Phat trien dich vu Ngan hang Dien tu (2) - Pdf 24

Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP,HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
LỚP NH7-K34
Danh sách nhóm lớp NH7 – K34
1. Phạm Thị Hương Huế STT : 11
2. Phạm Thị Ngọc Lan STT : 15
1
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
3. Nguyễn Thùy Liên (NT) STT : 16
4. Nguyễn Viết Trường Sơn STT : 30
5. Nguyễn Thị Xuân Yến STT : 45
DANH SÁCH NHÓM LỚP NH7 – K34
STT Họ và tên Công việc Mức độ
hoàn
thành
11 Phạm Thị Hương Huế Tìm tài liệu
Làm đề cương
Làm phần các dịch vụ E banking, Thực
trạng vấn đề bảo mật, công tác tuyên
truyền của Ngân Hàng
Làm phần giải pháp từ phía khách hàng
100%
15 Phạm Thị Ngọc Lan Tìm tài liệu
Làm phần giới thiệu E-banking, thực
trạng hướng dẫn,giải đáp thắc mắc của
khách hàng, thực trạng cơ sở pháp lý
100%
16 Nguyễn Thùy Liên
(nhóm trưởng)
Tìm tài liệu

...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
3
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................................. 4
1. Tổng quan về E-banking
1.1. Khái niệm
Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking viết tắt là E-Banking), hiểu theo nghĩa trực
quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến
quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền
thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. E-Banking là một dạng của thương mại
điện tử (electronic commerce hay e-commerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng.
Cũng có thể hiểu cụ thể hơn, E-Banking là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách
hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phương
tiện điện tử (công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang
học, điện từ hoặc công nghệ tương tự).

thông tin bao gồm hệ thống mạng máy tính, internet... và được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu
của tổ chức phát hành (bên thứ 3) và được biểu hiện dưới dạng bút tệ trên tài khoản mà
khách hàng (người mua) mở tại tổ chức phát hành.
Cụ thể hơn tiền điện tử là phương tiện của thanh toán điện tử được bảo mật bằng chữ ký
điện tử và cũng như tiền giấy nó có chức năng là phương tiện trao đổi và tích lũy giá trị. Nếu
như giá trị của tiền giấy được đảm bảo bởi chính phủ phát hành thì đối với tiền điện tử, giá
trị của nó được tổ chức phát hành đảm bảo bằng việc cam kết sẽ chuyển đổi tiền điện tử sang
tiền giấy theo yêu cầu của người sở hữu.
1.3.2. Séc điện tử
5
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
Cũng sử dụng kỹ thuật tương tự như tiền điện tử để chuyển phát séc điện tử trên
mạng Internet,chỉ khác biệt duy nhất là séc này được ký điện tử(tức là việc mã hóa thông
điệp bằng mật mã cá nhân của người ký phát séc)
1.3.3. Thẻ thông minh
Thẻ thông minh, thẻ gắn chip, or thẻ mạch tích hợp( integrated circuit card -ICC) là loại thẻ
có kích thước đút được trong ví, thường có kích thước của thẻ tín dụng được gắn một bộ
mạch tích hợp có khả năng lưu trữ và xử lý thông tin. Nghĩa là nó có thể nhận dữ liệu, xử lý
dữ liệu bằng các ứng dụng thẻ mạch tích hợp, và đưa ra kết quả.
Có hai loại thẻ thông minh chính.
• Các thẻ nhớ chỉ chứa các thành phần bộ nhớ non-volatile, và có thể có một số chức
năng bảo mật cụ thể.
• Thẻ vi xử lý chứa bộ nhớ volatile và các thành phần vi xử lý.
Thẻ làm bằng nhựa, thường là PVC, đôi khi ABS. Thẻ có thể chứa một ảnh 3 chiều để tránh
các vụ lừa đảo.
Thẻ thông minh cho phép thực hiện các giao dịch kinh doanh một cách hiệu quả theo một
cách chuẩn mực, linh hoạt và an ninh mà trong đó con người ít phải can thiệp vào.
Thẻ thông minh giúp chúng ta thực hiện việc kiểm tra và xác nhận chặt chẽ mà không phải
dùng thêm các công cụ khác như mật khẩu…Chính vì thế, có thể thực hiện hệ thống dùng
cho việc đăng nhập sử dụng máy tính, máy tính xách tay, dữ liệu bảo mật hoặc các môi

ngân hàng điện tử nhất là với các ngân hàng ảo (chỉ hoạt động trên Internet mà không cần tới
văn phòng, trụ sở), các chi phí mà khách hàng phải trả cũng theo đó mà giảm đi rất nhiều.
1.4.1.2. Đối với Ngân hàng
 Giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh
Ngân hàng cần một căn phòng với diện tích lớn để có đủ không gian để lưu trữ giấy tờ, khi
đã sử dụng E-banking thì sẽ cải thiện được điều này. Mạng, máy chủ và các máy tính cá
nhân giúp rút ngắn thời gian cho công việc làm thủ tục, tìm kiếm và chuyển giao tài liệu; nhờ
đó giảm chi phí văn phòng.
Thông qua các dịch vụ và kênh phân phối cuả E-banking, Ngân hàng có thể tự động hoá, mở
rộng thời gian làm việc ngoài giờ hành chính, qua đó giảm chi phí nhân viên. Ví dụ: Một
máy rút tiền tự động có thể làm việc 24 trên 24 giờ và thay cho rất nhiều nhân viên.
7
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
Bằng phương tiện Internet/Web Ngân hàng và khách hàng có thể tìm hiểu thông tin, giao
dịch thường xuyên hơn, cập nhật hơn nhờ vậy làm giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.
Việc thực hiện chiến lược “toàn cầu hoá”, chiến lược “bành trướng” nhờ có ngân hàng điện
từ mà các ngân hàng không cần phải mở thêm chi nhánh. Ngân hàng có thể vừa tiết kiệm chi
phí do không phải thiết lập quá nhiều các trụ sở hoặc văn phòng, nhân sự gọn nhẹ hơn, đồng
thời lại có thể phục vụ một khối lượng khách hàng lớn hơn.
Ngân hàng điện tử có thể giúp các ngân hàng thương mại tăng khả năng cung cấp các dịch
vụ gia tăng khác của mình. Sự góp mặt của Internet với chức năng cung cấp thông tin một
cách đơn thuần không thể đem lại nguồn doanh thu phong phú cho ngân hàng. Tuy nhiên,
bằng việc cung cấp một loạt các dịch vụ và sản phẩm tài chính khác thông qua mạng
Internet, ngân hàng lại có thể kiếm được một nguồn lợi đáng kể.
Phí giao dịch E-Banking được đánh giá là ở mức rất thấp so với giao dịch truyền thống, đặc
biệt là giao dịch qua Internet, từ đó góp phần tăng doanh thu hoạt động cho ngân hàng. Số
liệu về phí giao dịch ngân hàng khảo sát ở Mỹ đã minh chứng cho điều đó:
Stt Hình thức giao dịch Phí bình quân 1 giao dịch (USD)
1 Giao dịch qua nhân viên ngân hàng 1,07
2 Giao dịch qua điện thoại 0,54

Việc tiêu dùng chủ yếu bằng tiền mặt có rất nhiều điều hạn chế. Nhà nước phải bỏ ra một chi
phí nhất định hàng năm trong việc in và quản lý số lượng tiền in ra cho thị trường. Việc khó
xác định chính xác lượng tiền lưu hành trong dân khiến cho nhà nước gặp nhiều khó khăn
trong việc đưa ra các chính sách tài khoá nhằm đảm bảo một thị trường tài chính ổn định.
"Ngân hàng điện tử" với sự phổ biến sử dụng tài khoản cá nhân và tiền điện tử sẽ góp phần
không nhỏ trong việc tháo gỡ khó khăn này. Chính tiền điện tử và giao dịch tài khoản làm
cải thiện khả năng thanh toán trong thị trường tài chính.
"Ngân hàng điện tử" giúp cho nhà nước có thông tin đầy đủ về việc thực hiện thu nộp thuế
một cách nhanh chóng và cập nhật.
Cùng với xu hướng toàn cầu hoá và sự phát triển rộng khắp trên toàn thế giới của thương
mại điện tử, "Ngân hàng điện tử" chính là chiếc cầu nối cho sự hội nhập của nền kinh tế
trong nước với nền kinh tế quốc tế mà không đòi hỏi quá nhiều nỗ lực của chính phủ.
1.4.2. Nhược điểm
1.4.2.1. Về phía khách hàng
9
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
 Tăng sự lệ thuộc vào máy tính điện tử, mạng internet
Ngân hàng điện tử mà cụ thể hơn là Internet banking đã làm tăng sự lệ thuộc của con người
vào máy tính điện tử và mạng Internet. Khách hàng cần có máy vi tính, modem, tài khoản
Internet. Đây là một khoản chi phí đầu tư ban đầu không nhỏ. Thêm nữa, người sử dụng
cũng phải nắm được những thao tác và kiến thức cơ bản nhất để sử dụng máy tính. Điều này
hoàn toàn khác biệt so với quá trình giao dịch trực tiếp tại ngân hàng: bất cứ khách hàng nào
cũng có thể đến thẳng ngân hàng tiến hành giao dịch trực tiếp và có thể được nhân viên ngân
hàng hướng dẫn.
Nhiều khi khách hàng muốn được giao dịch trực tiếp với cán bộ ngân hàng để có thể diễn
giải hoặc được giải quyết các vấn đề phức tạp một cách cụ thể hơn đồng thời khách hàng cần
khai thác những thông tin mà ngân hàng điện tử hoặc Internet banking không thể cung cấp
đầy đủ như một cán bộ chuyên trách có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ của ngân hàng.
 Thiếu thông tin “nóng”
Qua E-Banking khách hàng nhận được thông tin không thể đầy đủ như qua một cán bộ

dịch vụ ngân hàng điện tử. Nói một cách khác một loạt các câu hỏi đặt ra là liệu ngân hàng
có áp dụng ngân hàng điện tử hay không? Ngân hàng có quyết định đúng đắn khi quyết định
đầu tư vào ngân hàng điện tử hay không? Ngân hàng có nên là người đi tiên phong vượt xa
các đối thủ cạnh tranh hay chỉ nên đi sau?
Sự phổ biến của Internet trên toàn cầu cũng như tính kinh tế khi sử dụng Internet đã mở ra
một cuộc cạnh tranh cực kỳ gay gắt và có nguy cơ ngày càng dữ dội hơn giữa các ngân hàng
với nhau. Sân chơi chung giữa các ngân hàng mỗi lúc một trở nên chật chội hơn, thành viên
mới và thành viên cũ đan xen nhau.
Mọi ngân hàng đều đưa ra dịch vụ ngân hàng điện tử gây ra tình trạng bão hoà điều này lại
càng làm tăng tính cạnh tranh của các ngân hàng. Việc thăm dò thị trường và so sánh của
khách hàng có thể thực hiện được là nhờ hệ thống các đại lý kinh doanh tự động thay khách
hàng dò tìm trên mạng để tìm ra những chào hàng hấp dẫn và có giá cả cạnh tranh nhất.
Chính vì lẽ đó mà lợi nhuận biên của các ngân hàng giảm và lòng trung thành của khách
hàng cũng bị lung lay.
 Rủi ro trong quá trình hoạt động
11
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
Trong kỷ nguyên của Internet và ngân hàng điện tử, ngân hàng phải đối mặt với hai loại rủi
ro: Rủi ro trong dự đoán về số lượng khách hàng, rủi ro trong hệ thống quản lý thông tin.
Ước đoán một con số chính xác về số lượng khách hàng tiềm năng sẽ tham gia ngân hàng
điện tử là một việc làm hết sức khó khăn và làm thế nào để đoán trước và quản lý được
khách hàng mà ngân hàng sẽ thu hút trong môi trường mới này là một thách thức đặt ra cho
các ngân hàng. Nhiều ngân hàng khi cung cấp dịch vụ trực tuyến đã ước lượng sai về số
lượng khách hàng tiềm năng và điều này để lại những hậu quả đáng tiếc khi hệ thống trực
tuyến của ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng, danh tiếng và khả năng tài
chính của ngân hàng có thể bị tổn hại. Một ví dụ cho loại hình rủi ro này là năm 2000, công
ty Amazon.com đã xác định sai lượng khách hàng tiềm năng truy cập vào trang web của
công ty gây ra tình trạng ngẽn mạch tới 5 giờ gây thiệt hại cho công ty tới 1 triệu đôla.
Thứ hai, rủi ro trong hệ thống quản lý thông tin là không thể tránh khỏi. Không ít những
ngân hàng đã liều lĩnh thâm nhập vào lĩnh vực mới mà không có giải quyết tốt vấn đề thông

nguy hiểm đang và sẽ còn gây ra những tác hại nghiêm trọng, đe doạ tính toàn vẹn và khả
năng hoạt động liên tục, thay đổi các chức năng hay đôi khi làm ngưng trệ toàn bộ hoạt động
của nhiều hệ thống... Đây là một trong những mối đe doạ lớn nhất đối với an toàn giao dịch
ngân hàng điện tử.
 Sự khước từ phục vụ
Đây là hậu quả của việc tin tặc sử dụng những giao thông vô ích làm tràn ngập và dẫn tới tắc
nghẽn mạch truyền thông hay sử dụng lượng lớn máy tính tấn công vào một mạng từ những
điểm khác nhau gây nên sự quá tải về khả năng cung cấp dịch vụ. Sự tắc nghẽn này cũng
đồng nghĩa với những khoản chi phí vô cùng lớn vì khách hàng không thể thực hiện giao
dịch được. Và chính sự gián đoạn này sẽ ảnh hưởng đến uy tín và tiếng tăm của ngân hàng.
 Sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài.
Để tập trung vào việc phát triển các hoạt động chủ đạo, các ngân hàng có quy mô lớn đã
chuyển hướng sang sử dùng nguồn nhân lực bên ngoài để phát triển thị trường và mở rộng
các nghiệp vụ ngân hàng điện tử. Điều này cũng xuất phát từ thực tế là nguồn nhân lực nội
bộ các ngân hàng còn thiếu nhiều kiến thức và kinh nghiệm chuyên ngành cũng như khả
năng phát triển một giải pháp tổng thể cho dịch vụ ngân hàng điện tử.
13
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
Sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài đồng nghĩa với việc phải dựa vào bên thứ ba là các công
ty phần mềm hay các công ty cung cấp giải pháp tổng thể. Để có thể quản lý những hoạt
động của bên thứ ba một cách có hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu những rủi ro, ngân hàng
phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định nội bộ cũng như giám sát chặt chẽ hoạt động của
bên thứ ba hay các công ty cung cấp. Đây là vấn đề vô cùng nhạy cảm đối với dịch vụ ngân
hàng nói chung cũng như dịch vụ ngân hàng điện tử nói riêng. Việc rò rỉ thông tin khách
hàng xuất phát từ việc quản lý lỏng lẻo các hoạt động bên thứ ba trong quá trình xây dựng,
cung cấp dịch vụ sẽ gây ra những hậu qủa bất lợi trong quan hệ của ngân hàng với khách
hàng.
Do đó, tuy sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài là một xu hướng phổ biến mà các ngân hàng
sử dụng để phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử mới nhưng việc sử dụng nguồn nhân lực này
chỉ phát huy hiệu quả và đảm bảo an toàn khi có sự phân công rõ quyền hạn và trách nhiệm

Việt Nam đến năm 2010
03/04/2009 Quyết định 50/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành “Quy chế quản lý Chương trình phát triển
công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển công
nghiệp nội dung số Việt Nam”
Bên cạnh các chính sách liên quan tới phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ, các chính sách về
giao dịch điện tử của ngân hàng đã tạo hành lang pháp lí cho dịch vụ Internet-banking được
triển khai dễ dàng hơn. Sự ra đời của Luật giao dịch điện tử về chữ ký số là nền tảng pháp lí
cho các giao dịch điện tử trong đó có giao dịch Internet-banking. Đề án thanh toán không
dùng tiền mặt góp phần thúc đẩy Internet-banking được ứng dụng rộng rãi.
15
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
Khung chính sách liên quan tới các giao dịch điện tử của ngân hàng
Ngày Nội dung
29/11/2005 Luật Giao dịch điện tử của Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam số 51/2005/QH11
Quyết định số 04/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế an toàn,
bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng.
Quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy định về các
nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động NHĐT.
24/05/2006 Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành Ngân hàng
Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
9/6/2006 Nghị định của Chính phủ số 57/2006/NĐ-CP về thương mại
điện tử.
29/12/2006 Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn
2006-2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt Nam
15/02/2007 Nghị định số 26/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ

trong nội bộ các ngân hàng…, một số ngân hàng mở đầu cho dịch vụ này là Techcombank,
Vietcombank, Đông Á bank, v..v
Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước cấp phép cho cung cấp
dịch vụ E-banking theo tiêu chuẩn quốc tế ra thị trường là Techcombank, sau đó dịch vụ thẻ
ATM/POS cũng được các ngân hàng chú trọng đầu tư, và đến nay đã trở nên phổ biến trên
thị trường trong nước.
Các Ngân hàng nước ngoài cũng tham gia cung cấp dịch vụ E-banking, điển hình là
Citibank, HSBC, DeutschBank, ANZ…
Trong giai đoạn 2008-2010, E-banking đã có những bước phát triển rất mạnh mẽ, thể hiện rõ
nhất tập trung ở dịch vụ Internet banking
17
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NH Thương Mại VN
26%
40 %
67 %
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
20 08 200 9 20 10
Tốc độ gia tăng số lượng
NHTMVN thực hiện dịch vụ Internet-banking giai đoạn 2008-2010
Năm 2008, tỷ lệ NHTMVN thực hiện dịch vụ Internet-banking là 26%, năm 2009 là 40%
tăng 14% so với năm 2008, năm 2010 là 67% tăng 27% so với năm 2009. Qua số liệu trên
cho thấy tỷ lệ gia tăng số lượng NHTMVN thực hiện dịch vụ Internet-banking năm 2010 gần
gấp đôi năm 2009. Dịch vụ Internet-banking đang đựợc rất nhiều ngân hàng quan tâm, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status