LỜI MỞ ĐẦU
Pháp luật ra đời từ nhu cầu của xã hội. Tính hiệu quả và khả thi của pháp
luật thường được thể hiện ở hai phương diện: một là, các quy phạm phản ánh
đúng, đủ các quan hệ xã hội mà quy phạm đó hướng tới; hai là sự chấp nhận
(mang tính khoa học) của các đối tượng chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp
luật đó. Cả hai phương diện này phản ánh tính khoa học, sự tìm tòi, đề xuất nhằm
chọn lọc cái tối ưu về hiệu quả xã hội của các quy pham khi tác động đến mọi mặt
của đời sống xã hội. Để có một quá trình xây dựng pháp luật đạt hiệu quả, nhà lập
pháp phải nắm vững những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới nó. Nhận thức được
tầm quan trọng của vấn đề xây dựng pháp luật, em đã lựa chọn đề tài: “ Phân tích
các yếu tố tác động tới hoạt động xây dựng pháp luật? Liên hệ với tình hình
thực tiễn thực hiện pháp luật của nước ta hiện nay?”.
NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
Hoạt động xây dựng pháp luật còn gọi là hoạt động sáng tạo pháp luật. Hoạt
động xây dựng pháp luật là lĩnh vực hoạt động cơ bản, quan trọng của nhà nước
nên nó thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng; đồng thời nó cũng là một
trong những hình thức hoạt động cơ bản nhất của nhà nước nhằm tạo ra công cụ,
phương tiện, hữu hiệu phục vụ công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Nói khái
quát, hoạt động xây dựng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhằm soạn thảo, ban hành các luật, văn bản pháp luật, bao gồm từ khâu
nghiên cứu, soạn thảo, thông qua và công bố văn bản.
II. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG
PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI THỰC TIỄN XÂY DỰNG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM.
Có rất nhiều các yếu tố tác động tới hoạt động xây dựng pháp luật, điển
hình đó là kỹ năng soạn thảo văn bản, dư luận xã hội, và thông tin đại chúng.
1
1. Kỹ năng soạn thảo các dự án luật.
Vấn đề xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các
văn bản quy phạm pháp luật dưới luật ở nước ta trong thời gian qua, mặc dù số
văn bản pháp luật có thể bị xa rời thực tiễn, không phát huy được tác dụng trong
điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Thứ ba, tri thức, hiểu biết pháp luật là ý thức pháp luật của các chủ thể tham
gia xây dựng pháp luật là cái tác động mạnh mẽ đến chất lượng văn bản pháp luật
được ban hành. Nó là cơ sở để các chủ thể nêu lên các sáng kiến pháp luật, phân
tích hình thức, nội dung, cấu trúc của các dự thảo quy phạm pháp luật đã hợp lý
chưa, chỉ ra tính hợp hiến hay không hợp hiến, sự trùng lặp hay không trùng lặp
với những văn bản đã được ban hành; đã bao quát được hết các khả năng có thể có
hay còn bộc lộ những khe hở nào đó… Những điểm này, khi được chú trọng xem
xét trong quá trình soạn thảo dự án luật sẽ cho ra đời văn bản pháp luật tốt, có chất
lượng cao; ngược lại, sự chồng chéo, thiếu đồng bộ là chuyện có thể nhìn thấy
trước.
Thứ tư, hoạt động của cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan chuyên trách soạn
thảo và các cơ quan tham gia, phối hợp cũng có tác động không nhỏ đến chất
lượng văn bản dự thảo luật. Về nguyên tắc, cơ quan chuyên trách phải hoạt động
độc lập thì mới đảm bảo tính khách quan, vô tư của các quy phạm pháp luật, tránh
tình trạng “vừa đá bong, vừa thổi còi”. Sự tham vấn ý kiến của các cơ quan khác là
rất cần thiết nhằm khắc phục sự cảm tính, tùy tiện. Tham khảo các văn bản pháp
luật của nước ngoài ở lĩnh vực có liên quan cũng rất quan trọng, nhưng chỉ là tham
khảo, tránh dập khuôn, máy móc vì mỗi đất nước có nền kinh tế, văn hóa, xã hội,
phong tục, tập quán khác nhau.
Thực tế chỉ ra rằng, trong một số trường hợp, pháp luật được ban hành
nhanh chóng trở nên lạc hậu so với yêu cầu của cuộc sống chính là vì kỹ năng soạn
thảo luật của chủ thể còn nhiều hạn chế, trình độ kiến thức, hiểu biết xã hội, hiểu
3
biết pháp luật của họ còn thấp; chưa có các chuyên gia làm việc chuyên nghiệp
trong lĩnh vực này. Một số văn bản pháp luật điều chỉnh ngành nào, lĩnh vực nào
thì giao cho ngành đó soạn thảo nên chưa đảm bảo tính khách quan, vô tư trong các
chuẩn mực pháp luật.
Trước đây, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh chưa có
tỉnh; Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh chưa
đảm bảo đúng trình tự, thủ tục luật định. Số lượng văn bản đăng ký ban hành theo
các Chương trình này đạt tỷ lệ không cao, vì vậy chương trình lập quy của chính
quyền cấp tỉnh còn mang tính hình thức;
- Dự thảo văn bản gửi thẩm định không đúng quy định làm ảnh hưởng đến
thời gian thẩm định và bị động cho cơ quan thực hiện chức năng thẩm định. Đội
ngũ cán bộ làm công tác thẩm định ở địa phương còn nhiều hạn chế về trình độ,
năng lực. Nội dung thẩm định phần lớn về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản,
chưa đi sâu phân tích nội dung của văn bản;
- Công tác rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh
hàng năm chưa được quan tâm đúng mức. Việc gửi văn bản phục vụ cho công tác
kiểm tra chưa kịp thời và chưa đầy đủ theo quy định của pháp luật;
- Mặc dù nội dung thẩm định chủ yếu phát hiện các lỗi về hình thức, kỹ
thuật trình bày nhưng hầu hết các văn bản ban hành vẫn chưa đảm bảo về mặt trình
tự, thủ tục và thể thức, kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật;
- Nhiều địa phương còn né tránh việc kiểm tra văn bản nên đã không ban
hành văn bản quy phạm pháp luật mà thay vào đó là ban hành nhiều văn bản cá
biệt có chứa quy phạm pháp luật;
5
- Vai trò của các luật sư, luật gia trong việc tham gia vào hoạt động ban hành
văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh còn nhiều hạn chế.
Tất cả những điều đó cần được khắc phục để có thể nâng cao hơn nữa chất
lượng của hoạt động xây dựng pháp luật.
2.Dư luận xã hội
Dư luận xã hội là một tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh
giá của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính
thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người
và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ.
Dư luận xã hội là sự biểu hiện trạng thái ý thức của một cộng đồng người, là
một phương thức tồn tại đặc biệt của ý thức xã hội. Dư luận xã hội với tư cách một
ta đã khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đồng thời,
thiết lập cơ chế bảo đảm sao cho việc thực thi quyền lực nhà nước phục vụ cho lợi
ích của nhân dân và luôn nằm dưới sự kiểm soát của nhân dân. Dưới chế độ ta,
nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ
trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là hình thức nhân dân trực tiếp thể
hiện ý chí và nguyện vọng của mình. Đây là hình thức hữu hiệu tạo cho nhân dân,
với tính cách là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước, khả năng tham
gia tích cực và chủ động vào các hoạt động của Nhà nước, trong đó có hoạt động
xây dựng pháp luật. Dân chủ đại diện là hình thức cơ bản mà thông qua đó, nhân
dân thực hiện quyền lực nhà nước, vận hành theo quy định của Hiến pháp. Theo cơ
chế này, nhân dân bầu ra cơ quan đại diện. Cơ quan đại diện trực tiếp nhận quyền
lực từ nhân dân nên còn được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước, trong đó Quốc
hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương.
7
Thứ hai, “Pháp luật không phải là công cụ quản lý vạn năng” do vậy trong
pháp luật sẽ có những lỗ hổng thiếu sót nhất định. Và bằng thực tiễn, dư luận xã
hội có thể tìm ra được những lỗ hổng đó, góp phần không nhỏ trong việc hoàn
thiện pháp luật, có thể đưa ra những giải pháp sữa chữa các sai lầm mà pháp luật
mắc phải.
Dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có ý nghĩa rất quan trọng và thiết
thực đối với quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quy
phạm pháp luật dưới luật, đối với việc ban hành các quyết định của các cá nhân,
nhà chức trách có thẩm quyền. Để có được các văn bản pháp luật sát thực tế, các
văn bản quyết định quản lý hành chính nhà nước đúng đắn, có tính khả thi cao,
trước khi xây dựng, soạn thảo các dự án luật hay ban hành các quyết địnhh, các cơ
quan lập pháp, cơ quan quản lý phải nắm bắt được thực trạng tư tưởng, tâm lý của
các đối tượng xã hội mà văn bản pháp luật quyết định nhằm vào. Mọi chủ trương,
chính sách pháp luật khó có thể trở thành hiện thực nếu không hợp lòng dân, không
được nhân dân ủng hộ. Khi đã có các dự án luật, các thông tin phản hồi lại càng
hoặc không có thông tin phản hồi (tiếp nhận hay không tiếp nhận) ý kiến của các
nhà khoa học.
3.Thông tin đại chúng
Sự hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát
thanh, truyền hình có tác động rất mạnh mẽ và quan trọng tới hoạt động xây dựng
pháp luật, thể hiện các điểm sau:
Thứ nhất, các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp thông tin tương đối
đầy đủ và đa dạng về các sự kiện, sự việc,hiện tượng pháp lý xảy ra trong đời sống
chính trị, xã hội, pháp luật; cung cấp những tri thức, hiểu biết pháp luật cần thiết
cho các chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật, phản ánh hoạt động tiếp xúc cử
9
tri của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đưa tin về các kỳ họp
của Quốc hội… Qua đó, các phương tiện truyền thông tác động tới nhận thức của
các chủ thể về tầm quan trọng của hoạt động xây dựng pháp luật, tạo cơ sở thông
tin để các tầng lớp xã hội tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật.
Thứ hai, các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải những thông tin về
chính sách pháp luật của Nhà nước, các dự thảo văn bản pháp luật mới, đưa các
thông tin đó đến được với đông đảo các tầng lớp nhân dân. Thông tin đại chúng tạo
diễn đàn ngôn luận để các chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật tham gia bình
luận, phân tích, đóng góp ý kiến vào hình thức, nội dung, cấu trúc của văn bản
pháp luật. Đồng thời, các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải các thông tin
phản hồi, các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân cho
hoạt động xây dựng pháp luật. Bằng cách tác động đó, thông tin đại chúng giúp
cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tập hợp thông tin, xử lý và tiếp thu có
chọn lọc các ý kiến xác đáng phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn
thiện các văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ ba, các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò định hướng thông tin
pháp luật, tạo lập các luồng dư luận xã hội tích cực phản ánh hoạt động xây dựng
pháp luật; góp phần đấu tranh chống lại các âm mưu phá hoại, các luận điệu tuyên
truyền, xuyên tạc và bịa đặt của các thế lực thù địch về nội dung, bản chất hệ thống
12
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.
NỘI DUNG.
I. KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
II. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG
PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI THỰC TIỄN XÂY DỰNG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM.
1. Kỹ năng soạn thảo các dự án luật.
2. Dư luận xã hội.
3. Thông tin đại chúng.
III. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CỦA
VIỆC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
KẾT LUẬN.
13