Tiểu luận Tư tưởng Hồ chí minh
Hồ Chí Minh con người và huyền thoại
1
MỤC LỤC
HỒ CHÍ MINH , CON NGƯỜI VÀ HUYỀN THOẠI.
Lời nói đầu
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người đã
đem đến cho dân tộc Việt Nam một vận mệnh mới, một vị trí mới,
Người là tấm gương cho mọi thế hệ trẻ của mọi thời đại .
2
Việc học tập và nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh là một
trách nhiệm và cũng là một quyền lợi của mỗi một sinh viên. Thật
may mắn là kì này em cũng được học tập và nghiên cứu tư tưởng
của Người.
Tuy nhiên thời gian học tập còn ngắn, thời gian nghiên cứu
còn sơ sài nên bài tiểu luận không thể tránh khỏi nhiều sai sót.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Đông đã tận tình dạy dỗ và
giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và học tập tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Sinh viên
Lê viết Thư
Chương I : Huyền thoại và yếu tố “Thần” trong
thời kì phong kiến
Lịch sử phong kiến dân tộc Việt Nam trải qua hơn 4000 năm phát
triển, trong đó bắt đầu từ thời An Dương Vương và kết thúc bằng
triều đại nhà Nguyễn. Trong quá trình phát triển lâu dài đó có rất
nhiều thời gian chúng ta bị ách đô hộ của các triều đại phong kiến,
va cũng đã có rất nhiều vị anh hùng, rất nhiều vị lãnh tụ xuất hiện ,
3
điều đó bắt nguồn từ truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc
ta.
xin nương nhờ. Trần Minh Công nhìn qua một lượt biết Vương là người có
khí lượng lớn mới nuôi làm con mình. Trần Minh Công đem binh lính của
ngài giao hết cho Vương (Đinh Bộ Lĩnh) rồi sai đi đánh 12 sứ quân và đều
được dẹp yên. Năm Mậu Thìn (năm 968 - ND) Trần Minh Công chết. Dân
chúng ở kinh, phủ, lại, đa số đều theo về với Vương. Đến năm thứ nhất niên
hiệu Khai bảo (năm Mậu Thìn-968 - ND) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ,
4
Vương xưng hoàng đế ở động Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế triều nghi,
sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.
2. Lê Hoàn:
Đại Việt sử lược (1388): Vua Tên húy là Hoàn, họ Lê, người ở Trường
Châu, cha tên Mịch, mẹ là người họ Đặng. Người mẹ lúc mới mang thai, nằm
mộng thấy mọc lên cây hoa sen, chốc lát thì hết trái, mới hái đem cho mọi
người cùng ăn, đến lúc thức dậy không biết cớ làm sao. Đến năm thứ nhất
niên hiệu Thiên Phúc (năm Bính Thân-936 - ND) tháng 7, ngày rằm thì sanh
ra vua. Người mẹ thấy nơi tay của ngài có màu sắc lạ thường mới nói với
người ta rằng: "Đức trẻ này lúc khôn lớn sợ tôi không kịp hưởng lộc của nó".
Hơn vài năm sau thì cha mẹ đều qua đời. Lúc bấy giờ có người ở Quảng Châu
là Lê Sát thấy đứa trẻ khác lạ mới nuôi làm con mình. Gặp phải mùa đông
lạnh, ngài (nhà vua - ND) mới nghiêng cái cối giã mà nằm. Lê Sát nhìn xem
thì thấy có rồng vàng che trên mình của ngài. Do đó mà càng thấy lạ lắm vậy.
Đến lúc lớn lên ngài theo giúp Nam Việt Vương Đinh Liễn. Tiên Vương
(Đinh Tiên Hoàng) khen ngài là người trí dũng nhiều lần thăng chức, ngài
được thăng đến chức Thập đạo tướng quân, Điện tiền chỉ huy sứ.
3. Lý Công Uẩn:
Đại Việt sử lược (1388): Vua Thái Tổ tên húy là Uẩn, họ Lý người ở Cổ
Pháp thuộc Bắc Giang. Mẹ là người họ Phạm, sanh ra ngài vào ngày 17 tháng
2 năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình (đời Đinh Tiên Hoàng, tức là năm Giáp Tuất-
974 - ND). Lúc nhỏ, vua thông minh, tính khí khôi hoạt rộng rãi. Tới học ở
chùa Lục Tổ, thiền sư Vạn Hạnh thấy cho là khác lạ, nói: "Đây là người phi
của tôi đã hơn 70 rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh trị mà lấy làm giận". Vua
sợ lời nói tiết lộ ra nên bảo Vạn Hạnh vào ẩn ở Ba Sơn.
Trước kia ở chùa Ứng Thiên trong làng có con chó sanh ra một con chó con
trắng, trên lưng lại có lông đen làm thành chữ Thiên tử. Thế rồi đến năm Giáp
Tuất thì nhà vua được sanh ra. Năm Canh Tuất (năm 1010) tức là năm thứ 2,
tháng Giêng vua đổi niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất.
Lúc ban đầu vua thấy thành Hoa Lư chật hẹp, ẩm thấp, bèn dời đô đến thành
Đại La. Lúc khởi sự dời đô, thuyền đậu dưới thành thì có rồng vàng hiện ra
nơi thuyền của vua, nhân đó mà gọi là Thăng Long. Đổi Hoa Lư thành phủ
Trường An, sông Bắc Giang là sông Thiên Đức và Cổ Pháp là phủ Thiên Đức.
4. Nhà Trần thay nhà Lý:
Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (1697): Sử thần Ngô Sĩ Liên
nói: "Đến thời Huệ Tông, cái độc hại cho thiên hạ đã ăn sâu lắm, mà vua
không phải người giỏi giang cứng cáp, bề tôi giúp nước thì nhu nhược hèn
kém, muốn chữa cái độc đã sâu thì làm thế nào được. Huống chi vua lại bị
chứng hiểm, chữa không khỏi, lại không có con trai để nối nghiệp lớn, thế là
điểm nguy vong đã hiện ra rồi. Tục truyền rằng Lý [Thái] Tổ khi mới được
thiên hạ, xa giá về Cổ Pháp ngự chơi chùa ở hương Phù Đổng, có thần nhân
đề thơ ở cột chùa rằng: "Nhất bất công đức thủy, Tùy duyên hoa thế gian.
Quang quang trùng chiếu chúc. Một ảnh nhật đăng san". [Một bát nước công
đức [của Phật], theo duyên sinh hoá ở thế gian. Sáng rực hai lần đuốc rọi, mặt
trời gác núi là hết bóng]. Sư chùa là Vạn Hạnh đem bài thơ ấy dâng lên. Lý
Thái Tổ xem xong rồi nói: "Việc của thần nhân thì không thể hiểu được".
6
Người đời truyền tụng, không ai biết thơ ấy nói thế nào. Đến khi nhà Lý mất,
mới cho bài thi ấy là nghiệm. Vì từ đời Huệ Tông trở lên đến Thái Tổ là tám
đời mà Huệ Tông tên là Sảm, tức là mặt trời gác núi, hết bóng. Thế thì nhà Lý
được nước là tự trời, mất nước cũng là tự trời vậy.
Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ (1775): Xưa vua Lý Thái Tổ mới lên
ngôi, có đến chơi chùa Phù Đổng, thấy có bài thơ của vị thần đề ở cột chùa
Lam Sơn thực lục (Nguyễn Trãi): Nguyên xưa lúc Nhà vua chưa sinh, ở
xứ Du sơn trong làng, dưới cây rừng quế, thuộc thôn sau Như Áng, thường có
7
con hổ đen, thân nhau với người, chưa hề làm hại ai! Đến giờ Tý ngày mồng
sáu tháng Tám năm Ất Sửu sinh ra nhà vua từ đó không thấy con hổ đâu!
Người ta cho là chuyện lạ.
Lúc sinh nhà vua có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương đầy xóm. Lúc
nhỏ, tinh thần và vẻ người coi rất mạnh mẽ, nghiêm trang; mắt sáng; miệng
rộng; mũi cao; mặt vuông; vai trái có bảy nốt ruồi; đi như rồng; bước như hổ,
tóc, lông đầy người, tiếng vang như chuông; ngồi như hùm ngồi! Kẻ thức giả
biết là bậc người cực sang! Kịp khi lớn, thông minh, khôn, khỏe, vượt hẳn
bọn tầm thường; làm Phụ đạo làng Khả Lam. Khi ấy nhà vua sai người nhà
cày ruộng ở xứ Phật hoàng động Chiêu Nghi. Chợt thấy một nhà sư già, mặc
áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng:
- Quý hoá thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn!
Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với nhà vua, nhà vua liền đuổi theo tìm
hỏi chuyện đó.
Có người báo rằng:
- Sư già đã đi xa rồi.
Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ Lôi, (tức huyện Lôi Dương
ngày nay) thấy một cái thẻ tre, đề chữ rằng:
Thiên đức thụ mệnh.
Tuế trung tứ thập.
Số chi dĩ định,
Tích tai vị cập.
Nghĩa là:
"Đức trời chịu mệnh,
"Tuổi giữa bốn mươi!
"Số kia đã định,
"Chưa tới tiếc thay!"
Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch
rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ "Thuận thiên", cùng chữ "Lợi". Lại một hôm,
Nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài dũa thành hình, Nhà
vua lạy trời khấn rằng:
- Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!
Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, bèn thành ra chuôi gươm. Tới hôm sau,
lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, Hoàng hậu ra trông vười cải, bỗng thấy
bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà
vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận thiên (sau lấy chữ này làm
niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm
mừng, giấu giếm không nói ra.
Tích trả gươm trong dân gian : Kháng chiến chống Minh thành công,
một ngày thanh bình du lãm hồ Lục Thủy, Lê Lợi thấy rùa vàng hiện lên đuổi
theo thuyền rồng. Ông liền rút gươm toan tự vệ thì thanh gươm rơi ngay
xuống nước. Rùa vàng ngậm gươm và lặn mất. Lê Lợi cho rằng thần thánh đã
cho ông mượn gươm dẹp giặc, nay bình Ngô xong thần đòi lại gươm. Từ đó
hồ Lục Thủy được đổi tên thành Hoàn Kiếm tức Trả gươm hay Hồ Gươm.
Kết luận : sử dụng yếu tố thần, đồng thời tôn người lãnh tụ của mình
thành huyền thoại ở thời phong kiến không có gì là khó hiểu cả. Khi đa số dân
ta còn làm nông nghiệp, còn phụ thuộc vào thiên nhiên là chủ yếu thì đối với
họ, phải là một nguời con của thần thánh mới có thể giỏi giang và xuất chúng
đến vậy , chính vì vậy mà họ đã thần thánh hóa lãn tụ của mình . Các vị lãnh
tụ tài năng, ngoài cái tài xuất chúng của họ, còn phải kể đến tài thu phục nhân
tâm của họ và các quân sư. Đó cũng chính là một yếu tố dẫn đến thành công.
9
Chuơng II : Con nguời Hồ Chí Minh
Một cách tình cờ chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra tại làng Sen tức Kim
Liên. Từ bài ca dao nổi tiếng:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Cùng năm ấy, Người thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tập
hợp Việt Kiều ở Pháp. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt
động trong phong trào công nhân Pháp. Đầu năm đó, Người gửi đến Hội nghị
Véc-xây (Pháp) "Bản yêusách của nhân dân Việt Nam", đòi Chính phủ Pháp
phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam. .
Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người bỏ
phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng
sản Pháp. Sự kiện trên đây đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách
mạng của Người, bước ngoa chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản
Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và
năm 1922 xuất bản báo "Người cùng khổ" ở Pháp. Tháng 6/1923, Người từ
Pháp đi Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, tiếp tục nghiên
cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tham gia công tác của Quốc tế cộng sản. Cùng
năm đó, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân. Năm 1924,
người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản và được cử làm Ủy viên Bộ
phương Đông, phụ trách Cục phương Nam, hướng dẫn và xây dựng phong
trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở các nước Đông - Nam châu Á. Năm
1925, Người thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
Tháng 6/1925, Người tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí
Hội, mà hạt nhân là Cộng sản Đoàn, đồng thời ra báo Thanh niên và mở lớp
huấn luyện đào tạo hàng trăm cán bộ đưa về nước hoạt động.
11
Ngày 3/2/1930, Người triệu tập hội nghị hợp nhất tại Cửu Long (Hương
Cảng) để thống nhất các nhóm cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Trong thời gian từ 1930 đến 1940, Người ở nước ngoài tham gia công tác của
Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và
có những chị thị quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng ta.
Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài Người về nước triệu tâp hội
nghị n thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối
chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân Pháp đến thắng lợi lịch sử
Điện Biên Phủ (1954).
Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Miền Bắc Việt Nam được
giải phóng. Nhưng một nửa nước ở miền Nam bị đế quốc Mỹ biến thành
thuộc địa kiểu mới của chúng. Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo
nhân dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền
Nam.
Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về
hai nhiệm vụ chiến lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban chấp
hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Người và của Ban chấp hành
Trung ương đảng, nhân dân ta vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiếng chống Mỹ, cứu nước để
bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và đưa cả nước
tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
II. Kết luận.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong
sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc
kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi
và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng
sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công
lý trên thế giới.
Qua cuộc đời và hoạt động của Người ta thấy , thành công của Người
có được hoàn toàn là do sự nỗ lực cố gắng của bản thân , sự đam mê tìm tòi
học hỏi, cộng với lòng yêu nước thương dân vô hạn. Một tấm lòng tha thiết
mong mỏi tìm ra con đường giải phóng dân tộc.
Đã có lúc Người phải làm bồi trên tàu viễn dương để được đi sang nước
ngoài tìm đường cứu nước. Đã có lúc người phải làm chân xúc tuyết để mưu
sinh nhằm tiếp tục nghiên cứu và học tập.
biết thêm nhiều về tấm gương sáng chói của dân tộc Việt Nam.
Mục lục Tài liệu tham khảo;
-Đại Việt lược sử.
-Hồ Chí Minh toàn tập.
-Web : www.dangcongsan.vn14
15