BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY
TNHH TM MTV LÂM LONG HẢI DƢƠNG SINH VIÊN THỰC HIỆN
:NGUYỄN BÍCH THƢ
MÃ SINH VIÊN
:A16095
CHUYÊN NGÀNH
:TÀI CHÍNH
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nguyễn Bích Thƣ
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này đối với em mang nhiều ý nghĩa. Không chỉ là
sự cố gắng của bản thân mà còn là những sự giúp đỡ rất nhiệt tình, những lời động viên,
chỉ dẫn của cô giáo hướng dẫn.
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Vân Nga,
người đã hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành tốt nhất khóa
luận của mình.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú, anh chị trong Công ty TNHH TM MTV Lâm
Long Hải Dương đã cho em cơ hội được thực tập tại công ty và cung cấp các số liệu quan
trọng để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Song do thời gian tiếp xúc thực tế còn hạn hẹp nên khóa luận của em không tránh
khỏi những sai sót và khuyết điểm. Em rất mong các thầy cô giáo và các cô chú trong
Công ty đóng góp ý kiến để giúp em nâng cao hiểu biết và hoàn thiện khóa luận tốt
nghiệp một cách tốt nhất.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Vân Nga và ban lãnh đạo
cũng như tập thể cán bộ Công ty TNHH TM MTV Lâm Long Hải Dương đã giúp đỡ em
hoàn thành khóa luận của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Bích Thƣ
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 1
2.3.2. Những mặt còn tồn tại 61
2.3.3. Cơ hội 62
2.3.4. Thách thức 62
CHƢƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH TM MTV LÂM LONG HẢI DƢƠNG
64
3.1. Cơ sở để đưa ra những giải pháp 64
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh tại công ty TNHH TM MTV Lâm Long Hải Dương 65
3.2.1. Giải pháp tăng lượng tiền mặt 65
3.2.2. Giải pháp về quản lý các khoản phải thu và hàng tồn kho 66
3.2.3. Giải pháp tiết kiệm chi phí để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 67
3.2.4. Giải pháp huy động vốn kinh doanh 68
3.2.5. Giải pháp nâng cao trách nhiệm của cán bộ nhân viên 70
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TM
Thương mại
MTV
Một thành viên
VKD
Vốn kinh doanh
VCĐ
Vốn cố định
VLĐ
Vốn lưu động
SXKD
triển của doanh nghiệp, nó là phương tiện để biến các ý tưởng kinh doanh thành hiện
thực, nhưng vốn kinh doanh luôn là nguồn lực có hạn và không phải là phương thuốc kỳ
diệu quyết định mọi sự thành bại trong kinh doanh.
Trong giai đoạn nền kinh tế không ngừng phát triển, trong bối cảnh hội nhập nền
kinh tế thế giới như hiện nay, nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi các
doanh nghiệp ở tất cả các thành phần kinh tế không ngừng nâng cao thế và lực cho doanh
nghiệp mình, tăng cường khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển vững mạnh. Muốn
đạt được điều này, điều kiện tiên quyết đối với các doanh nghiệp là phải tạo lập đầy đủ
một lượng vốn kinh doanh cần thiết cho nhu cầu hoạt động của mình. Nền kinh tế thị
trường cũng đã làm xuất hiện nhiều phương thức mới cho phép doanh nghiệp vận dụng
hình thức khai thác cho phù hợp, có hiệu quả nhất. Công tác khai thác, huy động vốn đang
được các doanh nghiệp hết sức quan tâm bởi hầu hết các doanh nghiệp đều đang rất thiếu
vốn cho nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đồng thời, việc khai
thác và huy động vốn đầy đủ, kịp thời sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy nghiên cứu tìm hiểu các nguồn đáp ứng cho
nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, để từ đó có biện pháp thích hợp cho việc khai
thác, huy động có một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Điều đó càng chứng tỏ rằng trong kinh doanh thì vốn kinh doanh mới chỉ là điều
kiện “cần” còn các giải pháp nhằm sử dụng vốn kinh doanh một cách hiệu quả mới chính
là điều kiện “đủ”.
Thời gian qua, việc đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh là rất cần thiết đối với các chủ thể trong nền kinh tế nói chung và đối với công ty
TNHH TM MTV Lâm Long Hải Dương nói riêng. Chính vì vậy em đã chọn đề tài: “Các
giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong công ty TNHH TM MTV
Lâm Long Hải Dƣơng” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình với hy
vọng góp phần đóng góp vào việc sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh của công ty
TNHH TM MTV Lâm Long Hải Dương.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận và phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
trong công ty TNHH TM MTV Lâm Long Hải Dương.
1
CHƢƠNG 1: VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
1.1.1.Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh
1.1.1.1. Vốn kinh doanh
Ngày nay, khi nước ta đang ở trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước, mối quan hệ hàng hóa, tiền tệ ngày càng mở rộng và phát triển. Trong nền kinh tế
quốc dân, mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh tế, là một đơn vị SXKD các loại hàng hóa,
dịch vụ theo nhu cầu của thị trường và toàn xã hội. Với bất cứ một doanh nghiệp nào thì
mục tiêu lớn nhât và thường xuyên nhất trong quá trình SXKD là phải làm sao để thu
được lợi nhuận tối đa và đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất, mà để tiến hành bất kỳ một
hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần phải có vốn kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết
định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên,
liên tục, nên vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động, tạo ra sự
tuần hoàn và chu chuyển vốn. Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nên cùng một lúc vốn kinh doanh thường tồn tại
dưới các hình thức khác nhau ở tất cả các khâu của chu trình sản xuất kinh doanh (dự trữ,
sản xuất và lưu thông). Ta có thể hình dung sự vận động của vốn sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp thể hiện quá sơ đồ sau:
T – H … SX … H’ – T’
Qua việc tìm hiểu sự vận động của vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, ta
có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, vốn SXKD của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản
được sử dụng đầu tư vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Chỉ
có những tài sản có giá trị được sử dụng vào SXKD mới được coi là VKD.
Trên các góc độ khác nhau có những quan niệm khác nhau về vốn kinh doanh,
vốn điều lệ còn có một số nguồn khác cùng thuộc nguồn vốn chủ sở hữu như: Lợi nhuận
không chia, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính,…
+ Các khoản nợ phải trả bao gồm các khoản vay (vay ngắn hạn, vay dài hạn) các
khoản phải thành toán cho cán bộ công nhân viên, phải nộp ngân sách, phải trả nhà cung
cấp và một số khoản phải trả phải nộp khác.
Một số cơ cấu nguồn vốn kinh doanh hợp lý phản ánh sự kết hợp hài hòa giữa nợ
phải trả với vốn chủ sở hữu trong điều kiện nhất định.
- Theo thời gian sử dụng vốn kinh doanh: Căn cứ vào thời gian huy động và sử
dụng, vốn kinh doanh của doanh nghiệp đươc hình thành từ hai nguồn là nguồn vốn dài
hạn và nguồn vốn ngắn hạn.
+ Nguồn vốn dài hạn: Là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể
sử dụng trong thời gian dài (lớn hơn 1 năm). Nguồn vốn này bao gồm nguồn vốn chủ sở
3
hữu và các khoản nợ dài hạn. Với tính chất như vậy, nguồn vốn này thường được dùng để
tài trợ cho việc đầu tư vào tải sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên
cần thiết, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh có thể được tiến hành một cách liên
tục, ổn định.
+ Nguồn vốn ngắn hạn: Là nguồn vốn có thời hạn dưới 1 năm doanh nghiệp có
thể sử dụng để tài trợ cho các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó bao gồm các khoản vay ngắn hạn
ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản vốn chiếm dụng và các khoản nợ ngắn hạn
khác.
Việc phân loại này giúp cho các nhà quản trị xem xét huy động các nguồn vốn phù
hợp với thời gian sử dụng, đảm bảo đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, với tổng
chi phí sử dụng vốn hợp lý. Việc phân loại này cũng giúp cho doanh nghiệp trong việc lập
các kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn và sử dụng
vốn có hiệu quả cao.
- Theo phạm vi huy động vốn
+ Nguồn vốn bên trong hay còn gọi là nguồn vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn này
a. Nguồn vốn trong thanh toán
Nguồn vốn này phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
nó bao gồm các khoản nợ lương cán bộ công nhân viên chưa đến hạn trả, thuế và các
khoản phải nộp ngân sách chưa đến hạn nộp, các khoản tín dụng thương mại nhận được từ
người cung cấp khi doanh nghiệp mua các loại hàng hóa dịch vụ dưới hình thức mua chịu
chưa đến thời điểm thanh toán, tiền ký quỹ và các khoản tiền ứng trước của khách hàng
để mua hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể huy động và sử dụng
các nguồn vốn này trong thời gian cho phép trên nguyên tắc hoàn trả đúng hạn. Các
nguồn tài trợ này thường tỷ lệ với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Và đó còn là
những hình thức tài trợ miễn phí, bởi doanh nghiệp có thể sử dụng mà không phải trả lãi
cho đến ngày thành toán.
b. Nguồn vốn tín dụng
Vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Đây là một nguồn tài trợ quan trọng cho
nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tùy theo mục đích sử dụng vốn mà doanh
nghiệp có thể xin vay ngắn hạn (thời gian dưới 1 năm) hoặc vay trung, dài hạn (thời gian
trên 1 năm). Trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năng kiểm tra, giám sát việc sử
dụng vốn vay, ngân hàng sẽ thỏa thuận với doanh nghiệp về phương thức cho vay.
Để có được quyền sử dụng vốn vay, doanh nghiệp phải trả cho ngân hàng tiền lãi
vay và phải tuân theo các loại nguyên tắc tin dụng như sử dụng vốn vay đúng mục đích,
có hiệu quả, hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; chịu sự kiểm tra giám sát của ngân
hàng,
Chi phí sử dụng vốn vay sẽ được tính trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn vay có hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận thước thuế và
lãi vay lớn hơn chi phí sử dụng vốn vay thì thu nhập của một đồng vốn của sở hữu sẽ tăng
5
lên và ngược lại. Khi doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay để tài trợ cho nhu cầu vốn kinh
doanh thì hệ sộ nợ của doanh nghiệp sẽ tăng cao và làm tăng tính mạo hiểm của doanh
nghiệp.
Bên cạnh nguồn vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp có thể huy động từ:
6
hạn nhưng không đủ vốn đầu tư, doanh nghiệp có thể mời các đơn vị, cá nhân khác cùng
bỏ vốn đầu tư và cùng chia lợi nhuận theo phần đóng góp (kể cả liên doanh với nước
ngoài). Đây là một kiểu quan hệ hùn vốn, một hình thức huy động vốn đầu tư dài hạn của
doanh nghiệp đứng ra liên doanh. Các bên than gia liên doanh có thể góp vốn bằng tiền
mặt, hiện vật như nhà cửa, quyền sử dụng đất, máy móc, nguyên vật liệu,…
Kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Khi có
nhu cầu về vốn kinh doanh, tùy từng thường hợp cụ thể mà doanh nghiệp có thể lựa chọn
phương thức huy động cho phù hợp và có hiệu quả nhất. Thông thường khi có nhu cầu bổ
sung vốn đầu tư, doanh nghiệp tìm kiếm số vốn từ nguồn bên trong để thực hiện một phần
hoặc toàn bộ kế hoạch đầu tư, kiếm số vốn từ bên ngoài. Việc huy động nguồn vốn bên
trong doanh nghiệp là một vấn đề hết sức quan trọng trong sự phát triển của doanh
nghiệp. Đồng thời nguồn tài trợ từ bên ngoài cũng rất cần thiết. Doanh nghiệp cần chú
trọng đến công tác khai thác và huy động, tạo ra một cơ cấu nguồn vốn tối ưu phù hợp với
điều kiện của doanh nghiệp, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cần vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của vốn kinh doanh đối với hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh là chìa khóa để thực hiện các mục tiêu, mục đích đề ra trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh là một yếu tố
quan trọng không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là điều
kiện tiền đề để doanh nghiệp có thể thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình. Ngay từ đầu, doanh nghiệp đã cần có một lượng vốn đầu tư ban đầu nhất định để
hình thành nên các tài sản cần thiết (tài sản cố định, tài sản lưu động thường xuyên cần
thiết) phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Trong quá trình hoạt động, cùng với sự
tăng tưởng quy mô sản xuất, vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng cần phải được bổ
sung tương ứng. Nếu thiếu vốn, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai
hoạt động của mình, hiệu quả kinh doanh sẽ không cao. Tính liên tục của hoạt động sản
xuất kinh doanh là một yêu cầu quan trọng trong việc tổ chức sản xuất của doanh nghiệp,
do vậy doanh nghiệp phải luôn có biện pháp đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn kinh doanh cho
lắp đặt các tài sản cố định của doanh nghiệp đều phải thanh toán, chi trả bằng tiền. Số vốn
đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định hữu hình và vô
hình được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Đó là số vốn đầu tư ứng trước vì số vốn
này nếu được sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được sau
khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ của mình.
Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản dài hạn nên quy mô
của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn
đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Song ngược lại những đặc điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình sử
dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặt điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố
định. Một bộ phận chủ yếu của Vốn cố định được biểu hiện bằng tiền của TSCĐ, ngoài ra
8
còn có các bộ phậm khác như nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư tài chính dài
hạn…, nhưng do là bộ phận chủ yếu nên ta đi phân tích về TSCĐ…
Tài sản cố định (TSCĐ) là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn thời gian
sử dụng lâu dài, hay nói cách khác nó chính là phương tiện để sản xuất kinh doanh chứ
không phải để bán. Như vậy TSCĐ chỉ được gọi là TSCĐ khi nó làm chức năng của tư
liệu lao động. Hiện nay theo quy định của nước ta, TSCĐ là những tư liệu lao động có giá
trị từ 30 triệu đồng trở lên và có thời hạn sử dụng từ một năm trở lên.
+ Đặc điểm:
a. Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh với vai trò là các công cụ lao
động.
b. Giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính ban đầu của nó.
c. Giá trị TSCĐ được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm mới được
sản xuất ra theo mức độ hao mòn của nó.
- Phân loại TSCĐ
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có cua doanh nghiệp theo
những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
+ Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện.
loại sau:
a. Nhà cửa, vật kiến trúc.
b. Máy móc thiết bị, phần mềm máy tính.
c. Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn.
d. Thiết bị dụng cụ quản lý, phần mềm quản lý.
e. Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc,…
f. Các TSCĐ khác.
Phương pháp phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ của
doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp quản lý,
khai thác, sử dụng và trích khấu hao thích hợp.
+ Căn cứ vào tình hình sử dụng: Theo tiêu thức này, tổng thể TSCĐ của doanh
nghiệp được chia thành các loại sau:
a. TSCĐ đang sử dụng tại doanh nghiệp.
b. TSCĐ cho thuê.
c. TSCĐ chưa cần dùng.
d. TSCĐ không cần dùng, chờ nhượng bán, thanh lý.
Cách phân loại này cho thấy tình hình khai thác sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp,
từ đó có thể đề ra các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.
+ Căn cứ theo quyền sở hữu: Tổng thể TSCĐ của doanh nghiệp đươc chia thành
2 loại:
a. TSCĐ thuộc quyền sử hữu của doanh nghiệp.
b. TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
10
Cách phân loại này sẽ giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được tình hình và cơ cấu
TSCĐ theo quyền sở hữu, từ đó có thể đưa ra các biện pháp quản lý, dử dụng và trích
khâu hao thích hợp.
1.1.3.2. Vốn lưu động
- Khái niệm và đặc điểm
+ Khái niệm
hình thái tiền tệ sang hình thái hiện vật.
Giai đoạn 2: Doanh nghiệp tiến hành đưa các vật dự trữ vào sản xuất, gia đoạn này
là cả một quá trình kết hợp các yếu tố cảu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc bán thành
phẩm.
Giai đoạn 3: Thành phẩm qua khâu kiểm nghiệm nhận nhập kho, tiêu thụ và thu
tiền về, giai đoan này vốn lưu động chuyển hóa từ hình thái hiện vật trở về hình thái tiền
tệ ban đầu.
Nói tóm lại, vốn lưu động là điều kiện tiền đề vật chất không thể thiếu được trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
- Kết cấu tài sản lƣu động
+ Dựa vào các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ được chia
thành
a. TSLĐ trong khâu dự trữ: bao gồm vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế,… dự
trữ để đảm bảo hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp có thể tiến hành được
thường xuyên, liên tục.
b. TSLĐ trong khâu sản xuất: bao gồm sản phẩm đang chế biến, bán thành phẩm
tự chế,… nhằm đảm bảo cho việc sản xuất được liên tục.
c. TSLĐ trong khâu lưu thông: bao gồm thành phẩm, tiền mặt, tiền trong thanh
toán,… nhằm đảm bảo cho việc tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng
được thường xuyên.
+ Dựa vào hình thái biểu hiện của tài sản: TSLĐ được chia thành:
a. Hàng hóa bao gồm những bộ phận hàng hóa đang được dự trữ ở các khâu và địa
điểm của quá trình kinh doanh như hàng mua và hàng bán đang đi đường, hàng đợi kiểm
nghiệm, hàng gửi bán, hàng tại kho và các điểm hàng,…
b. Tài sản phi hàng hóa bao gồm các loại công cụ, dụng cụ, bao bì, vật đóng gói…
c. Tiền: là số tiền đang năm trong quá trình thanh toán do các phương thức thanh
toán được áp dụng trong quá trình tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá
1.2.1. Các quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.2.1.1. Khái niệm chung về hiệu quả
Kq
Vkdbq
Trong đó: Hv: Là hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Vkdbq: Là số dư vốn kinh doanh bình quân.
Kq: Là kết quả từ các hoạt động.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tỷ lệ thuận với kết quả và tỷ lệ nghịch với vốn
kinh doanh càng nhỏ. Chính vì vậy mà ngày từ khi bắt đầu bất cứ một dự án nào thì người
chủ doanh nghiệp cần phải tính đến hiệu quả của nó. Trong suốt quá trình kinh doanh
người chủ doanh nghiệp luôn phải suy nghĩ nhằm tìm ra các phương án kinh doanh đạt
13
hiệu quả cao nhất, hiệu quả kinh doanh càng cao thì daonh nghiệp càng có điều kiện để
phát triển, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao uy tín, hoàn thành nghãi vụ đối với Nhà
nước và cả thiện đời sống cho người lao động. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, hiệu
quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có
của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất đối với tổng chi phí bỏ ra ít nhất.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
Như trên đã nêu, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp được rút ra từ trên cơ sở so sánh tương đối giữa kết quả đạt được với lượng vốn
kinh doanh bỏ ra trong kỳ. Hầu hết các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
trong doanh nghiệp sẽ được xây dựng dựa trên nguyên tắc trên với việc cụ thể hóa kết quả
và vốn kinh doanh bằng các chỉ tiêu sát thực.
Điểm mấu chốt trong phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là kết
quả thu được từ việc tính toán các chỉ tiêu, nó được biểu hiện bằng các con số hết sức cụ
thể, có thể nói tới đây là kết quả đã đạt được số hóa. Chỉ có thể đánh giá được hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp bằng các con số cụ thể, từ các con số, bằng các biện pháp
chuyên môn, nghiệp vụ phấn tích so sánh,… rồi rút ra kết luận hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp. Từ việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, ta xem xét mối quan hệ
giữa các đại lượng từ đó tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Vkdbq
Trong đó: Ln: Mức độ lợi nhuận đạt được trong kỳ.
Vkdbq: Vốn kinh doanh bình quân.
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lợi của đồng vốn kinh doanh, cứ mỗi đồng vốn
kinh doanh được sử dụng trong kỳ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số này càng lớn
chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh càng cao.
Trên đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn của doanh nghiệp nói chung. Để
đánh giá chính xác hơn người ta đi vào đánh giá hiệu quả sử dụng của từng loại vốn.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp thương
mại
Trong doanh nghiệp thương mại, vốn cố định chiếm tỷ trọng không lớn, song việc
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng không kém phần quan trọng so với vốn lưu
động. Trong quá trình vận động đó, vốn cố định luôn chịu tác động của các yếu tố khác
nhau như: lạm phát, hao mòn vô hình hoặc kém hiệu quả,… Do vậy cần thiết phải xây
dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng được xây dựng đưa vào chỉ tiêu tổng quát về hiệu quả.
- Hệ số phục vụ vốn cố định
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định theo mức luân chuyển hàng hóa. Chỉ tiêu
này xác định trên cơ sở so sánh thương đối giữa mức luân chuyển hàng hóa trong kỳ với
vốn cố định bình quân trong kỳ của doanh nghiệp.
Hmcđ =
M
Vcd
Trong đó: Hmcđ: Mức độ sản xuất kinh doanh của vốn cố định.
M: Mức doanh thu kinh doanh thực hiện trong kỳ.
Vcđ: Vốn cố định bình quân trong kỳ.
15
Vốn cố định phải bảo toàn đến cuối kỳ
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đã thực hiện việc bảo toàn vốn cố định so với
kế hoạch như thế nào. Nếu hệ số < 1 vốn cố định đã không được bảo toàn. Nếu hệ số >
hoặc = 1 thì là rất tốt. Vốn cố định không những được bảo toàn mà còn tăng thêm.
1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp thương
mại
Trong các doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn do
đó hệ thống chỉ tiêu việc đánh giá hiệu quả sử dụng của vốn lưu động trong doanh nghiệp
là vô cùng quan trong và cần thiết.
- Hệ số phục vụ vốn lưu động (Hmlđ)