MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC NƯỚC MỸ LATINH. TỔNG QUAN MỐI QUAN
HỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC MỸ LATINH 4
1. Giới thiệu chung về các nước Mỹ Latinh 4
2. Tổng quan mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Mỹ Latinh 5
II- NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC HỢP TÁC THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ
CÁC NƯỚC MỸ LATINH 7
1. Chiến lược phát triển Ngoại thương của Việt Nam 7
1.1. Quan điểm chiến lược 9
1.2. Mục tiêu phát triển 9
1.3. Định hướng xuất khẩu 9
1.4. Định hướng nhập khẩu 11
2. Chiến lược hợp tác thương mại của Việt Nam và các nước Mỹ Latinh 11
a) Định hướng xuất khẩu 11
b) Định hướng nhập khẩu 14
III- GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HỢP TÁC THƯƠNG MẠI GIỮA
VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC MỸ LATINH TRONG GIAI ĐOẠN 2011- 2020 14
1. Phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế 14
2. Phát triển thị trường 15
3. Chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu 17
4. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao nhận kho vận và đẩy nhanh xã hội hóa hoạt
động dịch vụ logistics 17
5. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực 17
6. Kiểm soát nhập khẩu 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
1
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những nhiệm vụ then chốt của Chương trình hành động Chiến lược phát
triển xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011- 2020 định hướng đến năm 2030 mà Đảng và
hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ở thị trường Mỹ Latinh còn nhỏ (0,3%), chưa có tăng
trưởng đột biến, giá trị xuất khẩu sang khu vực chỉ chiếm 2,3% tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nước năm 2011. Trong cán cân thương mại, tình trạng nhập siêu còn kéo dài và chậm
được khắc phục.
Nguyên nhân của những hạn chế trong quan hệ thương mại Việt Nam- Mỹ Latinh có kể
kể đến: Thứ nhất, chính sách thương mại chặt chẽ, quyết liệt bảo hộ thị trường nội địa bằng
hàng rào kỹ thuật và thuế quan của các nước Mỹ Latinh; Thứ hai, sự cạnh tranh gay gắt của
các sản phẩm của nước sở tại và các khu vực nội khối Mercosur và hàng hóa giá thấp đến từ
các nước Châu Á khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan; Các
nguyên nhân khác như rào cản về ngôn ngữ, khoảng cách địa lý, thông tin hiểu biết về thị
trường đối tác, sự thiếu hiệu quả của các hoạt động xúc tiến thương mại, thiếu hiệp định hỗ
trợ tư pháp,… cũng dẫn đến những hạn chế trong quan hệ thương mại giữa hai bên.
Thực trạng đó làm cho việc đẩy mạnh phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với
các Mỹ Latinh trở nên đặc biệt cần thiết, góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế thương
mại, cũng như mong muốn của lãnh đạo Việt Nam và các nước, của giới doanh nghiệp và
nhân dân hai bên.
Để tăng cường quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Mỹ Latinh, đẩy mạnh
tốc độ tăng trưởng buôn bán hai chiều, chúng ta cần phải tìm hiểu thị trường Mỹ Latinh, nắm
bắt thực trạng mối quan hệ thương mại hiện nay giữa Việt Nam với thị trường này, từ đó đề
ra những kiến nghị, giải pháp thiết thực.
Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu chiến
lược hợp tác thương mại của Việt Nam với các nước Mỹ Latinh”.
Nội dung tiểu luận gồm 3 phần chính:
I- Giới thiệu chung về khu vực Mỹ Latinh và quan hệ giữa Việt Nam và các nước
Mỹ Latinh
II- Nội dung chiến lược hợp tác thương mại của Việt Nam và các nước Mỹ Latinh
III- Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước
Mỹ Latinh
3
I- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC NƯỚC MỸ LATINH. TỔNG QUAN MỐI QUAN
Song song với quá trình phát triển trong từng nước, Mỹ Latinh ngày càng quan tâm đẩy
mạnh liên kết và hội nhập khu vực và quốc tế. Những năm gần đây, một loạt tổ chức hội
4
nhập chính trị-kinh tế cấp tiểu vùng và cấp vùng được củng cố hoặc thành lập mới như: Liên
minh các Quốc gia Nam Mỹ (UNASUR), Cộng đồng các Quốc gia An-đết (CAN), Khối thị
trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Khối thị trường chung Trung Mỹ và Ca-ri-bê
(CARICOM), Liên minh Bô-li-va cho Mỹ Latinh (ALBA)…. Xu hướng này đã biến Mỹ
Latinh thành một thị trường rộng lớn và ngày càng đồng nhất, tạo thuận lợi cho các đối tác
bên ngoài khu vực tiếp cận và hoạt động kinh doanh, đầu tư.
Nhằm phục vụ mục tiêu phát triển, hầu hết các nước Mỹ Latinh đã có những điều chỉnh
quan trọng trong chính sách đối ngoại nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng, từ
chỗ tập trung vào các đối tác Tây bán cầu, các nước Mỹ Latinh đã chủ động mở rộng quan hệ
với các đối tác ngoài khu vực, đặc biệt là hướng mạnh sang Châu Á-Thái Bình Dương. Theo
hướng đó, nhiều nước Mỹ Latinh ngày càng tích cực tham gia các tổ chức hội nhập liên khu
vực như: Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Đông Á –
Mỹ Latinh (FEALAC), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP), quan tâm thiết lập
quan hệ với ASEAN. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển quan hệ Việt Nam và các nước
Mỹ Latinh theo hướng gắn kết, hiệu quả hơn.
2. Tổng quan mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Mỹ Latinh
a) Về chính trị, ngoại giao
Giữa Việt Nam và các nước Mỹ Latinh vốn có quan hệ hữu nghị, đoàn kết truyền thống
tốt đẹp, bắt nguồn từ sự tương đồng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc.
José Marti, nhà cách mạng và nhà văn hoá của Cuba và Mỹ Latinh đã đề cập tới truyền
thống anh hùng chống xâm lược của nhân dân Việt Nam trong truyện ngắn “Cuộc dạo chơi
trên đất nước của người An Nam” đăng trong tác phẩm “Tuổi vàng”, xuất bản tại Mỹ vào
năm 1889. Ông được Lãnh tụ Cuba Fidel Castro coi là “người Cuba, người Mỹ Latinh đầu
tiên phát hiện ra Việt Nam”. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước cũng
đã từng tới đảo Martinique thuộc vùng Ca-ri-bê, U-ru-goay và Ác-hen-ti-na vào năm 1912 và
sau này cũng chính là người gieo mầm cho quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác của Việt
Nam với các nước Mỹ Latinh. Chính tư tưởng độc lập, tự do là sợi dây tinh thần gắn bó nhân
quốc gia, các dân tộc trên thế giới. Việt Nam luôn coi trọng và quyết
tâm phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Mỹ La-tinh,
đưa các mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu
quả, phục vụ tích cực cho công cuộc phát triển của Việt Nam cũng
như các nước Mỹ La-tinh, đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác
và phát triển của khu vực và thế giới.”
b) Về thương mại
Quan hệ chính trị, hữu nghị truyền thống tốt đẹp và không ngừng phát triển đã tạo tiền đề và
nền tảng vững chắc cho việc mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt
Nam và các nước Mỹ Latinh, nhất là trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư. Kim ngạch
6
thương mại hai chiều liên tục tăng cao, trên dưới 30% năm, từ 300 triệu USD năm 2000 lên
5,1 tỷ USD năm 2011, gấp 17 lần. Riêng với ba nền kinh tế lớn nhất của khu vực là Bra-xin,
Mê-hi-cô và Ác-hen-ti-na, kim ngạch thương mại hai chiều đã vượt ngưỡng 1 tỷ USD với
mỗi nước.
* Những hiệp định thương mại đã ký kết giữa 2 bên:
Đến nay, Việt Nam đã ký 5 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước
Venezuela, Ac-hen-tina, Chile, Cuba và Uruguay cũng như 2 Hiệp định tránh đánh thuế hai
lần với Cuba và Venezuela.
Tuy có bước phát triển nhanh và khá ấn tượng, nhưng quan hệ hợp tác thương giữa Việt
Nam và Mỹ Latinh đến nay còn nhiều hạn chế: Kim ngạch xuất khẩu sang khu vực này chỉ
chiếm tỷ trọng 2,3 % tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2009. Thị phần xuất khẩu
của Việt Nam ở Mỹ Latinh còn nhỏ, chỉ chiếm 0,18 % tổng kim ngạch nhập khẩu của cả Mỹ
Latinh từ tất cả các nước (1,3/695,4 tỷ USD). Đặc biệt ở một số nước có tiềm năng lớn và
quy mô kinh tế hàng trăm tỷ USD nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu và thị phần của ta còn ít
(Colombia, Veneduela, Peru, Panama).
Những trở ngại căn bản là khoảng cách xa về địa lý, các doanh nghiệp hai bên còn thiếu
thông tin về nhau và do đó chưa quan tâm đúng mức đến phát triển quan hệ kinh doanh với
nhau. Tại một số thị trường nhiều tiềm năng này, Thương vụ mới được thành lập hoặc chưa
có nên chưa hỗ trợ được nhiều cho các doanh nghiệp trong khâu tìm hiểu thị trường và tìm
và xã hội thông tin. Các ngành dịch vụ và các ngành kinh tế giàu hàm lượng chất xám phát
triển mạnh. Thương mại quốc tế ngày càng mở rộng.
Xu hướng toàn cầu hóa khu vực hóa với các mặt hàng tích cực và tiêu cực của nó sẽ tiếp
tục diễn biến thông qua sự hợp tác – đấu tranh phức tạp giữa các đối tác. Các mâu thuẫn cơ
bản trên thế giới biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn tồn tài và phát triển, có mặt
sâu sắc hơn. Thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ
nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương.
Trong nền kinh tế thế giới, các nước công nghiệp phát triển vẫn giữ vị trí áp đảo, Cuộc
đấu tranh duy trì ảnh hưởng và phân chia thị trường sẽ diễn ra gay gắt giữa Mỹ, Tây Âu và
Nhật Bản, Nga , Trung Quốc và chừng mực nào đó Ấn Độ sẽ có vị trí ngày càng lớn trong
nền kinh tế và thương mại thế giới. Châu Á – Thái Bình Dương sau khủng hoảng tài chính
kinh tế, tiếp tục là một thị trường rộng lớn và cùng Châu Âu hình thành không gian kinh tế Á
– Âu
Căn cứ đường lối kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020 ,
xu hướng phát triển nền kinh tế và thị trường thế giới thập niên đầu thế kỷ XXI, cũng như từ
thực tiễn của các nước, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược xuất nhập khẩu hàng
hóa thời kỳ 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau:
8
1.1. Quan điểm chiến lược
a) Phát triển sản xuất để tăng nhanh xuất khẩu, đồng thời đáp ứng nhu cầu trong nước;
khai thác tốt lợi thế so sánh của nền kinh tế, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh xuất
nhập khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải
quyết việc làm và tiến tới cân bằng cán cân thương mại.
b) Xây dựng, củng cố các đối tác hợp tác chiến lược để phát triển thị trường bền vững;
kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc gia, lợi ích kinh tế và lợi ích
chính trị - đối ngoại, chủ động và độc lập tự chủ trong hội nhập kinh tế quốc tế.
c) Đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu. Tích cực và chủ động tham gia vào mạng
lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; chú trọng xây dựng và phát triển hàng hóa có giá trị
gia tăng cao, có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước.
1.2. Mục tiêu phát triển
- Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản (là nhóm hàng có lợi thế và năng lực cạnh tranh dài hạn
nhưng giá trị gia tăng còn thấp): Nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; chuyển
dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hướng mạnh vào chế biến sâu, phát triển sản phẩm xuất khẩu
có ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến. Định hướng tỷ trọng nhóm hàng này trong cơ cấu
hàng hóa xuất khẩu từ 21,2% năm 2010 xuống còn 13,5% vào năm 2020.
- Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo (là nhóm hàng có tiềm năng phát triển và thị
trường thế giới có nhu cầu): Phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao;
phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ giá trị trong nước, giảm phụ thuộc vào nguyên
phụ liệu nhập khẩu. Định hướng tỷ trọng nhóm hàng này trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ
40,1% năm 2010 tăng lên 62,9% vào năm 2020.
- Nhóm hàng mới (nằm trong nhóm hàng hóa khác): Rà soát các mặt hàng mới có kim ngạch
hiện nay còn thấp nhưng có tiềm năng tăng trưởng cao trong thời gian tới để có các chính
sách khuyến khích phát triển, tạo sự đột phá trong xuất khẩu. Định hướng tỷ trọng trong cơ
cấu hàng hóa xuất khẩu từ 12% năm 2010 tăng lên 19,2% vào năm 2020.
c) Định hướng phát triển thị trường
- Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị
trường truyền thống; tạo bước đột phá mở rộng các thị trường xuất khẩu mới có tiềm năng.
- Phát huy vai trò, vị thế của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế, khu vực và tăng cường
hoạt động ngoại giao kinh tế để mở rộng thị trường xuất khẩu; phát triển hệ thống cơ quan
xúc tiến thương mại tại các khu vực thị trường lớn và tiềm năng; tăng cường bảo vệ hàng hóa
và doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới.
10
- Tận dụng tốt các cơ hội mở cửa thị trường của nước ngoài và lộ trình cắt giảm thuế quan để
đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang các thị trường
đã ký FTA.
- Tổ chức xây dựng và từng bước phát triển hệ thống phân phối hàng Việt Nam tại thị trường
nước ngoài.
- Định hướng về cơ cấu thị trường đến năm 2020: châu Á chiếm tỷ trọng khoảng 46%, châu
Âu khoảng 20%, châu Mỹ khoảng 25%, châu Đại Dương khoảng 4% và châu Phi khoảng
5%.
Braxin, Panama, Argentina, Chile, Peru.
Bên cạnh các mặt hàng dệt may, giày dép và gạo, Việt Nam cũng đẩy mạnh xuất khẩu các
mặt hàng thủy sản, chủ yếu là cá tra và basa. Tại thị trường như Mexico, Braxin, Colombia
sản lượng xuất khẩu cá tra và cá basa tăng nhanh, đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng chục
triệu USD ở mỗi nước.
Một số mặt hàng xuất khẩu chính sang Mỹ Latinh năm 2009
(Đơn vị: triệu USD).
TT Mặt hàng Kim
ngạch
Tỷ
trọng
(%)
Thị trường xuất khẩu chính
(Số trong ngoặc: giá trị XK, tr.USD)
1 Giày dép 325,5 24,4 Mexico (138,3); Panama (64,2); Braxin
(45,9); Chile (30,6); Achentina (22,9);
Cuba (4,2); Peru (3,1); Nước khác
(15,9)
2 Gạo 205,5 15,3 Cuba (190,5); ); Nước khác (15,5).
3 Dệt may 126,0 9,4 Mexico (52,8); Braxin (8,6); Panama
(7,7);
Achentina (4,5); Chile (6,9); Peru
(0,17)
4 Thuỷ sản 108,0 8,3 Mexico (73,4); Braxin (7,7 ); Peru
( 0,2)
Nguồn: Tổng cục Hải Quan VN
Không những thế, Việt Nam còn tích cực xuất khẩu một số mặt hàng khác như vali, túi
xách, sản phẩm nhựa, cao su và sản phẩm từ cao su, cà phê vào thị trường Mỹ Latinh. Các
mặt hàng này đã có chỗ đứng tại Mỹ Latinh trong nhiều năm và vẫn tiếp tục tăng trưởng. Các
mặt hàng điện, điện tử, tin học, cơ khí, thiết bị, máy, động cơ điện, vật liệu xây dựng, gốm
"gỗ“ dồi dào từ các nước Mỹ Latinh để làm nguyên liệu sản xuất, sau đó chế tác thành phẩm
để xuất trở lại vào thị trường này. Vì vậy một khối lượng lớn gỗ nguyên liệu đã được nhập
khẩu từ khu vực Mỹ Latinh.
Khu vực Mỹ Latinh cũng đã cung ứng nhiều nguyên liệu, vật tư cho sản xuất hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu của ta, như bông, da, sắt thép, đồng, bột mỳ, thịt sữa, dầu mỡ động
thực vật, tân dược, chất dẻo, hoá chất
Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các nước trong khu vực Mỹ Latinh năm
2006 ước đạt 627,5 triệu USD, tăng 17,61% so với năm 2005. Như vậy, Việt Nam nhập siêu
khoảng 83 triệu USD. Trong đó các mặt hàng nhập khẩu như thức ăn và chế biến gia súc
chiếm tới hơn 80% tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu. Xu hướng nhập khẩu hàng hóa của Việt
Nam từ Mỹ Latinh ngày càng tăng, đặc biệt là vào năm 2011 kim ngạch nhập khẩu này đạt
2.778,5 triệu KUSD, tăng 39,3% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy quan hệ
thương mại giữa Việt Nam và khu vực Mỹ Latinh ngày càng được tăng cường và mở rộng.
III- GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HỢP TÁC THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT
NAM VÀ CÁC NƯỚC MỸ LATINH TRONG GIAI ĐOẠN 2011- 2020
1. Phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Phát triển sản xuất công nghiệp:
+ Tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động các ngành sản xuất có tỷ trọng
kim ngạch xuất khẩu lớn như cơ khí, đồ gỗ, dệt may, da giày; phát triển sản xuất các mặt
hàng xuất khẩu có tiềm năng, có tốc độ tăng trưởng và giá trị gia tăng cao như vật liệu xây
dựng, sản phẩm hóa dầu, sản phẩm cao su, sản phẩm công nghệ cao.
+ Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển, thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp
hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu đối với
các ngành cơ khí chế tạo, điện tử - tin học, linh kiện ô tô, dệt may, da giày và công nghệ cao.
+ Khuyến khích phát triển các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu là đầu mối cung ứng cho
các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may, da giày, đồ gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, cơ khí.
+ Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xử lý môi trường trong sản xuất phù hợp với cam kết
quốc tế.
14
- Phát triển sản xuất nông nghiệp:
tập trung chủ yếu vào một số ít đối tác như Cuba, Chile, Mexico cần mở rộng hợp tác và
15
khai phá tiềm năng với nhiều đối tác khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp,
công ty tham gia vào hoạt dộng thương mại dựa trên những chiến lược, chính sách dài hạn
mang tính lan tỏa ở tầm quốc gia
b) Xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại tại các khu vực cửa khẩu biên giới;
cung cấp, cập nhật thông tin về thị trường, cơ chế, chính sách biên mậu của nước láng giềng;
hướng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính để đảm
bảo ổn định và phòng tránh được những rủi ro trong hoạt động thương mại biên giới.
c) Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại
- Đổi mới mô hình tổ chức, tăng cường hoạt động của các thương vụ, cơ quan xúc tiến
thương mại ở nước ngoài; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại theo
hướng tập trung phát triển sản phẩm xuất khẩu mới có lợi thế cạnh tranh, không bị hạn chế
về thị trường hoặc vào các thị trường còn nhiều tiềm năng; đẩy mạnh hoạt động xây dựng và
bảo vệ thương hiệu ngành hàng, sản phẩm xuất khẩu tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm.
- Tổ chức các cuộc tiếp xúc, xúc tiến hợp tác về các lĩnh vực đã đạt được hiệu quả trong quan
hệ thương mại song phương, đồng thời cung cấp thêm nhiều thông tin mới cho chính phủ và
doanh nghiệp hai bên thông qua những buổi gặp gỡ, tọa đàm, hội chợ thương mại , diễn đàn
hợp tác thương mại
- Tăng cường cung cấp thông tin và quảng bá về môi trường và cơ hội kinh doanh, và du lịch
tại Việt Nam đến các doanh nghiệp và người dân Mỹ Latinh, nhất là bằng tiếng Tây Ban Nha
và Bồ Đào Nha và ngược lại bằng tiếng Việt.
- Theo bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, Việt Nam và các nước Mỹ Latinh có thể hợp tác xuất bản
và tăng thời lượng giới thiệu về nhau trên các phương tiện thông tin đại chúng của mình.
Khuyến khích và hỗ trợ trao đổi các đoàn thương mại, tổ chức các hội nghị hội thảo về kinh
doanh, giới thiệu và hỗ trợ thiết lập quan hệ kinh doanh giữa các doanh nghiệp hai bên
- Để làm được điều này, không thể không nhắc đến vai trò của các doanh nghiệp trong việc
chủ động tìm hiểu, nắm bắt môi trường và cơ hội kinh doanh của nhau, xác định và tập trung
vào những lĩnh vực có tiềm năng hợp tác, tận dụng triệt để những ưu đãi thương mại, đầu tư
- Bổ sung cơ chế, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng đầu tư, tham gia
vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực phục vụ các ngành hàng sản xuất, xuất khẩu.
6. Kiểm soát nhập khẩu
Một trong những hạn chế trong quan hệ thương mại Việt Nam- Mỹ Latinh là cán cân
thương mại luôn nghiêng về chiều bất lợi cho Việt Nam. Nhập siêu của Việt Nam từ thị
trường Mỹ Latinh năm 2011 vào khoảng 500 triệu USD và có xu hướng tăng. Điều đó cho
17
thấy cần thiết phải có các biện pháp để kiểm soát nhập siêu nhằm cải thiện cán cân thương
mại:
- Nâng cao hiệu quả đầu tư và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam; có chính sách khuyến
khích hơn nữa việc đầu tư sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nước, hạn chế đầu tư vào
khu vực phi sản xuất; đẩy mạnh đầu tư sản xuất những mặt hàng Việt Nam có lợi thế cạnh
tranh.
- Đàm phán, thỏa thuận về trao đổi thương mại cấp Chính phủ nhằm cải thiện cán cân thương
mại với các đối tác thương mại một cách hợp lý, phù hợp với nhu cầu, trình độ sản xuất trong
nước và các cam kết quốc tế.
- Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại trong nước nhằm tạo cơ hội kết nối giữa các
doanh nghiệp sản xuất máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên phụ liệu với các doanh nghiệp sử
dụng các loại máy móc, thiết bị và hàng hóa này; có cơ chế bổ sung việc sử dụng vật tư, hàng
hóa sản xuất trong nước trong đấu thầu các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
- Ban hành các quy chuẩn kỹ thuật hàng hóa phù hợp với các cam kết quốc tế để kiểm soát
nhập khẩu hàng hóa kém chất lượng, ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe người dân.
- Tăng cường các biện pháp quản lý nhập khẩu phù hợp các cam kết quốc tế và các nguyên
tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
18
KẾT LUẬN
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dung. 2012. QUYẾT ĐỊNH Số: 950/QĐ-TTg: BAN HÀNH
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG