HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
Phân tích hoạt động của Ngân
hàng thương mại cổ phần
Á Châu (ACB)
Nhóm thực hiện: Bùi Giang Hà (KT36C 00658)
Đỗ Thị Thanh (KT36D 00919)
Đỗ Hồng Lĩnh (KT36D 00819)
Vũ Thị Tú (KT36C 00981)
Bùi Đức Tân (KT36D 0000917)
Giảng viên hướng dẫn: T.S Đặng Hoàng Linh
HÀ NỘI 2011
1
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ, với nhiều chính sách và chủ
trương đẩy mạnh kích cầu để phát triển. Trong bối cảnh đó, sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài
chính - ngân hàng đã tạo sức ép buộc các ngân hàng Việt Nam phát triển và tự khẳng định mình với
rất nhiều thách thức lớn. Trong điều kiện đó thị phần của các ngân hàng dần bị chiếm chỗ bởi các
định chế tài chính khác, cuộc chiến giành thị phần diễn ra ngày càng khốc liệt cả ở trong và ngoài
nước. Các ngân hàng buộc phải lựa chọn lại cấu trúc và điều chỉnh cách thức hoạt động cho phù
hợp, nâng cao khả năng khám phá cơ hội kinh doanh và vị thế cạnh tranh.
Qua quá trình nghiên cứu ngân hàng Á Châu (ACB) chúng tôi nhận thấy Ngân hàng ACB đang ra
sức mở rộng mạng lưới, đa dạng sản phẩm…, nâng cao chất lượng,phong cách phục vụ khách
hàng. Điều đó cho thấy tiềm năng của dịch vụ tài chính bán lẻ trên thị trường Việt Nam là rất lớn.
Vì vậy nhóm chúng tôi chọn vấn đề: “Phân tích hoạt động của ngân hàng Á Châu (ACB) năm
2010” làm đề tài cho bài tiểu luận.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng hoạt động ngân hàng TMCP Á Châu và tính
toán các chỉ số tài chính. Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá và các đề xuất nhằm hoàn thiện
hơn.
Các thông tin cần thu thập bao gồm: thông tin về hoạt động kinh doanh từ trước đến nay, tình hình
tài chính của NHTMCP Á Châu năm 2010.
dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union, thẻ tín dụng).
Giai đoạn 1996 - 2000: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam phát
hành thẻ tín dụng quốc tế MasterCard và Visa. Năm 1997, ACB bắt đầu tiếp cận nghiệp vụ ngân
hàng hiện đại theo một chương trình đào tạo toàn diện kéo dài hai năm, do các giảng viên nước
ngoài trong lĩnh vực ngân hàng thực hiện. Năm 1999, ACB triển khai chương trình hiện đại hóa
công nghệ thông tin ngân hàng, xây dựng hệ thống mạng diện rộng, nhằm trực tuyến hóa và tin học
hóa hoạt động giao dịch. Năm 2000, ACB đã thực hiện tái cấu trúc như là một bộ phận của chiến
lược phát triển trong nửa đầu thập niên 2000. Cơ cấu tổ chức được thay đổi theo định hướng kinh
doanh và hỗ trợ. Ngoài các khối, còn có một số phòng ban do Tổng giám đốc trực tiếp chỉ đạo.
Hoạt động kinh doanh của Hội sở được chuyển giao cho Sở giao dịch (Tp. HCM). Việc tái cấu trúc
nhằm đảm bảo sự chỉ đạo xuyên suốt toàn hệ thống; sản phẩm được quản lý theo định hướng
khách hàng và được thiết kế phù hợp với từng phân đoạn khách hàng; quan tâm đúng mức việc
phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro.
Giai đoạn 2001 – 2005: Cuối năm 2001, ACB chính thức vận hành hệ thống công nghệ ngân
hàng lõi là TCBS (The Complete Banking Solution: Giải pháp ngân hàng toàn diện), cho phép tất
cả chi nhánh và phòng giao dịch nối mạng với nhau, giao dịch tức thời, dùng chung cơ sở dữ liệu
tập trung.
3
2. Hình thức pháp lý và triết lý kinh doanh.
a)Hình thức pháp lý.
- ACB được tổ chức và hoạt động tuân thủ theo Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ V thông qua ngày 29
tháng 11 năm 2005, Luật Chứng khoán được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 tuân thủ các Luật
khác có liên quan và Điều lệ Công ty.
Năm 2003, ACB xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và được
công nhận đạt tiêu chuẩn trong các lĩnh vực:
(i) huy động vốn
(ii) cho vay ngắn hạn và trung dài hạn
(iii) thanh toán quốc tế và
4
- ACB được tổ chức và điều hành theo mô hình Công ty cổ phần, tuân thủ theo các quy
định của pháp luật hiện hành.
b)Triết lý kinh doanh.
Tăng trưởng bền vững, quản lý rủi ro hiệu quả, duy trì khả năng sinh lợi cao và
chỉ số tài chính tốt, đầu tư chiều sâu vào con người và xây dựng văn hóa công ty
lành mạnh.
3. Sản phẩm.
Các sản phẩm dịch vụ chính của ACB bao gồm:
• Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng
• Sử dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ
và vàng
• Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiện dịch vụ ngân
quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng)
• Kinh doanh ngoại tệ và vàng
• Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ
Hiện nay, ACB đang cung cấp cho khách hàng hơn 200 sản phẩm cơ bản, tương đương 600 sản
phẩm tiện ích và là ngân hàng có danh mục sản phẩm dịch vụ được coi vào loại phong phú nhất
trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam. ACB có bộ phận nghiên cứu và phát triển theo
từng khối: Khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp, khối công nghệ thông tin và khối ngân
quỹ.
Các sản phẩm và dịch vụ đối với khách hàng cá nhân gồm:
• Tiền gửi thanh toán: gồm tiền gửi thanh toán bằng VND, tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ,
tiền gửi có kỳ hạn bằng VND, tiền gửi có kỳ hạn bằng ngoại tệ, tiền gửi ký quỹ bảo đảm
thanh toán thẻ.
• Tiền gửi tiết kiệm: gồm tiết kiệm không kỳ hạn bằng VND, tiết kiệm không kỳ hạn bằng
ngoại tệ, tiết kiệm có kỳ hạn bằng VND, tiết kiệm có kỳ hạn bằng ngoại tệ, tiết kiệm bằng
vàng, tiết kiệm tích góp dự thưởng, tiết kiệm dự thưởng “Lộc vàng đầu xuân”
• Dịch vụ chuyển tiền: gồm chuyển tiền trong nước, chuyển tiền ra nước ngoài, nhận tiền
chuyển từ trong nước, nhận tiền chuyển từ nước ngoài, chuyển tiền nhanh Western Union,
trở thành công việc thường xuyên và liên tục. Các sản phẩm của ACB luôn dựa trên nền tảng công
nghệ tiên tiến, có độ an toàn và bảo mật cao.
Trong huy động vốn, ACB là ngân hàng có nhiều sản phẩm tiết kiệm cả về nội tệ lẫn ngoại tệ và
vàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Các sản phẩm huy động vốn của ACB rất đa dạng
thích hợp với nhu cầu của dân cư và tổ chức. Một ví dụ điển hình: ACB là ngân hàng đầu tiên tung
ra thị trường sản phẩm tiết kiệm ngoại tệ có dự thưởng, trị giá của giải cao nhất lên đến 350 triệu
6