị hoại tử. Từ đó hình
thành các nốt loét nhỏ phủ sợi huyết to dần lên, có thể bằng đồng xu hay hơn, những
mụn loét này phủ vảy, bao gồm tổ chức hoại tử và fibrin màu vàng lục, nâu hoặc trắng
xám, nổi lên trên niêm mạc ruột thành mụn loét hình cúc áo. Hạch lâm ba tụ máu, s-
ng màu đỏ sẫm, tím bầm, xuất huyết phía vỏ và chu vi. Khi bổ đôi thấy có ba trạng
thái xuất huyết là xuất huyết thành vân nh đá cẩm thạch, xuất huyết chung quanh
hoặc xuất huyết toàn bộ.
Lách không sng hoặc ít sng có hiện tợng nhồi huyết, xuất huyết ở viền lách, ở
rìa lách hình thành những khối màu đen thẫm hoặc xám, những nốt xuất huyết lồi ra
ngoài nổi lên từng chỗ làm cho viền lách lồi lõm không đều thờng có hình tam giác.
Thận xuất huyết ở lớp vỏ, ở mô thận bên ngoài thành những chấm đỏ hoặc tía
2.1.4. Chẩn đoán:
+ Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học
Bệnh dịch tả lợn có tính lu hành mạnh, lây lan nhanh và gây thiệt hại nhiều cho
lợn, lợn ở mọi lứa tuổi, nhất là lợn con, mùa vụ quanh năm, tỷ lệ ốm cao, tỷ lệ chết
cao.
+ Chẩn đoán dựa vào triệu chứng bệnh tích
Con vật sốt cao 41-42
0
C. Xuất huyết lấm tấm trên vùng da mỏng, mắt viêm dữ,
ỉa chảy.
Phân lỏng, có mùi thối khắm, đặc biệt van hồi manh tràng có vết loét hình cúc
áo, lách nhồi huyết, ở rìa thận lấm tấm xuất huyết.
+ Chẩn đoán virus học
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
5
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu

có virus dịch tả lợn. Còn nếu trong 3 thỏ thí nghiệp này có 1 trong 3 thỏ sốt điển hình
chứng tỏ bệnh phẩm không có virus dịch tả lợn.
+ Phản ứng miễn dịch huỳnh quang:
Virus dịch tả lợn tìm thấy ở các phủ tạng sau khi nghiền nát chất nghiền đợc
trực tiếp nuôi cấy vào môi trờng tế bào PK15 và virus đợc phát hiện trong các tế bào
bằng các kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang: Tế bào nhiễm virus đợc phát hiện khi kiểm
tra trên kính hiển vi huỳnh quang, một màu xanh của bào tơng, so với tế bào không
nhiễm sẽ không bắt màu.
Dùng kháng thể dịch tả lợn đã nhuộm màu huỳnh quang, cho tác động với
kháng nguyên là bệnh phẩm nghi có chứa virus dịch tả lợn đã đợc cố định trên tiêu
bản. Nếu:
- Kháng thể dịch tả lợn gặp kháng nguyên tơng ứng tức là virus dịch tả lợn có
trong bệnh phẩm thì xuất hiện sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể,
phức hợp này bám chặt vào nhau khi rửa nớc sẽ không bị trôi đi. Khi soi dới kính hiển
vi huỳnh quang sẽ thấy có sự phát sáng của phức hợp kháng nguyên-kháng thể dịch tả
lợn đợc nhuộm màu huỳnh quang (Phản ứng dơng tính)
- Kháng thể dịch tả lợn không gặp kháng nguyên tơng ứng, không có sự kết hợp
đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, vì khi rửa nớc kháng thể nhuộm màu
huỳnh quang sẽ bị trôi đi, do đó khi soi dới kính hiển vi huỳnh quang sẽ không có sự
phát sáng của chất huỳnh quang (phản ứng âm tính).
2.1.5. Phòng bệnh:
* Vệ sinh phòng bệnh:
- Khi dịch cha xảy ra: Vệ sinh thức ăn, nớc uống, chuồng trại, vệ sinh thân thể
con vật, máng ăn, máng uống, tiêu độc khu vực chuồng trại xung quanh, chăm sóc
nuôi dỡng chu đáo, đảm bảo chế độ khẩu phần ăn hợp lý.
Tất cả các biện pháp trên nhằm tiêu diệt mầm bệnh ở ngoài môi trờng và trên
nhân tố trung gian truyền bệnh nâng cao sức đề kháng không đặc hiệu cho con bệnh.
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
7
Báo cáo tốt nghiệp

Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
8
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
thũng ở tổ chức liên kết dới da, cổ họng, hầu, làm con vật khó thở, thở khò khè, cổ
duỗi thẳng, mũi phồng ra khép lại từng hồi, các niêm mạc đỏ sẫm hoặc tím bầm, nổi
xuất huyết, những đám tụ máu ở tai, cổ, bụng, phía trong đùi, con vật chết do ngạt
thở.
* Thể cấp tính
Lợn ủ rũ, ăn kém hoặc bỏ ăn, lợn khó thở, thở nhanh, có tiếng khò khè ớt trong
phế quản, chảy nớc mũi đặc, nhờn, đục, có khi có mủ, có máu, ho khàn từng tiếng, ho
rút toàn thân, đau vùng ngực. Trên da nổi lên những chấm đỏ hoặc đám tím bầm ở
chỗ da mềm, cổ, họng, ngực, bụng, bẹn, phía trong đùi. Con vật lúc đầu đi táo, sau ỉa
chảy, có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyết ruột. Bệnh tiến triển từ 3 đến12
ngày, con vật gầy yếu dần, ít ăn hoặc không ăn rồi chết
* Thể mạn tính.
Con vật gầy yếu dần, viêm khớp, ỉa chảy liên miên, lợn ho, thở khó, thởnhanh,
đặc biệt lúc vận động liên kết dới da có những đám bã đậu.
2.2.3. Bệnh tích
* Thể quá cấp tính
Lợn chết nhanh, trong vòng 12-24 giờ. Bệnh tích không đặc trng, chỉ thấy tụ
huyết ở niêm mạc, tơng mạc ngoại, tâm mạc, mỡ vành tim, các hạch lympho xuất
huyết, phù, đặc biệt đám bạch hầu viêm thấm tơng dịch.
- Lách sng tụ máu
- Thận ứ máu
- Phổi xuất huyết, thủy thũng thấm tơng dịch
* Thể cấp tính
Xác chết béo do con vật chết nhanh. Xác chết tím bầm hoặc hình thành những
đám tụ máu không có hình dạng nhất định. Nếu mổ ra bệnh tích tập trung ở nhiều cơ
quan bộ phận, tổ chức dới da thấm dịch nhớt keo nhày màu hồng, rễ đông nh lòng

Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
10
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
Cầu trực nhỏ ngắn, hình trứng, hai đầu tròn bắt màu sẫm ở hai đầu, khi vi
khuẩn đứng riêng lể hay chuỗi dài vài đơn vị, vi khuẩn có giáp mô. Cấy vi khuẩn trên
thạch máu hoặc thạch đĩa sẽ thấy khuẩn lạc dạng S mọc sau 24 giừo không dung
huyết.
Tiêm cho động vật thí nghiệm, tiêm dới da hay phúc mạc, bệnh phẩm hoặc
canh trùng phân lập cho thỏ hoặc chuột bạch. Động vật thí nghiệm chết sau 24-28 giờ
*Chẩn đoán phân biệt
Cần phân biệt với bệnh dịch tả lợn, có triệu chứng hô hấp nh: Khó thở, thở khò
khè, chảy nớc mũi đặc và bệnh tích nh phổi viêm tụ máu có nhiều vùng gan hóa.
Phân biệt với bệnh đóng dấu lợn và bệnh phí thơng hàn lợn, bệnh viêm phổi địa
phơng, bệnh cúm lợn.
2.2.5. Biện pháp phòng trị
+Phòng bệnh
- Khi dịch cha xảy ra: Vệ sinh thức ăn, nớc uống, chuồng trại, vệ sinh thân thể
con vật, vệ sinh máng ăn, máng uống. Tiêu độc khu vự chuồng trại xung quanh. Chăm
sóc nuôi dỡng chu đáo đảm bảo chế độ khẩu phần ăn hợp lý, khia thác vận chuyển
khoa học
- Tất cả các biện pháp trên nhằm tiêu diệt mầm bệnh ở ngoài môi trờng và nhân
tố trung gian truyền bệnh để nâng cao sức đề kháng không đặc hiệu cho con vật.
- Khi dịch đã xảy ra: Thực hiện các biện pháp vệ sinh thú y, biện pháp kỹ thuật
và biện pháp hành chính để bao vây, khống chế, tiến tới dập tắt ổ dịch.
- Xử lý xác chết, thức ăn, nớc uống thừa, phân, rơm rác độn chuồng, tiêu độc
dụng cụ chăn nuôi, máng ăn, máng uống.
Ngoài các biện pháp vệ sinh thông thờng nh ở mục trên nhằm nâng cao sức đề
kháng cho con vật thì biện pháp không thể thiếu đợc là tiêm phòng vacxin để tạo miễn
dịch chủ động cho con vật. Tiêm kỳ 1 năm 2 đợt vào tháng 3-4 và 9-10. Ngoài 2 đợt

0
C kéo
dài trong nhiều ngày (Vì vi khuẩn gây ra viêm loét ruột, đặc biệt là ruột già). Trong
quá trình sốt, lợn đi táo, khi hạ sốt lợn ỉa chảy phân loãng nhiều nớc, thối khắm. Nhìn
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
12
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
vào bãi phân thấy những hạt gờn gợn giống nh vãi cám vào chậu nớc. Lợn thờng kêu
rít. Lúc đầu đi táo, rặn nhiều, cơ vòng hậu môn không co lại đợc, phân chảy ra tự
động, da, lông gần hậu môn dính đầy phân.
Những ngày sau trên những vùng da mỏng: Mõm, đỉnh tai, bụng, mặt trong đùi
hình thành những nốt màu tím. Bệnh tiến triển vài ngày, con vật gầy còm, kiệt sức mà
chết.
* Thể mạn tính
Thờng xảy ra ở lợn lớn, lợn gầy còm, lúc táo bón, lúc ỉa chảy, ở những vùng da
mỏng xuất hiện những đám tím bầm về sau vùng da đó bị hoại tử bong đi. Lợn nái có
thể bị xảy thai.
2.3.3. Bệnh tích
Thể cấp tính
- Xác chết gầy do ỉa chảy mất nớc, xác chết bẩn đặc biệt da vùng hậu môn có
biểu hiện lòi dom (trực tràng). Những đám tụ máu màu tím, tím xanh rõ nhất ở chỏm
tai, bốn chân. Nếu mổ ra bệnh tích tập trung ở nhiều cơ quan bộ phận.
- Bộ máy tiêu hóa: Viêm niêm mạc dạ dày, ruột hoặc viêm loét niêm mạc dạ
dày, ruột đặc biệt niêm mạc phần cuối hồi tràng, niêm mạc ruột già. Trên niêm mạc
vùng này dần dần hình thành các nốt loét, vết loét lan tràn, bờ nông, trơn, trên nề mặt
có phủ lớp bựa trắng xám. Nếu gạt bựa dới có màu đỏ do xuất huyết.
- Lách với những lợn chết nhanh ở đầu ổ dịch, lá lách sng to do tụ máu, với
những lợn bệnh tiến triển chậm chết ngay ở cuối ổ dịch, lá lách không sng, thờng dai,
dùng hai tay kéo co dãn giống nh cao su, bên trong lá lách có thể có những ổ áp xe.

C sau 24 giờ vi khuẩn phát triển tốt có cặn
mịn dới đáy, trên có lớp màng mỏng, môi trờng có mùi thối. ở môi trờng thạch thờng
vi khuẩn phát triển dạng S, tròn, trơn, bóng, láng. ở môi trờng máu khuẩn lạc phát
triển tốt hơn môi trờng môi trờng thạch thờng, vi khuẩn to hơn không làm dung huyết
thạch máu. Nếu cấy vào môi trờng Macconkey trong môi trờng này có đờng lactora vi
khuẩn salmolells không lên men, khuẩn lạc không màu.
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
14
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
Tiêm hỗ dịh bệnh phẩm hoặc dùng canh trùng sau khi nuôi cấy tiêm cho chuột
bạch hoặc thỏ. Con vật chết trong 24-48 giờ, con vật chết trong tình trạng bại huyết,
xuất huyết, có những điểm hoại tử ở gan.
+ Chẩn đoán phân biệt: Cần phân biệt với bệnh dịch tả lợn, đóng dấu lợn, tụ
huyết trùng lợn, nhiệt thán.
2.3.5. Phòng trị
* Phòng bệnh
Vệ sinh thức ăn nớc uống, chuồng trại, vệ sinh thân thể con vật, vệ sinh máng
ăn, máng uống, tiêu độc khu vực chuồng trại. Khai thác vận chuyển khoa học, các
biện pháp này nhằm tiêu diệt mầm bệnh ở ngoài môi trờng.
Khi dịch đã xảy ra: Thực hiện các biện pháp vệ sinh thú y, các biện pháp kỹ
thuật và biện pháp hành chính để bao vây tiến tới dập tắt ổ dịch, cách ly những con bị
bệnh, xử lý xác chết, tiêu độc, khử trùng dụng cụ chăn nuôi. Tiêm phòng vacxin.
* Trị bệnh:
Cha có phơng pháp điều trị hiệu quả, khó điều trị ở thể cấp tính bệnh tiến triển
nhanh, chỉ nên điều trị những trờng hợp nhẹ, tiến triển chậm.
- Dùng kháng huyết phó thơng hàn lợn tiêm cho lựon con 15 ngày tuổi hoặc
dùng kháng sinh Teramixin.
- Bảo vệ niêm mạc ruột bằng những cây lá chát nh: búp ổi, búp sim, nớc trà
đặc, cháo gạo nếp

có giói hạn rõ rệt, không đau, không có thùy thũng, hơi sng. Dấu hình vuông, hình
quả trám, hình bầu dục, lúc đầu màu đỏ tơi dần dần biến thành màu đỏ thẫm hoặc tím
bầm.
Bệnh tiến triển từ 305 ngày, con vật yếu dân thở khó.
+ Thể mạn tính
Thể này thờng tiếp thep thể cấp hay thể thứ cấp, con vật ăn uống kém, gầy còm,
thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, da khô, lông xù, con vật liệt chân sau.
2.4.3. Bệnh tích
+Thể quá cấp tính
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
16
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
Bệnh tích không rõ chỉ thấy thận viêm sng, có những đám tụ máu, xuất huyết.
+ Thể cấp tính:
Trên da xuất hiện dấu màu tím bầm hoặc tím xanh, da và mô liên kết dới da tụ
máu, thấm nớc nhớt, đỏ ửng, màu hồng.
Phổi viêm tụ máu
- Thận sng to màu đỏ sẫm hay đỏ xanh, trên mô thận có mảng tròn đỏ hoặc
vuông.
- Lá lách sng to, tụ máu màu đỏ nâu, mặt sần sùi nổi phồng từng chỗ, cắt thấy
màu nâu dễ nặn, mềm.
- Hạch lâm ba sng to ứ máu, thấm nớc, có lấm chấm xuất huyết
- Ruột viêm đỏ, nhất là tá tràng và hồi tràng, tấm pie tụ máu sng đỏ
- Dạ dày viêm đỏ, nhất là vùng hạ vị
- Tim tụ máu, nội và ngoại tâm mạc xuất huyết
+ Thể mạn tính:
Viêm nội tâm mạc, van tim sần sùi nhất là van tim trái. Viêm khớp xơng bàn
chân, đầu gối sng, nóng đau. Đầu xơng sần sùi, da khô hoại tử, chết, lột từng lớp, từng
mảng, viêm ruột mạn tính.

+ Điều trị
Dùng thuốc điều trị vi khuẩn gram (+) pilicillin cần điều trị sớm và điều trị liều
cao ngày từ đầu.
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
18
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
Phần III
đối tợng nội dung và ph ơng pháp nghiên cứu
3.1. Thời gian nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số nội
dung sau:
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
19
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
3.1.1. Điều tra tính hình chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà tại xã Hải Vân- huyện
Nh Thanh - Tỉnh Thanh Hóa.
3.1.2. Điều tra tình hình phòng chống dịch bệnh cho đàn lợn nuôi tại xã
Hải Vân.
- Vệ sinh phòng bệnh
- Vacxin phòng bệnh
3.1.3. Điều tra tình hình bốn bệnh đó xảy ra trên đàn lợn nuôi tại xã Hải
Vân.
- Lứa tuổi mắc bệnh
- Triệu chứng lâm sàng, bệnh tích của lợn mắc
- Tỷ lệ ốm, tỷ lệ chết.
3.1.4. Điều trị một số đàn lợn bị mắc bệnh
3.2. Địa điểm nghiên cứu
- Lợn mọi lứa tuổi tại xã Hải Vân - Huyện Nh Thanh - tỉnh Thanh Hóa

4.1. Vài nét cơ bản về địa phơng nơi thực tập
4.1.1. Vị trí địa lý: Hải Vân là một xã miền núi thuộc Huyện Nh Thanh -
Tỉnh Thanh Hóa
Với tổng diện tích tự nhiên là: 583,37 ha
+ Phía Đông giáp Quảng Xơng
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
21
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
+ Phía Bắc giáp với huyện Nh Xuân
+ Phía Nam giáp với Huyện Nông Cống
+ Phía Tây giáp với Tỉnh Nghệ An
Nhìn chung vị trí địa lý của xã không có nhiều thuận lợi cho xã trong việc phát
triển các ngành nghề dịch vụ hay trao đổi buôn bán do cách xa trung tâm huyện và đi
sang các tỉnh khác thì phải vận chuyển bằng xe. Vì vậy lao động trong xã chủ yếu là
sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi.
4.1.2. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Xã Hải Vân thuộc huyện miền núi nên chịu ảnh hởng của khí hậu nhiệt đới gió
múa nóng ẩm, nắng và có mùa Đông khá lạnh. Vào thời kỳ đầu mùa đông thời tiết t-
ơng đối khô, cuối mùa thì ẩm ớt, mùa hè nóng ẩm, và có nhiều ma. Số giờ nóng trung
bình trong năm là 1.650 giờ/ năm. Nhiệt độ trung bình 28
0
C trong đó nhiệt độ thấp
nhất khoảng 26
0
C. Lợng ma trung bình là 1.450-1.650mm nhng lợng ma phân bố
không đều trong năm. Mùa ma bắt đầu từ thàng 5-10, tập trung khoảng 70% lợng ma
cả năm.
- Cơ cấu đất đai: Theo số liệu thống kế năm 2009 xã Hải Vân có tổng diện tích
tự nhiên là 583,37ha. Trong đó sản xuất nông nghiệp là 340,78ha chiếm 59,44% tổng

Với điều kiện kinh tế và vị trí nh trên xã Hải Vân thuận lợi cho việc phát triển
nông nghiệp nhất là phát triển chăn nuôi theo hớng trang trại
4.2. Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi tại xã Hải Vân
Từ Nghị quyết 10 (1988) tới nay chúng ta đã tiến hành cải cách thể chế trong
phát triển kinh tế đa nền kinh tế nớc ta chuyển sang giai đoạn mới một nền kinh tế
phù hợp hơn đó là nền kinh tế nhiều thành phần.
Khi nền kinh tế của nớc ta phát triển theo hớng mới thì chăn nuôi chiếm một vị
trí quan trọng đối với ngời nông dân và ngành chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân. Hòa với nhịp phát triển kinh tế chung, xã Hải Vân từng bớc
phát triển chăn nuôi cả về số lợng và chất lợng nh Shin hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn,
Khoa Thú y - Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội
23
Báo cáo tốt nghiệp
Lê Văn Thu
chất lợng và số lợng gà cũng đợc nâng lên, với định hớng phát triển chăn nuôi nh trên
không chỉ giải quyết đợc công ăn việc làm cho nhân lực d thừa mà còn là cơ hội cho
ngời nông làm giàu chính đáng thực hiện "Dân giàu nớc mạnh"
Trong thời gian thực tập ở địa phơng tôi đã điều tra tình hình chăn nuôi trâu,
bò, lợn, gà của xã từ năm 2006-2009 và đã thu đợc kết quả dới đây:
4.2.1. Tình hình chăn nuôi trâu, bò của xã Hải Vân
4.2.1.1. Tình hình chăn nuôi trâu, bò của xã trong các năm 2006-2009
* Qua điều tra chúng tôi thấy rằng từ năm 2006-2009 số lợng trâu ngày càng
giảm dần và số lợng bò ngày càng tăng.
Phong trào chăn nuôi trâu có xu hớng giảm dần từ 220 con năm 2006 xuống
còn 196 con năm 2009. Kết quả đợc trình bày ở Bảng 1a. Chăn nuôi bò ngày càng đợc
phát triển năm 2006 từ 76 con tăng 116 con năm 2009, số hộ nuôi 3 con trở lên tăng
từ không có hộ gia đình nào năm 2006 đến năm hộ năm 2009 đạt 4,8% tổng số hộ
chăn nuôi. Ngời dân ngày càng nhận thức đợc chăn nuôi bò có u điển hơn so với chăn
nuôi các con vật khác, bởi dịch bệnh xảy ra ít hơn, thức ăn không phụ thuộc vào thức
ăn của con ngời có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên nh cỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status