MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………… 3
NỘI DUNG …………………………………………………………….………… 4
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SẮC KÝ …………………………………… 4
1. Lịch sử sắc ký …………………………………………………………………. 4
2. Định nghĩa sắc ký……………………………………………………………… 4
3. Các nguyên tắc cơ bản của kỹ thuật sắc ký …………………………………… 5
4. Phân loại sắc ký……………………………………………………………… 6
4.1. Phân loại theo bản chất của hai pha sử dụng ……………………………… 6
4.2. Phân loại theo bản chất tương tác………………………………………… 7
4.3. Phân loại theo cấu hình ……………………………………………………. 8
Chương 2: SẮC KÝ CỘT HỞ ……………………………………… ………… 10
1. DỤNG CỤ - HÓA CHẤT …………………………………………………… 10
1.1. Cột………………………………………………………………………… 10
1.2. Các loại pha tĩnh dùng nhồi cột ……………………………………………. 10
1.2.1. Silica gel …………………………………………………………… 10
1.2.2. Alumina …………………………………………………………… 14
1.2.3. Kieselguhr – Celite ………………………………………………… 14
1.2.4. Gel …………………………………………………………………….14
1.3. Dung môi ………………………………………………………………… 15
1.3.1. Các dung môi thường dùng cho sác ký cột ………………………… 15
1.3.2. Cách chọn dung môi thích hợp……………………………………… 15
1.4. Mẫu sắc ký …………………………………………………………………. 15
2. KỸ THUẬT TIẾN HÀNH ……………………………………………………. 16
2.1. Chuẩn bị cột ……………………………………………………………… 16
2.2. Nạp mẫu cần tách lên cột sắc ký ……………………………………………17
2.2.1. Nạp mẫu dạng dung dịch …………………………………………… 17
2.2.2. Nạp mẫu dạng bột khô ……………………………………………… 18
2.3. Giải ly chất ra khỏi cột …………………………………………………… 19
2.3.1. Các phương pháp giải ly …………………………………………… 19
sắc ký ra đời đã cung cấp cho hóa học một công cụ tách chiết hiệu quả và nhanh
chóng, mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ của ngành hóa học, đặc biệt là hóa học
các hợp chất thiên nhiên. Một đặc điểm của phương pháp sắc ký là tính đa dạng, cho
phép ta ứng dụng nó ở mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện. Ngày nay, phương pháp sắc ký
được sử dụng để tách tất cả mọi hợp chất dù có màu hay không màu, dù trọng lượng
phân tử nhỏ hay lớn.
Do các phân tử sinh học rất thiên hình vạn trạng với trọng lượng phân tử lớn
nhỏ khác nhau, tính phân cực nhiều ít khác nhau nên không thể nào có một kỹ thuật
sắc ký chung cho các loại hợp chất khác nhau. Trong bài báo cáo này, tôi xin giới
thiệu một phương pháp sắc ký thường dùng trong phòng thí nghiệm đó là
. Đối với người nghiên cứu về hóa học hợp chất thiên nhiên thì việc
tìm hiểu sơ bộ về sắc ký cột c‡ng như việc ứng dụng kỹ thuật sắc ký cột là một việc vô
cùng cần thiết, có thể sử dụng hiệu quả vào trong công tác nghiên cứu của mình.
3
!"#$%$&#'(
Từ ngữ sắc ký trong tiếng Anh là “chromatography” có xuất xứ từ chữ “chroma”
trong tiếng La Tinh có nghĩa là chất màu. Năm 1903 nhà thực vật học người Nga
Mikhail Semyonovich Tsvett đã dùng cột nhôm oxit (có tài liệu nói cột canxi
cacbonat) làm pha tĩnh và pha động là ete dầu hoả tách thành công chlorophyl từ lá
cây. Ông đã giải thích hiện tượng bằng ái lực hấp phụ khác nhau của các sắc tố và đặt
tên phương pháp này là phương pháp sắc ký (chromatography), sắc ký nghĩa là ghi
màu vì đã tách được những chất có màu.
Kỹ thuật sắc ký phát triển nhanh chóng trong suốt thế kỉ 20. Các nhà nghiên cứu
nhận thấy nguyên tắc nền tảng của sắc ký Tsvet có thể được áp dụng theo nhiều cách
khác nhau, từ đó xuất hiện nhiều loại sắc ký khác nhau. Đồng thời, kĩ thuật thực hiện
sắc ký c‡ng tiến bộ liên tục, cho phép phân tích các phân tử tương tự nhau. Sự phát
triển phong phú của sắc ký đã làm cho danh từ “sắc ký” không còn đúng theo ý nghĩa
Sắc ký là một phương pháp vật lý để tách riêng các thành phần trong một hỗn
hợp bằng cách phân chia chúng thành 2 pha: pha động và pha tĩnh.
ᄃ
Đối với các chất riêng biệt trong hỗn hợp, tùy theo khả năng hấp phụ và khả
năng hòa tan của nó đối với dung môi rửa cột để được lấy ra lần lượt trước hoặc sau.
5
7+89
(Mobile phase)
7+1*
(Stationar phase)
Lúc khởi đầu
Các thành phần của hỗn hợp
phân bố khác nhau vào hai
pha
Trạng thái cân bằng, các
thành phần của hỗn hợp đã
phân bố giữa hai pha theo
một tỉ lệ nhất định
Nhận xét:Hợp chất ( ) có ái
lực mạnh hơn đối với pha tĩnh
Hệ số phân chia là sự phân bố thí dụ: của 2 loại hợp chất ( ) và ( ) trong một hệ thống
gồm có hai pha: pha động và pha tĩnh
Sắc ký hấp phụ được thực hiện trên một ống trơ về mặt hóa học đối với các chất
trong q trình sắc ký, cột có thể là: thủy tinh, kim loại, nhựa thẳng đứng gọi là “cột”
với chất hấp phụ đóng vai trò pha tĩnh, dung mơi rửa cột đóng vai trò pha động chảy
qua chất hấp phụ .
Chất hấp phụ trong sắc ký cột thường dùng là oxid nhơm, silica gel, CaCO
3
, than
được nạp nén vào trong một cột hoặc được tráng thành một lớp mỏng, phủ lên trên bề
mặt một tấm kiếng, tấm nhơm hoặc tấm nhựa.
6
+ Pha tĩnh là chất lỏng: có thể là một chất lỏng được tẩm lên bề mặt một chất
mang rắn hoặc một chuỗi dây cacbon dài được gắn lên trên chất mang rắn.
- Pha động: có thể là chất lỏng hoặc chất khí
+ Pha động là chất khí: ví dụ trong kỹ thuật sắc ký khí
+ Pha động là chất lỏng: ví dụ trong kỹ thuật sắc ký giấy, sắc ký lớp mỏng, sắc
ký cột.
) !" #$
Sắc ký phân chia:
* Pha động: chất lỏng hoặc chất khí (trong sắc ký khí)
* Pha tĩnh là chất lỏng, đó là một lớp chất lỏng với chiều dài thật mỏng, chất
lỏng này được nối hóa học lên bề mặt của những hạt rắn, nhuyễn mịn, có trơ.
Sắc ký hấp phụ:
* Pha động là chất lỏng hoặc chất khí.
* Pha tĩnh là chất rắn, đó là những hạt rắn nhuyễn mịn, có tính trơ, được nhồi
trong một cái ống. Những hạt rắn trơ này c‡ng giống như những hạt rắn trong sắc ký
phân chia, nhưng không có phủ chất lỏng bên ngoài, bản thân hạt rắn là pha tĩnh.
Tiêu biểu của sắc ký hấp phụ. Pha tĩnh rắn là những hạt rắn, nhuyễn, trơ
7
Sắc ký trao đổi ion:
Tiêu biểu của sắc ký trao đổi ion
* Pha động là chỉ có thể là chất lỏng
* Pha tĩnh là chất rắn, là những hạt hình cầu rất nhỏ, có cấu tạo hóa học gọi là
polyme, nên được gọi là các hạt nhựa. Bề mặt của các hạt mang nhóm chức ở dạng
ion.
Sắc ký lọc gel:
khí quyển. Pha tĩnh thường là những hạt có kích thước
tương đối lớn (50-150μm), được nạp trong một cột
bằng thủy tinh. Mẫu chất cần phân tích được đặt phía
trên đầu pha tĩnh, có một lớp bông thủy tinh đặt lên trên
bề mặt để không bị xáo trộn lớp mặt. Dung môi giải ly
được đưa ra và hứng trong những lọ nhỏ ở phía dưới
cột, rồi đem cô quay đuổi dung môi, dùng sắc lý lớp
mỏng để theo dõi quá trình giải ly.
Trong sắc ký cột với pha tĩnh là silica gel loại thường thì hợp chất không hoặc
kém phân cực được giải ly ra khỏi cột trước, hợp chất phân cực được giải ly ra sau.
9
Còn trong sắc ký cột với pha tĩnh là silica gel pha đảo thì những hợp chất phân cực sẽ
giải ly ra khỏi trước và những chất phân cực kém sẽ giải ly sau.
10
)
!@ABC
!!91
Cột là những ống hình trụ bằng thủy tinh dài
30-70 cm, đường kính 1-5 cm, đầu dưới có một
vòi thủy tinh và 1 khóa để điều chỉnh tốc độ
chảy.
Kích cỡ của cột tùy thuộc vào số lượng mẫu
chất cần phân tách
- Trọng lượng chất hấp phụ phải lớn hơn 25-
50 lần trọng lượng mẫu cần sắc ký. Tuy nhiên
với những hỗn hợp các hợp chất khó tách riêng
thì cần sử dụng số lượng chất hấp phụ nhiều hơn
(lớn hơn 100-200 lần), còn với các hỗn hợp dễ tách thì có thể sử dụng lượng chất hấp
nước. Khi silica gel hấp phụ nước, các phân tử nước sẽ che khuất những vị trí hoạt
động trên bề mặt của hạt silica gel làm hạt bị giảm hoạt tính; muốn silica gel hoạt tính
trở lại, chỉ cần đun nóng để loại bỏ nước. Đây là quá trình thuận nghịch, muốn làm
giảm hoạt tính silica gel thì chỉ cần cho thêm nước vào. Tuy nhiên, khi đun nóng
khoảng 400-500°C, quá trình thuận nghịch biến mất, silica gel bị mất vĩnh viễn hoạt
tính bề mặt, do hai nhóm silanol kề bên mất một phân tử nước, tạo thành nối eter,
không còn tính sắc ký.
Mô tả bề mặt hạt silica gel
- Hoạt tính của silica gel là khả năng hấp phụ nước, được đo bởi số Brockmann.
Silica gel có số Brockmann càng lớn thì bề mặt càng kém hoạt tính.
12
- Có thể hiệu chỉnh tính của silica gel bằng cách cho silica gel kết hợp với
những hợp chất khác như base, các dung dịch đệm ở mức pH xác định. C‡ng có thể
thêm nitrat bạc để làm gia tăng khả năng tách các hợp chất, nhất là alken.
Tuy nhiên c‡ng cần nhớ là với một hợp chất nào đó đang bị silica gel giữ lại
trong cột, giải ly chất đó ra khỏi cột được hay không c‡ng còn tùy vào việc sử dụng
dung môi giải ly có độ phân cực mạnh hay yếu. Dung môi nào có thể tạo nối hydrogen
mạnh sẽ là dung môi thích hợp để giải ly các hợp chất phân cực mạnh ra khỏi cột silica
gel. Hơn nữa, muốn đuổi hết các hợp chất phân cực thí dụ các flavonoid, triterpen
glycosid nên dùng 1-2% acid axetic trong metanol.
-%"/%0 được điều chế bằng cách cho các nhóm chức silanol của
silica tác dụng với nhiều loại clorur silil khác nhau để tạo thành những loại chất hấp
phụ mới, với các đặc tính vật lý đổi khác, được gọi là silica gel-tạo nối. Có thể chế hóa
thành silica gel-tạo nối dùng cho pha thường hoặc pha đảo.
- Silica gel tạo nối dùng cho pha đảo: Cho silica gel tác dụng với
clorodimetylalkylsilan R-Si(CH
3
)
2
Các nối kỵ nước (hydrophobic bond)
Cyclodextrin và eter vòng
(Crown ether)
Tương tác giữa chủ-khách (tương tác giữa chất
tan đối với lỗ rỗng có tính thủ tính của chủ là
cyclodextrin)
Enzym bị giữ cố định Ái lực thủ tính
14
(Immobilised)
Phức amino acid kim loại Phức xuyên lập thể phân
!)!)!B<.N?+
Alumina là oxid aluminium Al
2
O
3
, được điều chế qui trình tương tự như silica
gel nhưng trên nguyên liệu là hydroxid aluminium, hơn thế nữa có thể điều chỉnh độ
pH của dung dịch phản ứng để sản xuất ra hạt alumina với bề mặt có tính acid, tính
kiềm hay trung tính.
- Alumina base: chứa khoảng 0,1-0,5% NaOH bám trên mặt alumina ở dạng
natri aluminat, có pH ≈ 10.
- Alumina trung tính: pH từ 6,5-7
- Alumina axit: pH ≈ 4
Alumina
Nhiệt độ lúc hoạt hóa trong quá trình điều chế là đặc điểm khác nhau giữa
alumina và silica gel. Muốn có alumina hoạt tính mạnh, cần phải đun nóng alumina ở
400-450
o
C trong 12-16 giờ. Muốn giảm hoạt tính alumina, thêm nước vào.
Bước 3: Mỗi bản mỏng được triển khai với 1 loại dung môi giải ly khác nhau,
kế đó hiện hình các vết trên bản bằng đèn UV hoặc bằng các thuốc thử. Với đơn dung
môi sẽ dễ dàng thấy được dung môi nào là phù hợp. Từ kết quả đó, cố gắng tìm một
hỗn hợp dung môi, trong đó một dung môi kém phân cực và một dung môi phân cực.
Bước 4:
- Với hỗn hợp mẫu chất là kết quả của phản ứng tổng hợp hữu cơ, ta chọn hệ
dung môi có thể đẩy hợp chất cần quan tâm lên ở vị trí trên bản với Rf = 0,2-0,3.
- Với mẫu cao thô chiết xuất từ cây cỏ, chọn dung môi giải ly đầu tiên là dung
môi có thể đẩy vết ít phân cực nhất của cao chiết lên vị trí ở bản với Rf = 0,5 và chọn
dung môi chấm dứt sắc ký cột là dung môi có thể đẩy vết phân cực nhất của cao chiết
lên vị trí ở bản với Rf = 0,2.
Sau khi chọn được hệ dung môi phù hợp, có thể áp dụng hệ dung môi này cho
sắc ký cột. Giải ly trước tiên bằng dung môi không phân cực và tăng dần tính phân cực
cho dung môi giải ly.
5+0
- Phải sử dụng pha tĩnh của sắc ký lớp mỏng và sắc ký cột giống nhau.
- Phải chỉnh tỉ lệ dung môi giải ly cột sao cho có tính kém phân cực 1 ít so với
hệ dung môi đã chọn bằng sắc ký lớp mỏng.
!:!T.$&#'(
Mẫu thử trước khi phân tích phải được loại tạp chất bằng phương pháp thích
hợp. Mẫu thử có thể ở 2 dạng:
16
- Dạng dung dịch khá đậm đặc: hòa tan mẫu trong dung môi không quá phân
cực so với hệ dung môi pha động. VD: Pha động là benzen-EtOAc thì tốt nhất là hòa
tan mẫu trong benzene, nếu mẫu không tan trong benzene thì dùng dung môi phân cực
hơn benzene một chút.
- Dạng bột khô: hòa tan mẫu trong dung môi như etyl axetat hoặc methanol,
thêm vào silica gel hạt lớn vừa đủ, cô quay hỗn hợp để đuổi hết dung môi thu được
mẫu ở dạng bột mịn tơi xốp.
hứng dung môi và 1 becher trống, dung môi được sử dụng lại để rót trở lại lên đầu cột.
Sau khi nạp xong, cho dung môi chảy qua chất hấp phụ vài lần đến khi thấy
chất hấp phụ trong cột có dạng đồng nhất.
5+0 Quá trình nhồi cột phải thực hiện một cách cẩn thận, nếu quan sát thấy
có nhiều bọt khí hoặc có những bất thường trong cột thì phải xả hết cột và nạp lại từ
đầu.
Cột sau khi được nạp silica gel
)!)!>DNT.#Y1-#<0#91$&#'(
)!)!!>DNT.E>E.E"#
- Mở khóa cho dung môi chảy ra khỏi cột để hạ mức dung môi trong cột xuống
sao cho vừa sát với mặt thoáng của chất hấp phụ trong cột.
- Đóng khóa lại, dùng pipette hút dung dịch mẫu chất và nạp vào đầu cột. Muốn
nạp mẫu đặt đầu của pipette gần sát với mặt thoáng của chất hấp phụ trong cột, vừa
bóp vừa rây pipette dọc quanh thành trong của cột, cho dung dịch chất chảy ra dọc
18
theo thành trong của cột chạm xuống bề mặt của chất hấp phụ .
- Mở khóa bên dưới cho dung môi chảy ra khỏi cột, làm
cho dung dịch mẫu được thấm hết vào chất hấp phụ trên đầu
cột.
- Dùng pipette cho một lượng nhỏ dung môi mới lên đầu
cột, dùng dung môi này để rửa sạch dung dịch mẫu chất đã dính
trên thành cột. Tiếp tục mở khóa cho dung môi chảy qua. Lặp
lại vài lần như thế để dung dịch mẫu thấm sâu vào phần chất
hấp phụ ở phần đầu cột và phần dung môi trên đầu cột trở nên
trong suốt.
- Cho một lớp cát (hoặc bông gòn) dầy khoảng 3-6 mm đặt nhẹ lên trên mặt
thoáng của chất hấp phụ để bảo vệ mặt cột.
Sau khi nạp mẫu xong cho dung môi vào đầy cột để bắt đầu quá trình giải ly.
Cột sau khi đã nạp mẫu
Như vậy, các kỹ thuật sắc ký khác nhau là việc sử dụng kích thước khác nhau
của hạt gel làm pha tĩnh và việc sử dụng áp lực để giải ly dung môi ra khỏi cột.
Cột áp suất thấp, sử dụng cột làm bằng thuỷ tinh: thường sử dụng hạt có kích cỡ
40 – 200 µm, sử dụng áp suất bình thường của bầu khí quyển.
Cột áp suất trung bình, sử dụng cột làm bằng thuỷ tinh dầy: thường sử dụng hạt
có kích thước cỡ 25 – 40 µm; thực hiện ở áp suất 75 – 600 psi (tức 5 – 40 bar).
HPLC sử dụng cột bằng thép không rỉ: hạt nạp có kích cỡ 3 – 10 µm; thực hiện ở
áp suất 500 – 3000 psi.
)!,!)!.NP??3?</[\'51.611]EY1JD;#^##=E.NP??3?</
- Giải ly sử dụng dung môi đơn nồng độ: chỉ sử dụng đơn dung môi hoặc hỗn
hợp dung môi nhưng trong hỗn hợp tỉ lệ giữa các thành phần không thay đổi để giải ly
cho đến khi việc tách chất hoàn tất.
- Giải ly sử dụng dung môi có nồng độ tăng theo kiểu bậc thang: Việc sử dụng
một loại dung môi sẽ chỉ giải ly ra khỏi cột một số cấu tử nhất định và một số cấu tử
khác có tính phân cực hơn vẫn còn nằm ở đầu cột. Vì thế muốn đuổi chúng ra khỏi cột,
phải dùng một dung môi có ái lực mạnh hơn.
Muốn tăng tính phân cực cho bất kỳ một dung môi nào, nên cho thêm từ từ mỗi
lần vài phần trăm một dung môi mới có tính phân cực hơn vào dung môi c‡ đã sử
dụng. Không nên tăng tính phân cực nhanh, đột ngột sẽ làm gãy cột.
Ví dụ: Đang giải ly với hexan, muốn chuyển sang benzen, sẽ pha benzen vào
hexan theo tỉ lệ 1%, 2%, 3%, 5%, 10%, 50%, 100% benzen.
I3)<'+1;.'=> ?@A" BC
DE'F
.NP?
?_189$P?
`
=
a
b$c
0,0003
?#<=Hk+
81
2,0
0,2
1,00
0,01
H1O+#<=O.O
77
2,2
1,6
0,97
0,08
21
=<.H
111
2,38
2,4
0,59
0,51
l/<H
139
-
2,5
0,61
0,018
IHmH
80
2,3
4,0
0,55
100
@7O=D+=<
92
20,1
4,0
2,27
100
B#H1+1H2.1/<
125
-
4,0
0,73
0,43
<=O=n=ON
61
4,87
4,1
0,57
0,815
B#H1+1HH1/<
77
6,0
4,4
0,45
8,7
H1/<H1/<
80
-
5,8
0,37
100
B#?E+#H1?#
118
6,2
6,2
1,26
100
?NH1/<
189
4,7
7,2
2,0
100
g#
100
78,5
9,0
1,0
100
- Giải ly sử dụng dung môi với nồng độ tăng dần tuyến tính: Dung môi giải ly
có độ phân cực tăng dần đều.
)!,!,!61c#?3?</
Vận tốc chảy của dung môi giải ly không được quá nhanh (sẽ không kịp cân
bằng với chất hấp phụ) c‡ng không được quá chậm hoặc bị cho ngừng lại một thời
gian vì lúc đó các dãy chất tan sẽ khuếch tán hoặc trải dài theo mọi hướng làm xấu quá
trình tách.
Thông thường trong đa số sắc ký cột, vận tốc giải ly khoảng 5-50 giọt/phút
hoặc 1-2 cm/phút.
- Với mẫu có màu: quan sát bằng mắt thường ta thấy các dãy lớp có màu sắc
khác nhau đang tách xa nhau ra. Theo dõi các dãy màu và hứng chúng khi được giải ly
khỏi cột.
Các chất có màu sắc khác nhau tách xa nhau trong cột
Sử dụng sắc ký bản mỏng để kiểm tra mỗi dãy màu có một hay nhiều chất
- Với các mẫu không màu: hứng dung dịch giải ly trong những hủ bi có thể tích
như nhau và đánh số thứ tự. Dung dịch trong những hủ bi hứng được sẽ được sắc ký
lớp mỏng trên cùng một bản mỏng. Những lọ nào có sắc ký bản mỏng giống nhau sẽ
23
được gom chung lại với nhau thành một phân đoạn. Đuổi dung môi ở áp suất kém các
phân đoạn này sẽ cho cao của các phân đoạn đó. Chỉ ngưng cột khi thu được lượng cao
các phân đoạn bằng 70-80% trọng lượng mẫu đã nạp vào đầu cột.
)!,!e!?6'K1q.3$&#'(
- Phân đoạn thu được là một chất tương đối sạch tuy vẫn có chứa một ít tạp
chất: khi trên bản mỏng có một vết chính chiếm 80%, ngoài ra còn một số vết mờ.
- Phân đoạn thu được là hỗn hợp nhiều chất: khi trên bản mỏng có nhiều vết,
các vết có độ đậm như nhau.
- Để kiểm tra xem một hợp chất có tinh khiết hay không ta sử dụng sắc ký lớp
mỏng lần lượt với 3 hệ dung môi giải ly hoàn toàn khác hẳn nhau (không dùng một hệ
dung môi với 3 tỉ lệ khác nhau). Nếu chất chỉ cho hiện ra một vết duy nhất thì có thể
kết luận là chất tinh khiết. Nếu chất không tinh khiết thì sẽ cho thấy bên cạnh vết chính
có thêm vết khác. Muốn khảo sát rõ hơn thì dùng HPLC.
)!:!l-#8"#M.1Os#t+R##4+N91SD#M1
Chỉ nên tìm cách xác định cấu trúc hóa học của một hợp chất tinh khiết sau khi
đã kết tinh nhiều lần trong dung môi phù hợp (độ tinh khiết 95%).
Kết quả khảo sát cấu trúc hóa học của một hợp chất theo các chi tiết sau:
- Mô tả hình dạng, màu sắc và mùi của sản phẩm.
- Sắc ký lớp mỏng trong hệ dung môi gì, thuốc hiện hình gì, giá trị Rf của vết,
hình chụp bản mỏng.
- Quá trình chạy cột mất thời gian.
- Quá trình tách chậm và hiệu quả thấp so với sắc ký lỏng cao áp.
,!,!yE|
- Phân lập các alkaloid, kháng sinh, hormon tăng trưởng steroid, hormon sinh
dục và các hợp chất liên quan.
- Tách các chất lipid, các hợp chất chứa nitro từ các hydrocarbon, các hợp chất
vòng thơm từ hỗn hợp mạch thẳng – vòng thơm.
- Rửa giải và tách các thuốc trừ sâu.
- Làm tinh khiết dược liệu.
- Phân tích các vitamin.
- Khử màu dầu, chất béo và sáp bằng phương pháp thấm lọc.
25