MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỮA ĂN CHO TRẺ
TRONG TRƯỜNG MẦM NON
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang bước vào thiên niên kỷ mới, kỷ nguyên của khoa học kỹ
thuật hiện đại, đòi hỏi những chủ nhân tương lai của đất nước phải có trí tuệ, có sức
khoẻ, có trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại. Chính vì vậy, việc chăm sóc giáo dục
trẻ từ những năm đầu tiên của cuộc đời là một việc làm vô cùng quan trọng trong
sự nghiệp chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành chủ nhân tương lai của
đất nước.
Trong những năm gần đây việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em đang được
Đảng, nhà nước và toàn dân rất quan tâm, điều này được thể hiện qua việc ban
hành luật bảo vệ chăm sóc trẻ em và ký công ước quốc tế về trẻ em.
Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là
tiền đề cho sự hình thành nhân cách của con người mới (con người phát triển
toàn diện). Lứa tuổi mầm non (từ 0 - 6 tuổi) là giai đoạn cơ thể trẻ phát triển
nhanh cả về thể chất lẫn tâm hồn. Các cơ quan của cơ thể đang hoàn thiện về
mặt chức năng. Đây cũng là giai đoạn hình thành thói quen, tập quán ăn uống là
giai đoạn hình thành nhaâ cách của trẻ đồng thời chuẩn bị cho trẻ tâm thế chuẩn
bị bước vào những năm đầu của trường phổ thông. Tình trạng sức khoẻ của trẻ ở
giai đoạn này có liên quan đến năng lực học tập và sự phát triển của trẻ sau này.
Nuôi dưỡng trẻ có khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể là
một công việc rất cần thiết. Vậy một vấn đề đặt ra làm thế nào để nâng cao chất
lượng bữa ăn để đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Với sự phát triển
của kinh tế xã hội, trẻ em được đến trường mầm non ngày càng đông. Như vậy
nhiệm vụ đặt ra cho các trường nói chung và trường mầm non Lê Lợi nói riêng
là phải làm thế nào để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ.
2. Mục đích nghiên cứu.
chuẩn bị
cho trẻ vào học trường phổ thông, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non.
II. THỰC TRẠNG
Trong những năm qua việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường đã
được quan tâm sát sao xong thực tế chất lượng bữa ăn của trẻ còn nhiều mặt
hạn chế như:
- Các món ăn của trẻ chưa được phong phú, chưa hấp dẫn đối với trệ.
- Các loại thực phẩm phối hợp chưa tốt nên chất lượng bữa ăn của trẻ
chưa cao.
- Thao tác chế biến của cô còn lúng túng, chưa nhịp nhàng, chưa thuần
thục dẫn đến giờ ăn của trẻ còn muộn.
- Tiếp phẩm chưa chủ động, chưa linh hoạt nên việc lựa chọn và thay
thế thực phẩm còn hạn chế.
- Các điều kiện phục vụ vệ sinh và chế biến chưa đồng bộ nên ảnh
hưởng đến hiệu quá công việc chưa cao.
l.Thuận lợi
- Bản thân có trình độ chuyên môn về nuôi dưỡng , nhiệt tình nhanh
nhẹn trong công việc.
- Số trẻ ăn ngủ tại trường 100%
- Bếp ăn tập trung ở một khu, có đủ trang thiết bị, nguồn nước sạch
VD: Nghiên cứu qua công việc hàng ngày như lựa chọn thực phẩm tươi ngon bằng cách
sờ, nắn, ngửi (chọn cá: cá còn bơi, bụng thon, mắt sáng, vảy còn bám chặt vào thân. Chọn
thịt: màu sắc hồng sáng tự nhiên, sự đàn hồi tốt. Chọn rau: rau không dập nát, héo úa,
không có mùi lạ).
VD: Cách chế biến thực đơn là Thịt + Đậu tôi thấy định lượng chia ăn theo khẩu phần thì
nhiều nhung trẻ chán ăn mà tỉ lệ chất dinh dưỡng không cân đối, đạm thực vật cao hơn
đạm động vật nên tôi đã thay đổi bằng Thịt+ Tôm + Đậu đưa tôm kết hợp vào vừa tạo
màu sắc, mùi vị hấp dẫn thu hút trẻ ăn ngon miệng hơn và cân đối được tỉ lệ dinh dưỡng
giữa đạm động vật và thực vật.
Bên cạnh việc nghiên cứu chuyên san, tài liệu, sách báo tôi còn tự học qua
thực tế, qua đồng nghiệp trong các hội thi “Cô nuôi giỏi” các cấp, thi nữ công
gia chánh 8/3 do trường, do ngành tổ chức.
Tích cực theo học các lớp bồi dưỡng hàng năm do ngành tổ chức, tham
gia lớp học tại chức để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân.
Dựa vào những kiến thức đã học cũng như kinh nghiệm trong thực tế giúp
tôi xây dựng một thực đơn hợp lý phù hợp với từng độ tuổi.
*Biên pháp 2: Xây dựng, thực hiện khẩu phần thực đơn theo mùa phù hợp với tre.
Việc xây dựng, thực hiện thực đơn cho trẻ là một biện pháp mang tính
khoa học nhằm phân phối hợp lý tiền ăn của trẻ, tránh sự chi tiêu không hợp lý
giảm tối đa sự thâm thừa tiền ăn trong ngày, giúp cho người tiếp phẩm khai thác
được đa dạng các loại thực phẩm chế biến các món ăn, làm cho bữa ãn của trẻ
thêm phong phú. không lặp lại, không đơn điệu. Như vậy trẻ ăn không chán và
tạo cho trẻ cơ hội được thướng thức nhiều món ăn từ nhiều loại thực phấm khác
nhau. Để có thực đơn đa dạng, phong phú đảm bảo dinh dưỡng, phù hợp với
mức đóng góp của phụ huynh.
Xây dựng, thực hiện khẩu phần thực đơn theo mùa phù hợp với trẻ là rất
quan trọng nó giúp cho tiếp phẩm chủ động trong việc lựa chọn, thay thế thực
phẩm sẵn có của địa phương một cách dễ dàng, thuận lợi. Phối hợp được các
VD : THỰC ĐƠN 1 TUẦN ( MÙA ĐÔNG)
Thời gian Thứ2
Thứ 3
Thứ 4
Thứ 5
Thứ 6
Đậu+ Thịt + Tôm rim cà Cá + Thịt sốt Tôm + Thịt Trứng + Thịt Ruốc Lạc +
Canh cua Sáng mồng tơi, bí cà chua Canh rim cà Canh rim cà Canh
xanh
thịt cải cúc, tôm rau cải,
Ăn
cà rốt, xu xu
bí xanh
Hoa quả
Uống sữa
sườn khoai
canh cua
canh thịt
Ăn chiều (NT)
canh tôm
Khi đã xây dựng được thực đơn đảm bảo chất lượng bữa ăn thì việc tìm
nguồn thực phẩm sạch cũng rất cần thiết.
* Biên pháp 3 : Khai thác nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương để hợp đồng cam
kết cho bếp ăn.
Thực phẩm hiện nay là một vấn đề bức xúc nhất trong toàn xã hội do sự
kiểm soát của các cơ quan có chức năng chưa chặt chẽ và người nuôi trồng,
tăng gia chưa nhận thức đúng đắn hoặc coi thường về tác hại của việc dùng các
loại thuốc kích thích, tăng trọng nên thực phẩm kém chất lượng còn chứa lượng
hóa chất độc hại cao tràn nan trên thị trường, mắt thường khó phát hiện mà chỉ
khi nấu lên hoặc xảy ra ngộ độc mới biết nên việc lựa chọn thực phẩm sạch thật
khó khăn. Để giải quyết khó khặn đó tôi đã tham mưu với BGH nhà trường tìm
cách giải quyết bằng cách:
- Khai thác nguồn thực phẩm ngay trong đội ngũ giáo viên, phụ huynh
học sinh.
- Tận dụng đất vườn trồng rau sạch vào những ngày nghỉ, giờ nghỉ để
phục vụ cho các cháu tại trường mà cũng tăng thêm thu nhập cho chị em.
- Vận động, tuyên truyền trao đổi với phụ huynh và gia đình giáo viên
VD : Món canh củ quả : thái vuông con cờ có màu đỏ của cà rốt, màu xanh của bí, màu
vàng của khoai tây.
Mùi vị của thức ăn cũng hết sức quan trọng bởi nó kích thích giác quan tạo
cảm giác thèm ăn ở trẻ . Vì thế tôi chú trọng chế biến các món ăn phù hợp với
từng loại gia vị phù hợp.
VD : Canh bí xanh, bí đỏ thì cho mùi tàu, Lươn ốc thì lá tía tô, tiêu bắc....
Khi chế biến cần nắm vững nguyên tắc các nhóm thực phẩm khi phối hợp
không gây phản ứng và làm mất chất dinh dưỡng của nhau
VD : Gan lợn không nấu với giá đỗ bởi 2 loại thực phẩm này kết hợp với nhau sẽ làm
mất VTMC trong giá đỗ.
Sữa đậu nành với trứng gà ăn cùng nhau sẽ ảnh hưởng không tốt đến tiêu hóa.
Bên cạnh việc kết hợp nhóm thực phẩm gây phản ứng tôi còn quan tâm đến
việc phối hợp thực phẩm có lợi bổ sung cho sự hấp thụ trong cơ thể.
VD : Nấu xôi gấc một điều quan trọng là cho thêm dầu mỡ và đường giúp cho hấp thụ
tối đa lượng VitaminA trong gấc và còn giúp cho phòng tránh bệnh khô mắt.
Ngoài việc xây dựng thực đơn hợp lý cũng như phối kết hợp và chế biến món
ăn phù hợp với trẻ thì việc quản lý chặt chẽ thực phẩm, khẩu phần ăn của trẻ là
một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết hiện nay trong các trường mầm
non.
* Biên pháp 5 : Quản lý chặt chẽ lượng lương thực, thực phẩm trong bếp ăn
Để nâng cao chất lượng bữa ăn của trẻ và tránh thất thoát định lượng
khẩu phần ăn của trẻ trong bếp ăn là điều hết sức cần thiết. Muốn làm được tốt
việc này tôi đã thành lập hệ thống hồ sơ sổ sách bếp ăn cụ thể theo đúng quy
định. Hàng ngày lương thực, thực phẩm được giao nhận tay ba, có ký giao ký
bữa ăn cho trẻ
IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Sau khi thực hiện các biện pháp cho bữa ăn của trẻ tôi thấy chất lượng
bữa ãn được nâng lên rõ rệt và thu được kết quả như sau:
Các nội dung
Tiếp phẩm
Trước khi thực hiện
Sau khi thực hiện biện
biện pháp
pháp
Còn lúng túng trong việc Đã chủ động trong tiếp
lựa chọn và thay thế thực phẩm và lựa chọn, thay
phẩm
Thực đơn
thế thực phẩmhàng ngày
cho bếp ăn
- Xây dựng khẩu phần - Xây dựng được thực
thực đơn chưa phù hợp
đơn hợp lý theo tuần,
- Chưa biết phối kết hợp
phong phú đa dạng sẵn
có tại địa phương theo
Khẩu phần ăn của trẻ
- Tỉ lệ giữa các chất
đúng thực đơn
- Cân đối giữa các chất
chưa cân đối
( cân đối giữa đạm ĐV
- Lượng Calo cung cấp
và đạm TV)
cho trẻ trong ngày còn
- Cung cấp đủ lượng
thấp
Calo cho trẻ từ 650700Calo / trẻ /ngày
Chế biến món ăn và định
Thao tác còn lúng túng,
bình thường là 83%
- Trẻ kênh phát triển
- Kênh nguy cơ dưới
bình thường là 93,5%
mức độ 1 là 14%
tăng 10,5%
- Kênh nguy cơ dưới
- Trẻ ở nguy cơ dưới
Sức khoẻ của trẻ
cảm
tính
mức độ 2 là 3%
mức độ 1 là 6,5% giảm
7,5% và không còn trẻ ở
kênh nguy cơ dưới mức
không thay đổi cách chế
món ăn, phối hợp thực
biến và khẩu vị ăn cho
phẩm cũng như gia vị tạo
trẻ, định lượng chia ăn
cảm giác thèm ãn ở trẻ
còn chia theo cảm tính
thu hút trẻ ăn ngon
không chính xác.
miệng ăn hết xuất.
PHẦN III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua quá trình thực hiện, áp dụng các biện pháp trên để nâng cao chất lượng
bữa ăn tôi đã thu được rất nhiều điều bổ ích và đúc rút được một số kinh
nghiệm như sau:
Muốn nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non thì trước
tiên bản thân phải nhận thức đúng đắn và có hiểu biết, có irình độ về chăm sóc
nuôi dưỡng trẻvà đặc biệt là kiến thức chế biến nấu ăn cho trẻ
Để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ phải xây dựng và thực hiện khẩu phần
thực đơn hàng ngày một cách hợp lý, phù hợp theo mùa và biết tận dụng nguồn