Website: Ema il :
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN
ề tài:
Tìm hiểu vấn đề nhận thức luận
trong “kinh LĂNG GIà”
Giảng viên : Hoàng Thị Thơ
Học viên : Nguyễn Thị Liên
Lớp : Cao học K13
Hà Nội -2006
1
Website: Ema il :
LỜI MỞ ĐẦU
Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam, sau đó tiếp thu
một số ảnh hưởng phật giáo Trung Quốc. Trước thế kỷ V, VI là giai đoạn Việt
– Ấn, thời kỳ này các tu sĩ Ấn Độ theo thuyền buôn đến đây truyền giáo. Sau
khi Phật giáo Trung Quốc hình thành các tông thì tác động đến Phật giáo Việt
Nam.
Phật giáo truyền vào Việt Nam đã trở thành một trong những hệ tư
tưởng- tôn giáo có sức sống lâu dài, tồn tại cho đến ngày nay và đã có ảnh
hưởng sâu sắc đến tinh thần của người Việt. Với quan niệm và tư tưởng độc
đáo của mình phật giáo đã trở nên gần gũi và không thể thiếu trong nền văn
hoá Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh đổi mới đất nước, do bối cảnh của
nền kinh tế thị trường, cùng với những học thuyết và tư tưởng tôn giáo khác,
Phật giáo đã có những thay đổi lớn. Điều đó tác động không nhỏ cả về mặt
tích cực lẫn những mặt tiêu cực tới đời sống đạo đức của người Việt.
Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, cả Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo
Trung Quốc là hai nguồn gốc chính của Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Ấn Độ
Thừa cất giữ. Trong đó có lẽ ông ghi lại hết tất cả giáo lý quan trọng mà
những người theo Đại Thừa của thời ông chấp nhận”(Thích Chơn Thiện và
Trần Tuấn Mẫn (dịch), Lăng Già Đại Thừa Kinh, Nxb Thành Phố Hồ Chí
Minh, 1998,tr. 15).
Có thể nói niên đại của Lăng Già muộn hơn cả các bộ Nikaya và
Ahàm- là các bộ kinh biên soạn sau thời đức Phật.
1.2. Vị trí kinh điển
Tương truyền rằng thời vua Lương Võ Đế, Bồ Đề Đạt Ma- tổ khai sáng
thiền tông- từ Tây Trúc đã sang trao kinh Lăng Già cho đệ tử Trung Hoa đầu
tiên là Huệ Khả và nói: Xứ này có bốn quyển Lăng Già có thể dùng tâm ấn
3
Website: Ema il :
trọn trao cho ngươi. Theo truyền thống Đại Thừa Trung Hoa thì Lăng Già là
bản pháp chính truyền nhất, được coi như sự kí thác của đạo phật.
Lankavatara-sutra có bốn bản dịch nay còn lại ba bản.
1 “Lăng Già A bạt đa la bảo kinh” do Cầu na bạt đa la đời Tống(424-
454) dịch, gồm 4 quyển lên gọi là Tứ quyển Lăng Già
2. “Nhập Lăng Già kinh” do Bồ đề Lưu Chi đời Nguyên dịch, gồm 10
quyển nên gọi là Thập quyển Lăng Già.
3 Đại thừa nhập Lăng Già kinh doThực xoa nan đà đời Đường, thời Võ
Tắc Thiên(684-705) gồm 7 quyển nên gọi là Thất quyển Lăng Già kinh.
Đây được coi là bộ kinh quý giá đối với lịch sử Thiền phật giáo thời kì
đầu ở Trung Quốc. Thậm chí có người cho rằng Cầu na bạt đà la, dịch giả đầu
tiên của bản Hán văn mới là sở tổ của Thiền Trung Quốc chứ không phải Bồ
Đề Đạt Ma.
3. Kết cấu của kinh
Toàn bộ kinh này được trình bày, gồm 9 chương ở dạng văn xuôi và
một chương ở dạng phú. Lăng Già có kết cấu và cách trình bày hoàn toàn độc
lập, không theo quy phạm chung của các kinh Phật.
Mỗi chương hoàn toàn độc lập, mối liên hệ giữa các chương không rõ
thức cho mùi vị, thiệt thức cho vị nếm, thân thức cho sự xúc chạm và ý thức
cho các ý tưởng tổng hợp sáu thức này nhằm phân biệt những kía cạnh khác
nhau của thế giới bên ngoài, còn ý căn liên hệ với Tạng thức như một cơ quan
suy nghĩ, nhưng thực ra nó còn hơn thế nữa, vì nó cũng là một năng lực mạnh
mẽ ràng buộc chính nó với kết quả của suy nghĩ. Thức thứ 8 là căn nguyên
của mọi thức, là kho chứa mọi thức. Tạng thức và 7 thức trên tuy cùng một
thể là nhận thức nhưng 7 thức trên luôn luôn biến động và phụ thuộc vào “
5
Website: Ema il :
trần cảnh’, còn Tạng thức thứ 8 thì thường trụ, không bị chi phối bởi ngoại
cảnh.
Tiếp theo, trong quá trình nhận thức, Lăng Già cho rằng có hai trình độ
nhận thức “ Lăng Già thật là rõ ràng khi cho rằng có hai hình thức hiểu biết:
một hình thức để nắm lấy tuyệt đối hay thâm nhập vào cảnh giới của duy tâm,
và một hình thức để hiểu hiện hữu trong khía cạnh nhị biên của nó, trong đó
lý luận là thù thắng và các thức là hoạt dụng”( Thích Chơn Thiện và Trần
Tuấn Mẫn (dịch), Lăng Già Đại Thừa Kinh, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh,
1998,tr. 49).
- Trình độ nhận thức cao (chánh trí)- trực giác( trí siêu việt)
- Nhận thức kinh nghiệm thông thường- trí phân biệt
Lăng Già quyết định việc dùng thánh trí thay vì dùng Bát nhã. Thánh
trí thường được kèm với tự chứng, mà chỉ ra rằng cái trí tuệ Thánh linh, siêu
việt này là một chức năng tâm linh vận hành trong các chiều sâu của hiện hữu
của chúng ta. Vì nó liên quan đến thực tính của đối tượng hay chân lý tối hậu
của các sự vật nên nó không phải là cái biết bên ngoài nhằm đối đãi với các
đối tượng đặc thù và những liên hệ của chúng.
Sự hiểu biết này là một trực giác cơ bản thâm nhập cái chân lý của Duy
tâm và tạo nên sự chứng ngộ Phật giáo
Cái trí siêu việt này được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau. Đấy
là quan sát trí, tức là trí tuệ được gắn vào nền tảng tối hậu của hiện hữu. Đấy
không cho chúng ta một cái biết chân thực về thực tính, cái thấy bằng tương
quan biến nó thành rỗng không. Lăng Già nói cho ta biết để nhận biết được
thực tính( bản chất của hiện hữu). Viên thành trí hay cái biết “ toàn hảo” phát
7
Website: Ema il :
sinh từ bát nhã hay Thánh trí, đôi khi được gọi đơn giản là Trí, nhìn thấy suốt
vào cái như như của các sự vật. Nó nhận thức các sự vật đúng như các sự vật,
vì vượt ngoài cảnh giới hữu và phi hữu thuộc phân biệt, tức nguyên lý nhị
phân. Lăng Già khẳng định rằng, vì người trí nhìn thấy thực tính bằng con
mắt Tuệ Bát nhã nên họ dứt khoát khẳng định được thực tính là gì, tức là thực
tính trong tự tính của thực tính chứ không như người ngu nhìn thấy khi con
mắt của người ngu không bao giờ mọc lên khỏi chân trời của tương đối tính. “
Này Mahamati, chánh trí và Như như thì bất diệt, và do đó chánh trí và như
như được gọi là Toàn trí” (Thích Chơn Thiện và Trần Tuấn Mẫn (dịch), Lăng
Già Đại Thừa Kinh, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998,tr417).
Nhìn thấy được thực tính của sự vật cũng chính là nhìn thấy tận cái
rỗng không( hư vô) của sự vật.
* Năm Pháp - tức năm phương pháp nhận thức.
Năm pháp bao gồm:
- Tướng ( hình trạng) “ Lại nữa, này Mahamati, “tướng” có nghĩa là cái
gì tự hiển lộ nó cho nhĩ căn và được nhận thức là các hình trạng và cũng theo
cách như vậy, những gì xuất hiện cho sự nghe, ngửi, nếm, thân thể và ý
thức( nhĩ tỵ thiệt , thân, ý) và được nhận thức là âm thanh, mùi vị, sự xúc
chạm và ý niệm( thanh, hương, vị, xúc, pháphật giáo )- tất cả những thứ ấy ta
gọi là tướng.,
- Danh( tên gọi), Phân biệt, “Lại nữa, này Mahamati,
- Sự phân biệt có nghĩa là cái gì mà nhờ đó những tên gọi được nêu ra
mà do đó có sự trỏ về các tướng(khác nhau). “Bảo rằng đây là cái này chứ
không phải là cái kia, chẳng hạn, một con voi, một con ngựa, một bánh xe,
một người đi bộ, một phụ nữ, một người đàn ông, mỗi ý niệm được phân biệt
9
Website: Ema il :
đấy gọi là cái “như như” của các sự vật. Và cáI như như này được định tính là
chân lý, thực tính, cái biết đúng, giới hạn, nguồn suối, tự thể, bất khả đắc. Đấy
là điều mà chính ta và Chư Như Lai chứng đắc, vạch rõ ra một cách thực sự
trọn vẹn, nhận biết, phổ biến và bầy tỏ rộng khắp. Khi thuận hợp với điều
này, { chân lý} được hiểu đúng đắn rằng không phải là phủ định cũng không
phải là xác định, phân biệt không còn sinh khởi và có một trạng thái đúng hợp
với tự chứng nhờ ở thánh trí, không phải là cái xu hướng tranh luận của triết
gia, Thanh Văn và Duyên giác, đấy gọi là “ chánh trí” Thích Chơn Thiện và
Trần Tuấn Mẫn (dịch), Lăng Già Đại Thừa Kinh, Nxb Thành Phố Hồ Chí
Minh, 1998,tr419).
Mặt khác, Lăng Già chủ trương lý thuyết duy tâm: khẳng định rằng
không có gì ngoài Cita-tâm. Trong thế giới và thế giới là sự đối tượng hoá của
tâm. Và điều này được thực hiện khi phân biệt bị loại trừ tức là khi người ta
đạt được một trạng thái vô phân biệt trong đời sống tâm linh của mình. “ Thể
chứng duy tâm là mục đích của Lăng Già, và điều này được thực hiện khi
phân biệt bị loại trừ, tức là, khi người ta đạt được trạng thái vô phân biệt trong
đời sống tâm linh của mình. Phân biệt là một thuận ngữ lý luận và thuộc về
trí. Như thế ta thấy rằng chỗ tận cùng của việc tu đạo là vượt khỏi sự duy lý.”
Thích Chơn Thiện và Trần Tuấn Mẫn (dịch), Lăng Già Đại Thừa Kinh, Nxb
Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998,tr 69).
Hay “ Chúa thánh Lăng Già chợt tỉnh ông cảm thấy sự đột biến trong
tâm, hiểu rẳng thế giới chỉ là tâm thức của chính mình”.
“ Tất cả các sự vật( pháp) đều được hiểu bằng cách vượt lên trên cái
tâm, cái Mạt na va cái Thức như cách ông đã thông hiểu. ông nên quay nhìn
vào trong và đừng để bị ràng buộc với văn tự và với một cách nhìn hời hợt về
sự vật, ông chớ rơi vào các tri thức, các khái niệm, kinh nghiệm, kiến giải và
tam- ma-địa của hàng Thanh Văn, Duyên giác và các triết gia, ông chớ nên ưa
10
KẾT LUẬN
Tóm lại với nội dung triết lý trong kinh Lăng Già, Lăng Già đã giới
thiệu, phát triển và làm rõ được phần nào những vấn đề của Đại thừa mà cụ
thể là trường phái Duy thức tông( Du già).
Lăng Già bàn về vấn đề giác ngộ từ góc độ nhận thức luận của thiền
học. Mục đích chính là cảnh tỉnh cố tật nhị nguyên của ý thức nói chung và
khẳng định Thiền định, hành thiền là phương pháp quan trọng nhất để chứng
tâm “ thánh trí tự giác”. Qua hành thiền sẽ đạt được kinh nghiệm tự chứng và
cho rằng ngôn từ và hình tướng chỉ là tạm mượn.
Qua đấy thấy được nhiệm vụ của Lăng Già trong vấn đề nhận thức luận
là: bảo cho chúng ta biết sự hiểu biết Suông là chưa đủ trong đời sống Phật
giáo; rằng không có sự tự chứng thì mọi tri thức đều chẳng đáng kể vào đâu.
12
Website: Ema il :
MỤC LỤC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 1
KHOA TRIẾT HỌC 1
ề tài: 1
Tìm hiểu vấn đề nhận thức luận 1
trong “kinh LĂNG GIà” 1
2. NỘI DUNG CỦA KINH LĂNG GIÀ 4
13