CHƯƠNG 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, thời tiết, khí hậu ở nước ta có sự biến đổi, làm
cho tình hình dịch bệnh trên gia súc xảy ra thường xuyên, lúc rải rác lúc ồ ạt và
biến đổi khôn lường, ngày càng phức tạp nó gây ảnh hưởng đến nền kinh tế.
Một trong những dịch bệnh nguy hiểm là dịch heo tai xanh: không chỉ ảnh
hưởng tới người chăn nuôi mà còn gây mất cân đối về khả năng cung cầu, ảnh
hưởng đến người tiêu dùng, sức khỏe cộng đồng và môi trường sống.
Qua thực tế cho thấy, khi có dịch bệnh xảy ra, các cơ quan chức năng
quản lý ở địa phương luôn trong tình trạng thiếu thông tin cần thiết để đánh giá
nhằm có biện pháp phòng chống kịp thời. Do chưa có một hệ thống tổ chức điều
tra, thu thập thông tin hoàn chỉnh, thiếu cả phương tiện lưu trữ và xử lý thông
tin, vì vậy nó làm cho việc tổng hợp phân tích thông tin chậm chạp, không đáp
ứng được yêu cầu của công tác quản lý, giám sát tình hình dịch và ra quyết định
phòng chống. Khi có dịch bệnh xảy ra, cán bộ thú y phải sử dụng bản đồ giấy,
cùng với phương pháp tô màu cũ kỹ. Với cách làm như vậy, bản đồ không kịp
thời phản ánh đúng tình hình diễn biến trong thực tế. Vì vậy, cần có một hệ
thống thông tin hiện đại để lưu trữ các loại thông tin, điều tra thu thập được, xử
lý chúng một cách nhanh chóng, kịp thời và trong nhiều trường hợp có thể đưa
ra những ý kiến tư vấn cho các nhà quản lý.
Bình Định là một trong số nhiều tỉnh, thành trong cả nước bắt đầu xuất
hiện dịch heo tai xanh từ năm 2007, nó không chỉ gây thiệt hại nặng nề cho
người chăn nuôi mà còn có khả năng đe dọa nghiêm trọng trong thời gian tới.
Nhu cầu cấp thiết hiện nay là cần có phần mềm với đầy đủ chức năng, đáp ứng
yêu cầu quản lý thông tin về chăn nuôi và diễn biến dịch bệnh để kịp thời
khoanh vùng ngăn chặn không cho dịch bệnh lây lan sang địa phương khác.
Hiện nay, có rất nhiều công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác khống chế dịch
bệnh, trong đó có hệ thống GIS (Geographic Information System- hệ thống
thông tin địa lý). Trong công tác thú y, GIS thường được sử dụng để tiến hành
1
các phân tích dịch tễ học mô tả về tình hình dịch bệnh, chăn nuôi, di chuyển
động vật, giám sát, phát hiện và đánh giá nguy cơ rủi ro. Do đó các loại hình
đầm Trà Ổ (huyện Phù Mỹ),
hệ thống hồ đầm này tạo
thuận lợi cho việc phát triển
nông nghiệp và nuôi trồng
thủy hải sản. Ngoài ra, tỉnh
còn có hệ thống giao thông
khá đồng bộ với 118km
Quốc lộ 1A chạy qua địa bàn
- là trục giao thông xương
sống của tỉnh. Với 21 km
trong 34km chiều dài Quốc
lộ 1D là bộ mặt và cửa ngõ
vào thành phố. Quốc lộ 19
nối từ cảng Quy Nhơn tới
các tỉnh Tây Nguyên là
tuyến đường quan trọng
trong việc vận chuyển hàng hóa qua cụm cảng Quy Nhơn.
Bên cạnh những thuận lợi trên, tỉnh cũng có nhiều khó khăn do tự nhiên
mang lại như: Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông.
Phía Tây của tỉnh là rìa núi phía Đông của dãy Trường Sơn nam, kế tiếp là vùng
trung du và tiếp theo là vùng ven biển. Các dạng địa hình phổ biến là các dãy
3
Hình 1: Bản đồ hành chính của tỉnh Bình Định
núi cao, đồi thấp, xen lẫn thung lũng hẹp với độ cao trên dưới 100 mét, hướng
vuông góc với dãy Trường Sơn. Các đồng bằng lòng chảo, đồng bằng duyên hải
bị chia nhỏ bởi các nhánh núi đâm ra biển. Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độ
dốc không đối xứng giữa 2 sườn Đông và sườn Tây. Hệ thống sông ngòi không
lớn, độ dốc cao, ngắn, trữ lượng phù sa thấp, lũ lên xuống rất nhanh.
Khí hậu có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình nên
gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều. nhiệt độ trung
2.2. LỊCH SỬ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN
2.2.1. Khái quát chung
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo (PRRS: Porcine Reproductive
and Respiratory Syndome) còn gọi là “ bệnh heo tai xanh”, là một bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm đối với loài heo (kể cả heo rừng), gây ra bởi virus Lelystad.
Bệnh lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng
như: sốt, ho, thở khó, ở heo nái có các rối loạn sinh sản: sảy thai, thai chết lưu,
heo sơ sinh chết yểu. Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
(FAO) xác định bệnh không lây truyền sang gia súc khác và con người.
Bệnh được gọi bằng nhiều tên khác nhau dựa vào triệu chứng lâm sàng
Tên bệnh Triệu chứng lâm sàng
Bệnh bí hiểm của heo Khi chưa phát hiện ra nguyên nhân
Bệnh Tai xanh Tai một số heo nái có màu xanh
Hội chứng vô sinh và sảy thai ở heo Vô sinh và sảy thai ở heo nái
Hội chứng sảy thai và bệnh đường hô hấp Sảy thai và bệnh đường hô hấp
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở
heo
Rối loạn sinh sản và bệnh đường hô hấp
2.2.2. Lịch sử của hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
Các ổ dịch có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của PRRS được báo cáo
lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào cuối những năm 80 thế kỷ XX, tuy lúc đó chưa biết
rõ căn nguyên gây bệnh. Triệu chứng thường biểu hiện bao gồm rối loạn sinh
sản nghiêm trọng, viêm phổi ở heo con sau cai sữa, chậm lớn, giảm năng suất và
tỷ lệ tử vong tăng.
Các ổ dịch có triệu chứng lâm sàng tương tự đã được thông báo ở CHLB
Đức vào năm 1990; sau đó dịch đã lây lan khắp châu Âu vào năm 1991 và xuất
hiện ở châu Á vào đầu những năm 1990 . Vào thời điểm đó, do chưa xác định
được căn nguyên bệnh nên được gọi là “bệnh bí hiểm ở heo” (Mistery Swine
Disease - MSD), một số người căn cứ vào triệu chứng gọi là “bệnh tai xanh ở
heo”. Tiếp theo dịch bệnh lây lan rộng trên toàn thế giới và được gọi bằng nhiều
báo cáo tỷ mỷ nào về PRRS ở châu Âu. Nhiều ổ dịch lâm sàng ở châu Âu đã
giảm sau giai đoạn kịch phát từ đầu đến giữa năm 1991. Tháng 11/1990, sự lây
nhiễm virus xảy ra ở những vùng nuôi nhiều heo tại Đức. Ohlinger đã báo cáo
tìm thấy kháng thể kháng PRRSV ở đàn heo Tây Đức từ 1988 và 1989, đúng
trước khi trường hợp đầu tiên phát ra ở vùng Munster. Những nghiên cứu chỉ ra
rằng trên đàn heo nhiễm chủ yếu với PRRSV vẫn âm ỉ kéo dài.
6
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo đã trở thành dịch địa phương
ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi heo phát triển
như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức…, đã gây ra những tổn thất rất lớn
về kinh tế cho người chăn nuôi lên đến hàng trăm triệu đô la. Tại Mỹ hàng năm
phải chịu tổn thất do bệnh tai xanh gây ra khoảng 560 triệu USD.
Các nước trong khu vực có tỷ lệ PRRS lưu hành rất cao, ví dụ ở Trung
Quốc là 80%; Đài Loan 94,7 - 96,4% ; Philippine 90% , có cả virus chủng độc
lực cao; Thái Lan 97%, Malaysia 94% ; Hàn Quốc 67,4 - 73,1% . Nga là nước
thứ 4 đã báo cáo chính thức có dịch bệnh Tai xanh do chủng PRRSV thể độc lực
cao gây ra (Cục Thú y, 2008) [2].
Tại Thái Lan, một nghiên cứu với quy mô rộng lớn từ năm 2000 - 2003
cho thấy các PRRSV được phân lập từ nhiều địa phương thuộc nước này gồm
cả chủng dòng Châu Âu và dòng Bắc Mỹ. Trong đó virus thuộc chủng dòng
Bắc Mỹ chiếm 33,58%, dòng Châu Âu chiếm 66,42%. Các nghiên cứu trước đó
đã khẳng định PRRS lần đầu tiên xuất hiện ở nước này vào năm 1989 và tỷ lệ
lưu hành huyết thanh của bệnh này cũng thay đổi khác nhau, từ 8,7% vào năm
1991 và trên 76% vào năm 2002. Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do việc sử
dụng tinh heo nhập nội đã bị nhiễm PRRSV hoặc do các đàn heo nhập nội mang
mầm bệnh.
Từ những năm 95 của thế kỷ XX trở lại đây, Trung Quốc cũng ghi nhận
xảy ra các trường hợp heo chết hàng loạt do PRRS ghép với các bệnh khác.
Chủng virus đang lưu hành tại Trung Quốc là chủng thuộc dòng Bắc Mỹ, chúng
được chia thành hai dạng, gồm chủng cổ điển độc lực thấp và chủng độc lực cao
Các kết quả điều tra huyết thanh học tại một số trại heo giống phía Nam
đã phát hiện có sự lưu hành của bệnh do chủng virus cổ điển, độc lực thấp gây ra
với một tỷ lệ nhất định heo giống có huyết thanh dương tính với bệnh (Cục Thú
y, 2007) [13].
Như vậy có thể thấy PRRSV đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trong
một thời gian dài. Tuy nhiên, kể từ khi xác định được heo có kháng thể kháng
PRRSV ở đàn heo giống nhập từ Mỹ, tại Việt Nam chưa từng có vụ dịch PRRS
nào xảy ra. Sự bùng phát thành dịch gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi bắt
đầu từ tháng 3 năm 2007. Dịch xuất hiện từng đợt tại cả 3 miền Bắc, Trung và
Nam, gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi heo, đặc biệt là ảnh hưởng đến phát
triển đàn giống. Trong các ổ dịch, ngoài PRRSV đã được xác định là nguyên
nhân chính, hàng loạt các loại mầm bệnh khác như: Dịch tả heo, hội chứng còi
cọc của Heo sau cai sữa, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Liên cầu khuẩn,
Suyễn heo…
+ Đợt dịch đầu tiên: dấu ấn quan trọng của PRRS tại Việt Nam được bắt
đầu từ ngày 12/3/2007, hàng loạt đàn heo tại Hải Dương có những biểu hiện ốm
khác thường. Ngày 23/3/2007, lần đầu tiên Chi cục Thú y tỉnh đã báo cáo Cục
Thú y về tình hình dịch, ngay sau đó ngày 26/3/2007, Trung tâm Chẩn đoán Thú
8
y Trung ương - Cục Thú y đã tiến hành lấy mẫu xét nghiệm và kết quả dương
tính với PRRSV[10] . Do lần đầu tiên PRRS xuất hiện tại Việt Nam và không
quản lý được việc buôn bán, vận chuyển heo ốm, dịch đã lây lan nhanh và phát
triển mạnh tại 6 tỉnh thành thuộc Đồng bằng Sông Hồng, gồm: Hưng Yên,
Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Phòng làm hàng ngàn con
heo mắc bệnh.
+ Đợt dịch thứ 2: ngày 25/6/2007, dịch lại xuất hiện tại tỉnh Quảng Nam.
Mặc dù đã có những bài học từ các tỉnh phía Bắc, cũng như những cảnh báo,
hướng dẫn phòng chống bệnh cụ thể của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, nhưng do không được phát hiện kịp thời, Chi cục Thú y địa
phương không nắm chắc được tình hình dịch, việc quản lý vận chuyển heo ốm
báo cáo sớm về các ổ dịch, áp dụng có hiệu quả các biện pháp phòng chống;
người dân cũng đã thấy rõ tính nguy hiểm của PRRS nên đã từng bước có những
thay đổi về nhận thức trong chăn nuôi; (2) khách quan cho thấy PRRS đã xuất
hiện ở hầu hết các địa phương trong cả nước, PRRSV đã lưu hành rộng rãi
nhưng không gây ra các ổ dịch lớn do heo mang trùng có thể có khả năng miễn
dịch chống lại bệnh ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, do mầm bệnh đã lưu hành
ở nhiều nơi, chăn nuôi còn rất nhỏ lẻ, vệ sinh chăn nuôi chưa được chú trọng,
tiêm phòng vacxin còn chưa đồng đều, tỷ lệ thấp, thời tiết thay đổi liên tục nên
khả năng mầm bệnh lây lan và gây thành dịch là rất lớn.
2.4. HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN - PRRS
2.4.1. Nguyên nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh được Collins và cộng sự xác định năm 1990 dựa trên
kết quả gây bệnh đường hô hấp thực nghiệm đối với heo bằng cách dùng bệnh
phẩm của heo bệnh ngoài thực địa đã qua lọc, gây nhiễm cho heo thí nghiệm.
Năm 1991, Viện nghiên cứu Thú y Trung ương ở Lelystad (Hà Lan) đã phân
lập được virus trên tế bào đại thực bào phế nang heo. Các tác giả đã đặt tên virus
là virus Lelystad. Một năm sau các tác giả người Mỹ cũng phân lập được một
virus và đặt tên là VR-2332.
Các kết quả nghiên cứu sau này cho thấy PRRSV có quan hệ gần gũi về
mặt sinh học, cấu trúc và di truyền với virus gây viêm động mạch truyền nhiễm
ở ngựa - EAV (Equine arteritis virus), LDHV (virus gây cô đặc sữa ở chuột -
Lactate dehydrogenase elevating virus) và SHFV (virus sốt xuất huyết khỉ -
Simian hemorrhagic fever virus). Dựa vào đặc điểm đó người ta xếp 4 virus này
vào một nhóm mới với danh mục phân loại như sau: giống Arterivirus, họ
Arterviridae, bộ Nidovirales .
Những nghiên cứu gần đây ở Trung Quốc cho thấy PRRSV tồn tại dưới
hai dạng: cổ điển độc lực thấp và biến thể độc lực cao gây nhiễm và chết
nhiều heo…
Tại Việt Nam, Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW - Cục Thú y đã tiến hành
các nghiên cứu độc lập và hợp tác, phối hợp với Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA)
nhô ra rõ. Sự sinh sôi của virus bị dừng lại khi dùng Chloroform hay Ether,
chứng tỏ vỏ có chứa lipit.
PRRSV là ARN virus với bộ gen là phân tử ARN sợi đơn dương, có
những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus. Sợi ARN này có kích thước
khoảng 15 kilobase. Sợi ARN virus có 1 cổng 5’ và 1 dải cổng 3’. Gen ARN
polymeraza chiếm khoảng 75% đầu 5’ của bộ gen, gen mã hóa cho các protein
cấu trúc của virus nằm ở đầu 3’.
2.4.1.2. Sức đề kháng của virus
11
Virus bị diệt dưới ánh nắng mặt trời. Virus dễ dàng bị diệt trong dung môi
hoà tan chất béo như cloroform và ete. Các virus Lelystad không thể ngưng kết
hồng cầu của bất kỳ loài động vật nào. Tuy nhiên, nghiên cứu ở Nhật Bản thấy
virus nguồn gốc châu Mỹ (VR 2332) có khả năng ngưng kết hồng cầu heo [11].
Điều kiện môi trường Khả năng đề kháng
Virus trong bệnh phẩm
-70
0
C đến -20
0
C Hàng năm
1 tuần ở 4
0
C Giảm 90% hiệu giá
1 tháng ở 4
0
C Vẫn phát hiện được virus
6 ngày ở 20 - 21
0
C Đề kháng tốt
24h ở 37
thống miễn dịch. Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ
miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể heo.
Cần phải thấy rằng, trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực
bào đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đáp ứng miễn dịch cả không đặc hiệu
và đặc hiệu. Đây là loại tế bào trình diện kháng nguyên thiết yếu, mở đầu cho
quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ,
các phản ứng miễn dịch không xảy ra, heo nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy
giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát. Điều này có thể
thấy rõ ở những đàn heo vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm PRRSV sẽ có sự
tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong
đường hô hấp.
2.4.2. Dịch tễ học
2.4.2.1. Động vật cảm nhiễm
Heo ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus. Các cơ sở chăn nuôi
công nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan rộng tồn tại lâu dài trong đàn
nái, rất khó thanh toán. Heo nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy
thai, thai chết lưu và heo chết yểu với tỷ lệ cao. Heo rừng ở các lứa tuổi khác
nhau đều có thể cảm nhiễm virus, có thể phát bệnh, nhưng thường không có
triệu chứng lâm sàng và trở thành nguồn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên. Cho
đến nay kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều cho thấy virus gây
PRRS không cảm nhiễm cho các loại thú khác và người. Tuy nhiên, từ thực
nghiệm các nhà khoa học đã chứng minh một số loại gia cầm chân có màng như
vịt trời (mallard duck) rất mẫn cảm với PRRSV, virus có thể nhân lên ở loài vịt
này. Vì thế việc phát tán PRRSV trên diện rộng là khó tránh khỏi [11].
2.4.2.2. Động vật môi giới mang và truyền virus
Trong tự nhiên, heo đực và heo nái mang virus là nguồn tàng trữ truyền
mầm bệnh cho heo nhà. Heo rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng
cũng đóng vai trò làm lây truyền virus cho heo nhà và ngược lại.
Trong thực nghiệm cũng truyền được virus trực tiếp cho một số loài chuột
và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khỏe (dòng châu Âu).
Kí chủ mẫn cảm, ngoài heo một số loài khác cũng mẫn cảm. Ví dụ: vịt trời
thải PRRSV qua phân. Heo cũng mẫn cảm với virus có nguồn gốc từ vịt trời.
Sự lây lan bệnh từ đàn heo này sang đàn heo khác thường theo tinh dịch
khi phối giống. Ngoài ra còn các đường như kim tiêm, nước uống, không khí, kí
chủ không phải là heo, côn trùng, vật liệu nhiễm khuẩn. Ở Pháp 56% đàn mắc
bệnh do tiếp xúc với heo bệnh, 20% do tinh dịch, 21% do vật dụng và 3% từ
những nguồn chưa xác định. Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh lây nhiễm
tiếp xúc xảy ra sau 2 tuần, 6 tuần, 8 tuần và 14 tuần sau khi thải virus.
Nhiều nhà nghiên cứu đã hướng nghiên cứu sinh bệnh học PRRS ở giai
đoạn chửa cuối của heo nái (77 - 95 ngày chửa) heo nái hậu bị với virus nuôi cấy
14
tế bào hoặc chất mô có chứa virus. Trong hầu hết các nghiên cứu, người ta bơm
virus vào trong mũi cho heo (từ 10
25
- 10
55
TCID
50
), triệu chứng lâm sàng vẫn
biểu hiện rõ.
Thời gian ủ bệnh trong điều kiện thực nghiệm khoảng 3 - 5 ngày, sau đó
con vât bỏ ăn và sốt. Trong thực tế thời gian ủ bệnh của bệnh gây ra do vận
chuyển heo rất khác nhau 3 - 24 ngày (trung bình 19 ngày, 9 đàn), 14 - 37 ngày
(8 đàn), 28 ngày (1 đàn), 10 - 18 ngày (trung bình 14 ngày, 6 đàn) và 10 - 14
ngày (1 đàn vận chuyển vào chuồng nuôi heo con).
Sự khác nhau thời gian ủ bệnh có thể phản ánh sự khác nhau về độc lực
giữa các chủng virus, sự khác nhau mật độ heo ở đàn bị bệnh hoặc sự khác nhau
về khả năng phát hiện ra triệu chứng lâm sàng của người sản xuất và thú y.
Truyền lây bệnh qua không khí đã xảy ra ở nhiều trường hợp, đặc
biệt ở châu Âu. Mặc dù khó chứng minh chắc chắn, những bằng chứng gián tiếp
- Quy mô đàn lớn.
* Một số đặc điểm dịch tễ PRRS tại Việt Nam
- PRRS lần đầu tiên xảy ra trên diện rộng ở Việt Nam vào tháng 3/2007
và gây ra 4 đợt dịch tại 29 tỉnh, thành trong phạm vi cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.
- Dịch đã xảy ra ở heo mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu tập trung ở heo nái
mang thai và heo con theo mẹ. Bệnh có đặc trưng làm cho heo ốm, sốt cao, ở heo
con theo mẹ; heo nái chửa giai đoạn cuối chết nhanh nhiều hơn so với heo thịt và heo
đực giống.
- Dịch xảy ra chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán ở những địa
phương có tỷ lệ tiêm vacxin phòng một số bệnh truyền nhiễm khác thấp như:
dịch tả heo, tụ huyết trùng, phó thương hàn, đóng dấu heo…
- Trong các đợt dịch cho thấy, heo không chỉ mắc PRRS mà thường bị bội
nhiễm những bệnh kế phát khác: dịch tả heo, phó thương hàn, tụ huyết trùng,
Streptococcus suis, Mycoplasma spp, v.v… Các bệnh này là nguyên nhân
kế phát gây chết nhiều heo và làm dịch lây lan diện rộng.
- Nguyên nhân của PRRS là do virus, tác nhân không lây bệnh cho người.
- Dịch lây lan nhanh chủ yếu do phát hiện chậm, người chăn nuôi bán
chạy heo ốm, do không kiểm soát được vận chuyển heo ốm từ vùng dịch sang
vùng không có dịch.
2.4.3. Triệu chứng và bệnh tích
2.4.3.1. Triệu chứng
Heo mắc hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản thường có các đặc trưng
lâm sàng: heo nái có chửa thường bị sảy thai vào giai đoạn cuối hoặc thai chết
16
lưu ở giai đoạn 2, trở thành thai gỗ hoặc heo sơ sinh bị chết yểu. Heo ốm thường
sốt cao 40 - 42
0
C, thậm chí cao hơn. Heo bị viêm phổi nặng, ỉa chảy, tai chuyển
từ màu hồng sang đỏ thẫm, xanh đến tím đen do tụ huyết rất phổ biến ở heo
bệnh. Với heo nái đang chửa, nuôi con còn biểu hiện triệu chứng: lười uống
thai chết lưu.
- Ở giai đoạn đẻ và nuôi con: heo nái biểu hiện sốt cao, biếng ăn, lười
uống nước, mất sữa, viêm vú, phần da mỏng nổi ban đỏ biến màu (hồng sau đỏ
sẫm), lờ đờ, hôn mê; heo con mới sinh rất yếu, tai xanh nhạt và chết yểu.
17
- Ở giai đoạn sau cai sữa: heo nái động dục không bình thường (kéo dài)
hoặc phối giống mà không thụ thai, ho và viêm phổi nặng.
Heo con: sốt cao 40 - 42
0
C, gầy yếu, khó thở, mắt có dử màu nâu, phần da
mỏng như da bụng, gần mang tai thường có màu hồng, đôi khi da có vết phồng
rộp, ỉa chảy nhiều, ủ rũ, run rẩy và thường bị chết.
Heo choai, heo thịt: sốt cao 40 - 42
0
C, biếng ăn, ủ rũ, ho, thở khó; những
phần da mỏng như phần da gần tai, phần da bụng nổi ban đỏ lúc đầu màu hồng
nhạt, dần dần chuyển thành màu hồng thẫm và xanh nhạt.
Heo đực giống: sốt, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc mất
tính dục, lượng tinh dịch ít. Các trường hợp cấp tính, heo đực bị sưng dịch hoàn.
Phần lớn heo đực nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng, nhưng tinh dịch có
virus kéo dài từ 6 - 8 tháng.
2.4.3.2. Bệnh tích
Mổ khám có thể thấy các bệnh tích đại thể sau:
- Ở heo nái bị sảy thai: âm môn sưng tụ huyết; niêm mạc tử cung và niêm
mạc âm đạo sưng thuỷ thũng, tụ huyết, xuất huyết đỏ sẫm và chảy dịch. Nếu heo
nái bị bệnh cấp tính, có viêm phổi thì sẽ thấy phổi sưng thuỷ thũng, tụ huyết
từng đám, trong phế quản có nhiều dịch và bọt khí. Một số heo nái bệnh còn
thể hiện viêm bàng quang, xuất huyết.
- Ở heo con theo mẹ: thường thấy viêm đường hô hấp cấp với bệnh tích
điển hình như phế quản và phổi sưng có màu vàng hoặc tụ huyết đỏ, có nhiều
virus (phát hiện kháng nguyên) là các phương pháp tin cậy nhất.
2.4.4.1. Chẩn đoán lâm sàng
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào 2 nhóm triệu chứng:
+ Triệu chứng đường sinh sản: trong giai đoạn đầu của PRRS, có thể thấy
có hiện tượng sảy thai ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai và đẻ non, thai yếu,
thai chết lưu, đồng thời có thai gỗ, heo con yếu, chết trước khi cai sữa.
+ Triệu chứng đường hô hấp: Viêm phổi ở heo con và heo vỗ béo.
Có thể dùng phương pháp chẩn đoán lâm sàng nghi vấn để chẩn đoán
xác định bệnh trong các trường hợp sau:
Sẩy thai muộn > 20%
Chết khi sinh > 5%
Chết trước lúc cai sữa > 25%.
Trong chẩn đoán lâm sàng cần chẩn đoán phân biệt PRRS với các bệnh:
giả dại, cúm heo, truyền nhiễm đường hô hấp do Coronavirus, viêm não và cơ
tim, bệnh do Parvovirus, bệnh do Cytomegalovirus, các bệnh do Circovirus [9]
19
2.4.4.2. Chẩn đoán bằng phương pháp giải phẫu bệnh
Đối với heo con, heo vỗ béo, heo xuất chuồng: khi mổ khám thấy phổi
rắn, chắc, có vùng xám và hồng. Trên tiêu bản vi thể viêm phổi kẽ tăng sinh đa
điểm hoặc lan tràn làm vách phế nang dày lên, viêm não giữa và giảm số lượng
tế bào lympho trong các tổ chức lympho.
Đối với thai sảy và thai chết lưu không có bệnh tích đại thể hoặc vi
thể đặc trưng.
2.4.4.3. Phương pháp huyết thanh học
Có thể phát hiện kháng thể kháng PRRSV trong huyết thanh, dịch của
cơ thể hoặc từ thai chết lưu bằng một số phương pháp huyết thanh học bao gồm
phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp, phương pháp miễn dịch enzym trên
thảm tế bào một lớp, ELISA và phản ứng trung hòa huyết thanh.
Trong các phương pháp trên, ELISA là phương pháp thuận tiện hơn cả
vì có thể chẩn đoán một số lượng lớn huyết thanh, kết quả thu được của các
- Phương pháp huỳnh quang gián tiếp phát hiện kháng nguyên.
- Phương pháp nhân gen PCR.
- Phương pháp lai phân tử tại chỗ (insitu hybrization).
Thực tế phân lập PRRSV gặp nhiều khó khăn do tế bào để phân lập virus
là đại thực bào phế nang của heo, tế bào này cần được lấy từ heo sạch bệnh
khoảng 6 - 8 tuần tuổi. Không phải phòng thí nghiệm nào cũng có sẵn heo sạch
bệnh và các dòng tế bào thường trực không thể thay thế hoàn toàn được tế bào
đại thực bào phế nang vì chúng kém nhạy với virus. Thêm vào đó các lô đại thực
bào khác nhau cũng không phải luôn có độ nhạy giống nhau đối với virus; lý do
này chưa biết rõ, nhưng rõ ràng cần phải kiểm tra mỗi mẻ tế bào trước khi dùng
[3]. Sau khi phân lập được virus, giám định bằng phương pháp huỳnh quang
gián tiếp.
Một số dòng tế bào thận khỉ (MA-104) có thể thay thế được đại thực bào,
nhưng dòng tế bào này không giúp sự tăng sinh của các chủng virus đặc biệt là
các chủng châu Âu.
Các phương pháp RT-PCR và nested PCR cũng là các phương pháp có độ
nhạy cao để phát hiện RNA của virus và được dùng nhiều đối với các tổ chức
khác nhau và huyết thanh của heo. Các phương pháp này cũng rất hữu dụng khi
có vấn đề về phân lập virus, ví dụ như khi xét nghiệm tinh dịch và xét nghiệm
một số tổ chức đã bị phân huỷ do nhiệt độ trong lúc vận chuyển mẫu. Người ta
cũng đã thiết lập một phương pháp multiplex PCR để phân biệt chủng virus
châu Âu và Bắc Mỹ.
2.4.5. Điều trị
- Không có thuốc điều trị đặc hiệu vì đây là bệnh do virus gây ra.
21
- Trong quy trình phòng trị PRRS ở các nước chăn nuôi heo quy mô công
nghiệp (ở châu Âu và Bắc Mỹ), người ta loại thải những heo bị bệnh hoặc mang
virus sau khi xét nghiệm huyết thanh dương tính để khỏi lây nhiễm bệnh trong
đàn heo.
- Ở các nước đang phát triển, người ta vẫn có thể điều trị một số heo nhập
(3) Để loại trừ các bệnh kế phát do vi khuẩn ở heo, tất cả đàn heo
phải được tiêm phòng 4 bệnh đỏ (dịch tả heo, tụ huyết trùng, đóng dấu heo
và phó thương hàn). Trong điều kiện cần thiết có thể phải tiêm vacxin phòng
một số bệnh đường hô hấp (bệnh suyễn heo, bệnh viêm phổi và màng
phổi ở heo).
(4) Khi nhập heo giống, phải mua từ các cơ sở chăn nuôi và vùng không
có PRRS. Heo mới mua về phải nuôi cách ly ít nhất 3 - 4 tuần lễ, không có dấu
hiệu lâm sàng của PRRS cũng như các bệnh truyền nhiễm khác mới cho
nhập đàn.
(5) Đảm bảo thức ăn đủ chất dinh dưỡng và nguồn nước sạch cho heo, giúp
heo có sức đề kháng với PRRSV cũng như các bệnh khác, hạn chế mắc các bệnh
truyền nhiễm.
(6) Giữ chuồng trại và khu chăn thả heo luôn khô sạch, thoáng mát
mùa hè, kín ấm mùa đông và phải phun thuốc sát trùng định kỳ 2 tuần/lần
để diệt mầm bệnh.
(7) Khi xuất nhập heo cần thực hiện kiểm dịch thú y nghiêm ngặt.
2.4.6.2. Biện pháp phòng chống khi có dịch xảy ra
(1) Các gia trại và trang trại phải thống kê số heo ốm, heo chết báo với
chính quyền và thú y địa phương để xử lý theo đúng lệnh công bố dịch và hướng
dẫn phòng chống PRRS của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và PTNT và xin hỗ trợ
thiệt hại của Nhà nước. Tiêu huỷ số heo mắc bệnh nặng không chờ kết quả xét
nghiệm (heo mắc bệnh nặng đã được chăm sóc tích cực, được hỗ trợ tăng cường
sức đề kháng trong vòng 7 ngày nhưng không có khả năng bình phục), heo mắc
bệnh nhẹ nuôi cách ly triệt để với heo chưa bị bệnh để theo dõi chặt chẽ diễn
biến bệnh.
(2) Chính quyền và thú y địa phương tổ chức bao vây ổ dịch, ngăn cấm
không cho vận chuyển heo ra khỏi ổ dịch và cũng không mang heo từ ngoài
vào ổ dịch. Các gia trại và trang trại phối hợp với chính quyền và thú y thực
hiện nghiêm túc biện pháp này.
(3) Không bán chạy heo ra ngoài, không mổ heo và bán thịt heo trong
50
. Vacxin chỉ được pha với dung dịch pha
chuyên biệt, sử dụng tiêm bắp với liều 2ml/heo. Miễn dịch chắc chắn sau tiêm 1
tuần và kéo dài 4 tháng.
Heo con tiêm lần đầu vào lúc 3 tuần tuổi.
Heo đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi và tái chủng hàng năm.
Nái hậu bị và nái sinh sản tiêm phòng trước khi cai sữa cho con hoặc trước
lúc phối giống.
2. Vacxin phòng PRRS BSK-PS100: là loại vacxin vô hoạt chứa chủng
PRRSV dòng châu Âu. Một liều vacxin chứa ít nhất 10
7,5
TCID
50
. Vacxin an
toàn và gây miễn dịch tốt.
Liều dùng 2ml/con, tiêm bắp.
Heo con: sử dụng lần đầu vào lúc 3 - 6 tuần tuổi.
Nái hậu bị: tiêm lúc 18 tuần tuổi, tiêm nhắc lại sau 3 - 4 tuần.
24
Nái sinh sản: tiêm 3 - 4 tuần trước khi phối giống.
Heo đực giống: tiêm lúc 18 tuần tuổi, tái chủng 6 tháng/1 lần.
Bảo quản vacxin ở 2
0
C - 6
0
C.
3. Vacxin Amervac-PRRS: là vacxin nhược độc đông khô, chứa virus
chủng châu Âu VP 046 BIS, mỗi liều ít nhất 10
3,5
TCID