PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có câu khẩu hiệu mà bất cứ quốc
gia nào, đất nước nào cũng biết đến là “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày
mai”. Vì vậy, công tác chăm sóc sức khỏe cho đối tượng học sinh lúc nào
cũng có nhiều ý nghĩa thiết thực và giữ một vai trò, vị trí quan trọng của
mỗi quốc gia.
Học sinh là đối tượng đang ở trong giai đoạn phát triển và lớn nhanh
về mọi mặt. Do đó muốn có một thế hệ tương lai vừa khỏe mạnh, vừa thông
minh thì toàn xã hội cần phải chú ý đến công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe
cho các em ngay từ tuổi đến trường. Trong cuộc đời của một con người,
người học sinh có khoảng 20 năm phải ngồi trên ghế nhà trường từ bậc
mầm non đến bậc trung học phổ thông để thực hiện nhiệm vụ học tập của
mình. Đây chính là thời gian các em gặp phải khá nhiều bệnh tật từ môi
trường sống, môi trường học đường; bị ảnh hưởng bởi các tai nạn, thương
tích hoặc do chế độ dinh dưỡng không hợp lý Nếu không có sự chăm sóc
của gia đình và xã hội nói chung, của ngành y tế và ngành giáo dục - đào
tạo nói riêng thì những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của học
sinh là điều không thể tránh khỏi và trở thành vấn đề rất lớn của xã hội.
Nhiều loại bệnh tật sẽ để lại những di chứng suốt cả cuộc đời của các em
nếu như không được chăm sóc, bảo vệ một cách đầy đủ.
Nhà trường là nơi tập trung nhiều học sinh, đối tượng này được sinh
hoạt, học tập trong một khoảng không gian hạn chế của trường học và
phòng học. Đây là những yếu tố và điều kiện thuận lợi để cho các loại tai
nạn, thương tích, bệnh tật có cơ hội phát sinh, lây nhiễm. Vì thế, sự phát
triển lệch lạc trong giai đoạn này sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường sau
này sẽ khó khắc phục.
1
Nhà trường là nơi giáo dục toàn diện cho cả một thế hệ trẻ liên tục từ
về tiêu hóa, bệnh về mắt, bệnh răng miệng còn cao. Việc chăm sóc chủ yếu
2
dựa vào những kiến thức thực hành chăm sóc sức khỏe của giáo viên được
cung cấp ở các trường Sư phạm mầm non, qua học tập bồi dưỡng các
chuyên đề do các cấp tổ chức hoặc qua phối hợp với Y tế địa phương.
- Sự phối hợp giữa Gia đình - Nhà trường tạo nên sự liên kết chặt chẽ
giữa trường Mầm non và cha mẹ trẻ nhằm chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ lẫn
nhau trong quá trình chăm sóc sức khỏe cho trẻ còn hạn chế.
Vì vậy thiết kế, đề xuất các biện pháp cụ thể để góp phần nâng cao
chất lượng chăm sóc sức khỏe trẻ em, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo của bậc
học mầm non vào mục tiêu đào tạo phát triển toàn diện cho trẻ là hết sức
cần thiết.
Là một cán bộ Y Tế, xác định được tầm quan trọng của công tác y tế
học đường, tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Một số biện pháp làm tốt công tác
Y tế học đường trong trường Mầm non"
II. ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu thực trạng và nghiên cứu một số biện pháp chính để thực
hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe học đường cho trẻ trong độ tuổi mầm non.
III. PHẠM VI ÁP DỤNG
Đề tài được nghiên cứu áp dụng đối với trẻ Mầm non tại trường Mầm
non nơi tôi đang công tác và có thể trao đổi với các trường mầm non khác
trong toàn bậc học.
IV. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Nhằm cung cấp một số biện pháp tăng cường công tác chăm sóc
nâng cao sức khoẻ học đường, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện cho
trẻ Mầm non.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành tốt đề tài này tôi đã áp dụng những phương pháp
nghiên cứu sau:
1. Phương pháp học tập nghiên cứu tài liệu
về cân nặng
Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
SDD vừa SDD nặng
Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ %
2009-2010
484 465 96,1 19 3,9 0 0
2010-2011
505 490 97,0 15 3,0 0 0
* Biểu đồ quần thể theo dõi cân nặng theo độ tuổi
Ghi chú:
Màu xanh Trẻ phát triển bình thường
Màu vàng Trẻ Suy dinh dưỡng vừa
Màu cam Trẻ Suy dinh dưỡng nặng
b. Kết quả theo dõi chiều cao
5
100
15 trẻ
80
40
20
0
465
trẻ
19 trẻ
490
trẻ
96.1%
97.0%
3.9%
6
100
16 trẻ
80
40
20
0
463
trẻ
21 trẻ
489
trẻ
95,7%
96,8%
4,3%
3.2%
Năm học2009-2010 2010-2011
Tỷ lệ %
60
số trẻ
khám
trẻ
mắc
bệnh
%
Tai,
mũi,
họng
Tỷ lệ
%
được kế hoạch một cách thiết thực, hiệu quả nhất để trình lãnh đạo phê
duyệt và tổ chức thực hiện.
Đầu năm học, cán bộ chuyên trách mảng y tế trường học của Phòng
giáo dục sẽ có kế hoạch thực hiện chung cho tất cả các đơn vị trường học
mà Phòng quản lý. Đây sẽ là định hướng chung cho kế hoạch hoạt động tại
đơn vị. Tùy theo đặc thù của đơn vị, chương trình y tế của địa phương mà
người cán bộ y tế trường học mới xây dựng chi tiết về kế hoạch của mình.
7
Khi lên kế hoạch, tôi luôn chú trọng đến việc thực hiện việc tuyên truyền, giáo
dục cho học sinh về việc phòng bệnh rải đều trong 9 tháng học tập, tháng nào
tại địa phương thường hay xuất hiện loại bệnh gì thì tuyên truyền, giáo dục
loại bệnh đó. Ngoài ra tôi còn đặc biệt chú trọng đến các đại dịch mang tính
chất thời sự mà thế giới và nước ta quan tâm, lo lắng. Ví dụ: Dịch cúm A
H1N1,
cúm AH5N1 hoặc
trong năm học có dịch Chân - Tay - Miệng… tôi sẽ
xây dựng một kế hoạch thực hiện riêng để đạt hiệu quả tuyên truyền giáo dục
cao hơn. Đó là kế hoạch hoạt động chung cho cả năm học.
Ngoài kế hoạch chung, tôi còn lên kế hoạch cho từng tuần cụ thể.
Từng ngày trong tuần thực hiện công việc gì nêu ra cho rõ ràng.
Sau khi lên được kế hoạch chi tiết, thiết thực tôi trình lãnh đạo phê
duyệt và tiến hành tổ chức thực hiện. Trong quá trình thực hiện tôi cũng
luôn bám sát theo chỉ đạo của Phòng giáo dục, chương trình y tế địa
phương để kịp thời bổ sung vào kế hoạch thực hiện cũng như có được sự
chủ động để phối hợp với thực hiện các chương trình y tế cho đơn vị.
Kế hoạch Y tế trường học được tôi xây dựng như sau:
Biện pháp 2: Tạo môi trường thân thiện, trong sạch an toàn
Là cán bộ phụ trách y tế tôi thấy tầm quan trọng của công tác vệ sinh
môi trường liên quan mật thiết đến sức khỏe và hạnh phúc của con người.
Môi trường sạch sẽ phòng được 80% bệnh tật. Môi trường tốt sẽ là điều
cùng quan trọng. Vì thế, tôi đã kết hợp với Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch
trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích cho học sinh. Kiện
toàn củng cố công tác Y tế, mua sắm trang thiết bị để kịp thời xử trí những
tai nạn không may xảy ra trong trường. Để phòng tránh tai nạn thương tích
cho trẻ, chúng tôi sử dụng các đồ chơi, đồ dùng dạy học tuyệt đối an toàn
như không có vật sắc nhọn, vật cứng, vật nặng. Chủ yếu sử dụng đồ dùng, đồ
chơi bằng nhựa mềm, cao su dẻo đạt tiêu chuẩn chất lượng về an toàn. Riêng
với những đồ chơi dạng hột hạt liên quan đến việc học xâu chuỗi, hạt nảy
mầm , chúng tôi sử dụng những hạt to và giám sát kỹ quá trình các cháu
chơi, hết giờ chơi cất lên cao để tránh trẻ nuốt hoặc nhét vào tai, mũi. Đồ
chơi ngoài trời như xích đu, đu quay, cầu trượt , chúng tôi đều yêu cầu bọc
cao su vào các góc cạnh sắt để tránh cho các cháu những tình huống va đập.
Đồ chơi nào không còn đủ độ an toàn, nhà trường đều sửa chữa hoặc thay
mới để tránh sự cố cho trẻ.
10
Tụi cũn kt hp vi Ban ch o trc tip kim tra giỏm sỏt vic thc
hin phũng chng tai nn thng tớch, trng hc an ton trong tng nhúm lp
(Kim tra dựng chi, kim tra h thng in, ngun in phi cao,
xa khi tm tay vi ca tr m bo an ton)
Tụi tham mu vi lónh o nh trng ci ni h thng lan can hnh
lang cao hn trc v lp h thng mnh chng nng nhm ngn bt bi
bn, chng ụ nhim mi trng m bo sc khe cho tr v phũng
trỏnh cỏc tai nn thng tớch cú th xy ra.
Phi hp vi y t Phng v y t Thnh ph vn ng cỏn b giỏo
viờn, nhõn viờn, ph huynh v hc sinh tham gia tớch cc thỏng hnh ng
vỡ tr em, thỏng an ton giao thụng
Truyn thụng giỏo dc nõng cao nhn thc ca cng ng v xõy dng
trng hc an ton phũng chng tai nn thng tớch bng nhiu hỡnh thc nh
t ri, bng zụn, ỏp phớch, khu hiu, t chc cỏc hot ng ngoi khoỏ.
Ci to mụi trng hc tp v sinh hot an ton. Cú quy nh v phỏt
chia bát, chia thìa, phơi khăn… Vệ sinh văn minh lịch sự, biết lấy tay che
miệng khi ho, ngáp, hắt hơi. Không ăn quả xanh uống nước lã…
Dạy trẻ biết thu dọn rác sạch sẽ, sau khi làm xong và bỏ rác vào sọt, không
vứt rác bừa bãi. Biết dọn dẹp đồ dùng đồ chơi cẩn thận vào nơi quy định.
Để đạt được hiệu quả cao trong giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân cho
trẻ, tôi đã tạo ra xung quanh trẻ những điều kiện đầy đủ thuận lợi. Ví dụ:
Khi ở lớp cũng như ở nhà mỗi trẻ cũng cần có những đồ dùng vệ sinh cá
nhân như khăn mặt, khăn tay, bàn chải đánh răng, ca cốc, lược… những đồ
dùng đó được để ở chỗ quy định mà trẻ có thể tự lấy và cất đi dễ dàng. Tôi
luôn lồng ghép giáo dục vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân vào các tiết
học và các hoạt động hàng ngày của trẻ, dần dần giúp trẻ hiểu được cái đẹp,
cái sạch của con người, học được những tác phong nếp sống văn minh, vệ
sinh thân thể, vệ sinh ăn uống Điều này có ý nghĩa quan trọng cho việc
giáo dục thói quen vệ sinh văn minh cho trẻ: Sạch sẽ, trật tự, ngăn nắp.
12
Bé rửa tay bằng xà phòng Bé rửa mặt
Biện pháp 5:
Tổ chức mạng lưới giám sát của trường để phát hiện
sớm các bệnh truyền nhiễm và các bệnh thường gặp khác:
a. Các bệnh truyền nhiễm như:
+ Bệnh truyền qua đường hô hấp (Ho gà, bệnh cúm, bệnh sởi …)
+ Bệnh truyền qua đường tiêu hóa (Tiêu chảy, tả lỵ, thương hàn …)
+ Bệnh truyền qua đường máu (Sốt xuất huyết , HIV/ AIDS…)
+ Bệnh truyền qua đường da và niêm mạc (Bệnh Chân – Tay -
Miệng, nấm móng tay, ghẻ…)
b. Các bệnh thường gặp khác:
+ Bệnh đau mắt hột, thấp tim, suy dinh dưỡng …
+ Các bệnh do thiếu các vi chất (Iode, sắt, vitamin A, … ) .
c. Biện pháp phòng chống:
Tôi đã cùng Ban sức khỏe nhà trường và giáo viên thường xuyên quan
đường, công tác an toàn phòng dịch bệnh, theo dõi sức khoẻ của trẻ hàng
ngày, báo cáo kết quả kịp thời để xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên trong công
tác phòng chống dịch.
Nhằm mục đích đề phòng bệnh lây lan rộng, khi có dịch tôi đã kết hợp
với Y tế Phường diệt khuẩn dự phòng để ngăn chặn bệnh truyền nhiễm nảy
14
sinh. Đặc biệt chú ý khử khuẩn nước, xử lí phân, rác thực hiện đúng quy tắc
về vệ sinh cá nhân.
Hàng năm tôi kết hợp với Y tế Phường và Viện vệ sinh dịch tễ thực
hiện đúng lịch phun thuốc muỗi và chống côn trùng 6 tháng 1 lần bằng thuốc
của Viện vệ sinh dịch tễ trước mùa truyền bệnh của chúng. (Để đảm bảo không
đc hại với trẻ vào buổi chiều ngày thứ bảy sau khi trẻ về hết mới phun thuốc)
Thường xuyên kiểm tra định kì các khu vực vệ sinh và cống rãnh thoát nước
tháng một lần. Đồng thời cho khơi nạo vét cống, hố ga, đường thoát nước
b. Công tác phối kết hợp giữa các b phận trong nhà trường và cng
đồng
- Tôi kết hợp với Ban Giám hiệu tổ chức, tham gia các lớp tập huấn công
tác phòng chống dịch bệnh cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường.
- Phối hợp với các cô giáo lồng ghép giáo dục cho học sinh những hiểu
biết tối thiểu về phòng chống dịch bệnh: Dạy trẻ cách giữ gìn vệ sinh cá nhân,
vệ sinh thân thể, cách nhận biết những con côn trùng có hại gây nguy hiểm tới
cuộc sống…
- Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh để cùng thực hiện tốt những
nội dung phòng bệnh ở gia đình góp phần nâng cao hiệu quả những biện
pháp đã thực hiện ở trường.
- Tuyên truyền các biện pháp phòng chống dịch cho phụ huynh học
sinh và các thành viên trong nhà trường, huy động các lực lượng này tuyên
truyền trong cộng đồng dân cư bằng những hình thức phong phú như phát
tờ rơi, tranh cổ động, bảng tin, truyền thanh nội bộ…, huy động đoàn thanh
niên tình nguyện tham gia phòng chống dịch bệnh.
thế thực phẩm trong cùng nhóm (Ví dụ: Thay thịt bằng cá, trứng hoặc
tôm… hoặc phối hợp các thực phẩm thay thế để đạt được giá trị dinh
dưỡng tương đương).
- Trong cùng một ngày nên dùng thực phẩm giống nhau cho các chế
độ ăn để tiện cho tiếp phẩm đi chợ.
Trong điều kiện tiếp phẩm đi chợ không có các loại thực phẩm theo như
thực đơn thì có thể thay thế các loại thực phẩm khác nhưng cần đảm bảo:
+ Chỉ được thay thế thực phẩm theo cùng nhóm. (Ví dụ: Thay gạo
bằng bánh phở hoặc bún, bánh mì Thay thịt lợn bằng thịt bò, thịt gà,
trứng, cá,… Các loại rau thay bằng đậu đỗ, giá, bí, khoai tây…)
+ Khi thay đổi cần chú ý lượng tương đương để cho giá trị dinh dưỡng
và tính cân đối trong khẩu phần không bị thay đổi.
* Để góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và nâng cao giá trị dinh
dưỡng cho thực phẩm, trường tôi thường xuyên thực hiện tốt “Mười nguyên
tắc vàng chế biến thực phẩm an toàn” của tổ chức Y tế thế giới:
- Lựa chọn thực phẩm tươi, sạch, an toàn.
- Thực hiện “Ăn chín uống sôi”, rửa sạch, ngâm kỹ, gọt vỏ rau quả
tươi trước khi sử dụng.
- Ăn ngay khi thức ăn vừa được nấu chín.
- Che đậy, bảo quản cẩn thận thức ăn đã được nấu chín
- Rửa tay trước khi chế biến thực phẩm, đặc biệt sau khi đi vệ sinh
hoặc tiếp xúc với các nguồn dễ gây ô nhiễm khác.
- Đun kỹ lại thức ăn trước khi sử dụng.
- Không để lẫn thực phẩm sống với thực phẩm chín, không dùng
chung dụng cụ chế biến giữa thực phẩm sống và chín.
- Bảo đảm dụng cụ, nơi chế biến thực phẩm phải khô ráo, gọn gàng
sạch sẽ, hợp vệ sinh.
17
- Tuyệt đối không sử dụng thực phẩm ôi thiu, hỏng mốc quá hạn.
- Sử dụng nguồn nước sạch, an toàn trong chế biến thực phẩm.
Không đựng mắm muối vào đồ có chứa chì, đồng, sắt gây ô nhiễm
thực phẩm, các dụng cụ đều bằng I - nox được vệ sinh theo lịch phân công
hàng tuần đảm bảo vệ sinh.
c. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là mối quan tâm lớn của toàn
xã hội hiện nay. Ngoài những biện pháp quy định trong các chương trình,
chúng tôi đã ký hợp đồng cam kết đảm bảo mua thực phẩm sạch đồng thời
liên tục kiểm tra các mẫu thực phẩm theo định kỳ, thường xuyên giám sát
kiểm tra gửi mẫu thực phẩm đi kiểm tra tại Viện vệ sinh dịch tễ.
- Phải thực hiện kí hợp đồng thực phẩm sạch với các nhà cung cấp tin
cậy, có địa chỉ rõ ràng.
- Chế biến đúng quy trình, thực hiện thực đơn của trường. Đảm bảo vệ
sinh và dinh dưỡng cho trẻ.
- Bảo đảm thức ăn nước uống cho trẻ an toàn.
- Phải lưu mẫu thức ăn, đó là việc làm hết sức cần thiết đối với bếp ăn
tập thể đông người. Chính vì vậy tôi thường xuyên đôn đốc chị em trong tổ
Dinh dưỡng để thức ăn lưu nghiệm đầy đủ, đúng quy định một xuất ăn của
các món ăn trong ngày, kể cả ăn phụ, có nhãn mác ghi ngày giờ rõ ràng
(Thức ăn lưu nghiệm phải để đúng 24 giờ sau mới được huỷ). Việc làm này
phòng khi có xảy ra ngộ độc, bác sĩ tìm nguyên nhân ngộ độc do thức ăn
hay lí do khác được dễ dàng.
d. Vệ sinh môi trường: Rác và thức ăn hàng ngày phải đổ vào đúng
nơi quy định, rác ngày nào phải xử lý ngày đó không để hôm sau mới xử lý
gây mất vệ sinh, rác phải để xa nơi chế biến, cống rãnh phải được khơi
thoáng không ứ đọng.
19
Đồ dùng đựng thức ăn
Hình ảnh bếp ăn tại trường
Biện pháp 9: Quản lý theo dõi biểu đồ tăng trưởng, tổ chức khám
sức khỏe định kì và tiêm phòng cho trẻ
của trẻ, phát hiện sớm những trẻ cần đi khám chuyên khoa như: răng, tai,
mũi, họng, mắt… hoặc làm các xét nghiệm cần thiết để phát hiện những trẻ
có mang vi khuẩn gây bệnh. Chính vì vậy, một năm 2 lần tôi đã phối kết
hợp với y tế Phường và y tế Thành phố tổ chức khám sức khoẻ định kì cho
các cháu. Trong mỗi đợt chuẩn bị kiểm tra sức khoẻ, tôi đều liên hệ với
Trạm y tế Phường thông báo thời gian kiểm tra, kế hoạch kiểm tra. Đặc biệt
với những trẻ suy dinh dưỡng, có sức khoẻ không tốt, chúng tôi đều mời
cha mẹ đến để nghe bác sỹ tư vấn và có những lời khuyên hay biện pháp
khắc phục tình trạng sa sút về sức khoẻ của con em mình. Sau mỗi lần
khám tôi tổng hợp kết quả và phiếu khám sức khoẻ được gửi lại cho phụ
huynh giúp phụ huynh nắm được tình hình bệnh tật của trẻ, kết hợp cùng
nhà trường, trạm y tế tìm nguyên nhân và cách giải quyết, điều trị kịp thời
nếu cháu bị mắc bệnh. Mỗi lần khám các cháu đều được y tế Phường trực
tiếp cho uống Vitamin A, B1, C và thuốc giun với điều kiện cháu chưa
uống thuốc giun ở nhà.
Việc khám sức khoẻ định kì cho các cháu được phụ huynh rất ủng hộ,
những cháu nghỉ học ở nhà cũng được gia đình đưa đến trường để khám.
3. Tiêm phòng cho trẻ
21
Tôi còn kết hợp với các bậc phụ huynh thực hiện tích cực các biện pháp
phòng bệnh theo mùa và tiêm phòng dịch cho trẻ như: Phối kết hợp với viện Vệ
sinh dịch tễ của Thành phố, Y tế phường tiêm và uống vắc xin phòng 6 bệnh
truyền nhiễm cho trẻ: Bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, lao, bại liệt, tiêm phòng
viêm não Nhật bản B, Viêm gan B, tổ chức uống vac-xin phòng tả …cho các
cháu. Kết hợp với sinh viên trường Đại học Kỹ thuật y tế TW I xét nghiệm
trứng giun cho trẻ.
Kết hợp với Y tế Phường và Y tế Thành phố khám sức khoẻ cho trẻ
Biện pháp 10: Công tác tuyên truyền, phối kết hợp với các bậc cha mẹ
Là một trong 3 nhiệm vụ (Theo quyết định số 55 ngày 3/2/1999) của
Bộ Trưởng Bộ Giáo dục là: “Chủ đng phối hợp với gia đình trẻ trong việc
được thực hiện thường xuyên tôi đã đề nghị nhà trường đưa vào tiêu chí thi
đua hàng tháng hoặc nêu những ý kiến nhận xét về góc tuyên truyền tạo nên
tính thi đua trong tập thể nhà trường.
23
Ảnh minh họa góc tuyên truyền của lớp
2. Tuyên truyền thông qua các hi thi
Hội thi vốn là sân chơi bổ ích và hấp dẫn, tổ chức tốt hội thi là cách
thức tuyên truyền công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ đạt hiệu quả
cao tới các bậc cha mẹ. Vì vậy hàng năm trường chúng tôi rất chú trọng đến
24
tổ chức các hội thi và đã thu hút được sự ủng hộ nhiệt tình của phụ huynh
học sinh.
+ Năm học: 2010 - 2011: Hội thi: “Bé với môi trường thân thiện”
+ Năm học: 2011 - 2012: “Liên hoan gia đình, nhà trường và sức
khỏe trẻ thơ”
Hội thi đã tạo được sự chuyển biến cao trong nhận thức của mọi
người về công tác chăm sóc nuôi dưỡng, về phòng chống suy dinh dưỡng
và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nó đem đến cho các bậc cha mẹ
và cộng đồng những thông tin cần thiết, những cẩm nang chăm sóc sức
khỏe cho trẻ một cách hiệu quả và khẳng định được vị trí, tầm quan trọng
của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
3. Tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng
Hàng quý trong năm tôi cùng các cô giáo trên nhóm lớp thường
cung cấp tư liệu về kết quả chăm sóc sức khoẻ của trẻ, những tấm
gương người tốt việc tốt nhờ đài phát thanh của phường viết và đọc bài
tuyên truyền.
Khuyến khích các bậc cha mẹ cùng tham gia viết bài với đề tài tự
chọn. Vì thế công tác tuyên truyền qua hệ thống thông tin chất lượng
ngày càng cao. Bên cạnh đó tôi còn tranh thủ các cơ hội khác để tuyên
truyền các kiến thức nuôi trẻ cho khoa học như thông qua các buổi họp