TIỂU LUẬN tư tưởng hồ chí minh quan điểm của hồ chí minh về vai trò và sức mạnh của đạo đức - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Tầm quan trọng của đề tài :
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo
đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong những tác phẩm, bài nói, bài viết, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói đến các phẩm chất đạo đức. Từ thực tế của con người và xã
hội Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát thành những chuẩn mực chung nhất
của nền đạo đức cách mạng việt Nam.
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ thanh
niên, bởi vì “…Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là
mùa xuân của xã hội…”. Đất nước có “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” được
hay không là phụ thuộc vào “đức” và “tài” của thế hệ trẻ, đặc biệt là những sinh viên đang
ngồi trên ghế giảng đường đại học.
Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng,
giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật,
sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc… chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bởi vậy, cần thiết phải vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, vận dụng những quan
điểm về vai trò và sức mạnh đạo đức của Người để giáo dục đạo đức cho sinh viên, đó là
đòi hỏi khách quan và đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu :
Tìm hiểu nội dung quan điểm của Hồ Chí Minh về các phẩm chất đạo đức của con
người Việt Nam trong thời đại mới; làm sáng tỏ được vai trò và sức mạnh của đạo đức
theo quan điểm của Hồ Chí Minh, từ đó vận dụng vào việc xây dựng đạo đức cho sinh
viên. Kết quả nghiên cứu phục vụ cho thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay.
1
Chương 1
NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ VÀ SỨC MẠNH CỦA
ĐẠO ĐỨC
1.1. Đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo

trùm và xuyên suốt toàn bộ tư tưởng đạo đức cách mạng của Người.Có thể hiểu quan
điểm “đức là gốc” của Hồ Chí Minh gồm những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, đạo đức là “gốc”, là nền tảng của người cách mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng,
Người khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển của con người, là cái gốc
của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền
tảng thì mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Không phải ngẫu
nhiên mà khi Lênin mất, Hồ Chí Minh đã viết những dòng đầy xúc động trước tấm gương
đạo đức trong sáng mẫu mực của người thầy vĩ đại : “Không phải chỉ thiên tài của Người,
mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống
giản gị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các
dân tộc châu Á và đã khiến trái tim họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”. Còn
trong “Đường kách mệnh” tác phẩm “gối đầu giường” của những người cách mạng Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã dành chương đầu tiên để bàn về tư cách người cách mệnh, sau đó
mới nói về lý luận và đường lối cách mạng. Với Hồ Chí Minh, “đức là gốc” cho nên, đạo
đức cách mạng không chỉ giúp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới mà còn giúp người
cách mạng không ngừng cầu tiến bộ và hoàn thiện bản thân mình. Người có đạo đức cách
mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại tạm thời… cũng không rụt rè lùi bước, khi
gặp thuận lợi và thành công, vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác,
không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui
sau thiên hạ”. Vì “đức là gốc” cho nên đạo đức cách mạng là thước đo lòng cao thượng
3
của con người. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, trong đời sống xã hội cũng như trong
hoạt động cách mạng, mỗi người có công việc, tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc
to, người làm việc nhỏ, nhưng bất cứ ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao
thượng.
Thứ hai, trong mối quan hệ giữa “đức” và “tài” thì “đức là gốc” nhưng “đức” và “tài”

cách mạng thế giới, hiếm có một lãnh tụ cách mạng nào coi trọng vấn đề đạo đức đến tầm
mức như Hồ Chí Minh, đã đặt đạo đức lên vị trí hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng.
Bởi thế, một đảng nếu xa rời mục tiêu lý tưởng cách mạng, nếu thoái hóa về đạo đức thì
tức đã hỏng từ “gốc” và cuộc cách mạng nếu được tiếp tục, tất yếu sẽ bị biến chất và
không còn ý nghĩa. Tất nhiên, một đảng tiên phong cách mạng nếu chỉ có đạo đức cách
mạng thì chưa đủ mà Đảng còn phải “là văn minh”, phải tiêu biểu cho trí tuệ cả dân tộc.
Ngoài đạo đức cách mạng là yêu cầu tiên quyết, Đảng còn phải có trí tuệ, có năng lực
nhận thức quy luật và hành động cách mạng đúng đắn, biết phân tích chính xác tình hình,
đề ra đường lối, chủ trương sát đúng, đưa cách mạng tiến lên từng bước.
Có thể nhận thấy, quan niệm “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, đạo đức là “gốc”
trong xây dựng Đảng là một tư tưởng xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạo và không được nhân dân tín nhiệm
nữa nếu Đảng yếu kếm, không trong sạch, suy thoái về đạo đức. Người cảnh báo: “Một
dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không
nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ
không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Do đó, thường xuyên tự đổi mới và
tự chỉnh đốn Đảng là một yêu cầu khách quan của chính sự nghiệp cách mạng trong tất cả
các thời kỳ. Trong di chúc của mình, phần nói về những công việc phải làm sau thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “việc cần phải làm trước
tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức
làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được
như vậy, thì dù công việc lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi. Và,
không chỉ trong di chúc, mà chính trong bài viết cuối cùng mà Hồ Chí Minh để lại cũng là
bài viết về đạo đức. Phải chăng, Người muốn dành bài viết cuối cùng cho điều mà Người
5
tâm huyết nhất và cũng là điều mà Người trăn trở nhất trong sự nghiệp cách mạng – Đó là
vấn đề “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, là “thắng lợi của chủ
nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.
Thứ tư, đối với người cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh chỉ rõ năm đức tính quan trọng:
nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người trăn trở vói nguy cơ xa rời cuộc sống, xa rời
quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của Đảng. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng
phải “là đạo đức là văn minh”. Ngươi thường nhắc lại ý của V.I.Lênin: Đảng cộng sản
phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Trong di chúc,
Người căn dặn: “mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,
thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải
xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tế làm
thước đo. Chính vì vậy Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với tài,
lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả trên thực tế. Người nói: “phải lấy kết quả thiết
thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết
chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích
nâng cao sản xuất.”
Như vậy, trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, “đức” và “tài”, hồng và chuyên, phẩm
chất và năng lực thống nhất làm một. Trong đó, đức là gốc của tài, hồng là gốc của
chuyên, phẩm chất là gốc của năng lực. Tài là thể hiện cụ thể của đức trong hiệu quả hành
động.
Vậy :
“Đức là gốc” là quan điểm cơ bản, xuyên suốt trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Với những nội dung sâu sắc, chứa đựng chiều sâu tư tưởng lớn, quan điểm “đức là gốc”
của Hồ Chí Minh không chỉ tiếp nối và nâng cao quan niệm đạo đức truyền thống của
7
phương Đông và Việt Nam mà còn là một cống hiến quan trọng của Người đối với kho
tang lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đối với dân tộc ta, di sản tư tưởng Hồ Chí Minh,
trong đó có tư tưởng về đạo đức cách mạng là tài sản tinh thần vô giá, là ngọn cờ thắng
lợi của cách mạng Việt Nam. Mà không chỉ là tư tưởng, cuộc đời cách mạng không gợn
một chút riêng tư của chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những bài học lớn về
đạo làm người. Xét đến cùng, triết lý lớn về con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là
triêt lý về đạo làm người được tóm gọn trong sáu chữ: Thành người, làm người và ở đời.

tưởng xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó.
Đức được thể hiện ở sự trong sáng, thành thật, trung thực, không cơ hội, thật sự cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục tùng lợi ích tập thể,
lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân… Tài của người cán bộ, đảng viên là trình độ, năng
lực để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất. Tài được thể hiện ở trình
độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, khả năng nhận thức đúng các quy luật, sáng tạo
trong giải quyết công việc; luôn làm chủ được tri thức khoa học và có khả năng hiểu biết
sâu rộng về các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chuyên môn của mình.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đức và tài của người cán bộ, đảng viên phải luôn kết
hợp chặt chẽ với nhau, là hai mặt không tách rời mà hoà quyện với nhau, là cơ sở, điều
kiện, tiền đề của nhau, thúc đẩy lẫn nhau để hoàn thiện, hình thành nhân cách người cán
bộ cách mạng. Đức là nền tảng của tài, định hướng cho tài năng phát triển và phát triển
đúng hướng. Ngược lại, tài là thành tố góp phần tạo nên đức, phát huy tác dụng của đức,
hoàn thiện đức. Người chỉ rõ: “Có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hoá
có hại cho nhà nước. Có đức không có tài, như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích
gì được ai”. Tuy nhiên, Người coi đạo đức cách mạng là nền tảng, là cái gốc của người
9
cán bộ, đảng viên. Đạo đức của người cán bộ cách mạng là cơ sở để người cán bộ phát
huy tài năng, trí tuệ và các phẩm chất khác, hướng năng lực của họ vào hoàn thành thắng
lợi các nhiệm vụ của cách mạng. Nói cách khác, đức là gốc vì trong đức đã có tài, bởi khi
người cán bộ cách mạng có đức sẽ thường xuyên đòi hỏi với chính bản thân việc học tập,
nâng cao trình độ, tài năng để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Trong đời sống thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện nay,
quan niệm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đức và tài vẫn còn nguyên giá trị. Tuy nhiên, ở
một góc độ nào đó nó có những biểu hiện cụ thể hơn như: Đức của người cán bộ, đảng
viên hiện nay là phải biết trăn trở trước cuộc sống nghèo khổ của quần chúng nhân dân và
nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế của đất nước so với thế giới; phải suy nghĩ và
hành động, đem hết tài năng, tâm sức cống hiến cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Đức
phải là nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều; phải biết thể hiện bằng hành động, bằng
những việc làm cụ thể, bằng việc nêu gương để thuyết phục, quy tụ mọi người. Đặc biệt,

lý luận cách mạng khoa học, có nghệ thuật lãnh đạo, biết nắm bắt thời cơ và vượt qua
nguy cơ, biết dựa vào quần chúng, biết phát huy trí tuệ của quần chúng, vận dụng sáng tạo
các bài học của lịch sử. Như một tất yếu của lịch sử, Đảng của những người Cộng sản
Việt Nam đã được toàn thể nhân dân gọi là Đảng ta. Sự thừa nhận này không chỉ có ý
nghĩa chính trị , tư tưởng, pháp lý quan trọng mà còn thể hiện sự đồng điệu về tinh thần,
về đạo đức, về văn hóa một cách sâu sắc giữa Đảng với dân, giữa đảng viên và quần
chúng nhân dân. Đảng được nhìn nhận như hiện thân của những giá trị cao đẹp nhất của
con người Việt Nam, hơn thế nữa, những giá trị ấy lại được nâng lên một tầm cao mới, đó
là đạo đức cách mạng với sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, biết lo trước, vui sau,
sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc… Nhờ có những giá trị cao đẹp
ấy làm nền tảng mà Đảng ta đã luôn trụ vững, củng cố và phát triển trong mọi hoàn cảnh.
Càng vào những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt, Đảng càng chứng tỏ bản lĩnh
của mình.
Sinh thời, khi nói về Đảng ta, trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh, một con người đại nhân, đại trí, đại dũng, đại khiêm đã khẳng định một
cách đầy tự hào:
11
“Đảng ta là đạo đức, là văn minh, là thống nhất, độc lập, hòa bình, tự do”
Đó là niềm tự hào chính đáng về một đảng chính trị đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự
do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, tự hào vì “ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân,
của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Đồng thời “là đạo đức, là văn minh” cũng
chính là mục tiêu, là yêu cầu của Bác đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng – kể cả
trong thời điểm hiện tại và tương lai, bởi lẽ theo lời Bác thì: "Một dân tộc, một Đảng và
mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và
ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu
sa vào chủ nghĩa cá nhân".
Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam được quyết định bởi sự lãnh đạo sáng suốt,
đúng đắn của Đảng, đồng thời, còn bởi vì chúng ta có một đội ngũ cán bộ, đảng viên giác
ngộ cao về cách mạng, gắn bó với quần chúng, biết học tập quần chúng và phát huy sức
mạnh của quần chúng. Hơn ai hết họ là những người luôn đi tiên phong trong phong trào

sinh cả tính mạng mình cho Đảng, Tổ quốc, cho nhân dân. Có đạo đức cách mạng thì khi
gặp thuận lợi, thành công, khó khăn hay thất bại đều một lòng quyết tâm vì lợi ích của
đảng, của dân tộc.
Đạo đức cách mạng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho
Đảng, cho cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc giải phóng giai cấp, giải phóng
toàn nhân loại. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối
chính sách của đảng. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi
ích của cá nhân mình. Vì sự nghiệp của đảng mà hy sinh quên mình, gương mẫu trong
mọi việc, là không ngừng nâng cao phẩm chất năng lực bản thân, phải làm cho mình là
tấm gương để mọi người noi theo. Trước khi mãi mãi đi xa, trong Di chúc - tác phẩm cuối
cùng của đời mình, một lần nữa Bác viết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm
nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng
ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân”.
Vì thế, vấn đề chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là yêu cầu cấp thiết,
trong đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm với những yêu cầu của công tác
xây dựng đảng phải được xem là khâu then chốt và phải chú trọng những điểm sau đây:
13
Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị, chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ,
đảng viên.
Bản lĩnh chính trị của người cán bộ đảng viên giúp họ đứng vững trước những khó
khăn, thử thách của cách mạng, có tính quyết định sự thành bại đối với công cuộc xây
dựng và chính đốn đảng trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”, là công cụ
hữu hiệu giúp loại bỏ và chống lại chủ nghĩa cá nhân. Bản lĩnh chính trị là sự kiên định,
vững vàng về tư tưởng chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững các nguyên tắc tổ
chức hoạt động cơ bản của Đảng… Sinh thời Bác đã nhiều lần nhắc nhở: Chủ nghĩa cá
nhân đẻ ra bệnh quan liêu, tham nhũng, hối lộ và hàng trăm bệnh khác làm suy yếu Đảng.
Chính vì thế nên Bác thường xuyên căn dặn: “ Vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng
viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi nào lợi ích của Đảng và lợi ích

chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê
bình phải đi đôi với nhau. Người khẳng định: tự phê bình và phê bình có vai trò, ý nghĩa
hết sức quan trọng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải xem tự phê bình và phê bình như
mỗi ngày soi gương, rửa mặt, để làm cho sạch sẽ cơ thể; mỗi cán bộ, đảng viên “Luôn
luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình nói, những việc mình đã làm, để phát
triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh
người khác phê bình mình”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là công cụ quan trọng
nhất để xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đoàn kết trong Đảng là
đoàn kết thống nhất từ trong tư duy, nhận thức, lý tưởng đến hành động cách mạng hàng
ngày.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhận định: “Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mật, dù bị
bọn thực dân khủng bố gắt gao và Đảng ta gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng
Đảng ta ngày càng phát triển, càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng
thành công, kháng chiến thắng lợi. Đó là vì Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê
bình và tự phê bình”. Nên, trong Di chúc, Người căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân
chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để
15
củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương
yêu lẫn nhau”.
Đối với Đảng ta hiện nay, tự phê bình và phê bình cũng là một trong bốn giải pháp
quan trọng về xây dựng Đảng được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đề ra và yêu cầu toàn thể cán bộ, đảng viên
thực hiện nghiêm túc, trong đó đặc biệt chú trọng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Bốn là, quán triệt và nghiêm chỉnh thực hiện những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách
về xây dựng Đảng hiện nay.
Tóm lại, để thực hiện việc xây dựng chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, “là đạo
đức, là văn minh” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta cần thường xuyên, kiên nhẫn tiến
hành những công việc như: Học tập và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều
kiện cách mạng Việt Nam, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status