2.1. KIỂU KẾT CẤU BỐN GIAI ĐOẠN NHƯ LÀ ĐẶC TRƯNG CỦA LOẠI TIỂU
TRUYỆN THIỀN SƯ
2.1.1. Về khái niệm “tiểu truyện thiền sư”
Hiện nay, khái niệm “tiểu truyện thiền sư” đang ngày càng trở nên quen thuộc
và được vận dụng rộng rãi.
Theo định nghĩa của Nguyễn Hữu Sơn, “khái niệm “tiểu truyện thiền sư” là sự
chuẩn hóa hơn nữa cách gọi “truyện thiền sư” nhằm để chỉ loại truyện thiền
sư được viết theo nguyên tắc tiểu sử. Ở đây, bản thân chữ “tiểu truyện” không
nhằm vào sự liên hệ, so sánh mức độ với các chữ “đại”, “đoản thiên”, “trường
thiên tiểu thuyết” chẳng hạn, mà chủ yếu bao hàm ý nghĩa là tiểu sử, truyện
tiểu sử, tiểu sử thiền sư, Phật tích … ” [56, tr.32].
Như vậy, theo định nghĩa này thì các cách gọi khác nhau của cùng một kiểu
truyện ghi chép tiểu sử của các thiền sư trước đây vẫn dùng như “truyện
thiền sư”, “truyện các nhà sư”, “sự tích thiền sư”, “ghi chép về các thiền sư”,
“truyện kể thiền sư”, “hành trạng thiền sư”, “cuộc đời thiền sư” … đều thống
nhất là một và được gọi chung là “tiểu truyện thiền sư”. Các sách như Nam
tông tự pháp đồ (thiền sư Thường Chiếu, hiện không còn), Thiền uyển tập
anh, Thánh đăng lục, Tam tổ thực lục… đều được xem là thuộc loại “tiểu
truyện thiền sư”.
Khái niệm “tiểu truyện thiền sư” chúng tôi dùng ở đây cùng thống nhất cách
hiểu như trên.
2.1.2. Kết cấu chung của ba truyện tổ
Một trong những đặc trưng cơ bản của các tiểu truyện thiền sư là cốt truyện
được kết cấu theo bốn giai đoạn: sự ra đời thần kì, quá trình giác ngộ, công
tích hành đạo - giáo hóa và qui tịch (riêng Nguyễn Hữu Sơn trong Loại hình
tác phẩm “Thiền uyển tập anh” chia làm ba giai đoạn: khi sinh, quá trình
hành đạo và sự trở về cõi Phật [56]). Tuy nhiên, trong mỗi tiểu truyện cụ thể,
có thể khuyết đi một trong số những giai đoạn đó. Tam tổ thực lục, mặc dù
không có sự thống nhất về nguồn gốc văn bản ở các tiểu truyện như đã trình
bày, dẫn đến sự cách biệt khá xa về bút pháp biên lục nhưng đều thống nhất
nhau ở phương thức kết cấu cốt truyện này.
giao cho kiếm thần, bà vui mừng ôm vào lòng, đến khi thức giấc, bà biết có
thai” [57, tr.37].
Về Huyền Quang cũng thế:
Mẹ tổ là Lê Thị, vốn là người đàn bà hiền đức, chiều chuộng chồng con, kính
thờ cha mẹ chồng. Năm 30 tuổi mà chưa có con trai nối dõi, nên thường đến
cầu nguyện tại chùa Ngọc Hoàng. Chùa này cầu nguyện thường được linh
ứng. Đời vua Thánh Tông (1258 – 1278), đất nước mất mùa, nhân dân bị
bệnh dịch. Một hôm, Lê Thị đến núi Chu Sơn hái thuốc, vừa tới chùa Ma Cô
Tiên thì gặp lúc trời hè nắng gắt, bà liền nghỉ dưới bóng chùa. Gió đông phe
phẩy, nhật gác non tây, chợp mắt mơ màng, bà bỗng thấy một con khỉ lớn,
đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào
lòng bà. Lê Thị kinh hãi thức giấc, thấy lòng rung động, trở về thuật lại với
một vị tôn túc. Vị này bảo: “Trong núi ấy có động Thân Dương, đã làm cho
tinh anh của loài khỉ kia không tan biến, nên có điềm mộng ấy, chớ lấy làm
lạ”. Nhân đó, ông suy đoán: ném mặt trời vào bụng là điềm Lê Thị sẽ có thai.
Năm sau, thuộc năm Giáp Dần vào ngày đầu năm, thầy trụ trì chùa Ngọc
Hoàng là thiền sư Tuệ Nghĩa, sau khi lên chùa tụng kinh trở về liêu phòng,
tựa ghế thiền định, ông bỗng mơ thấy các tòa trong chùa đèn chong sáng rực,
chư Phật tôn nghiêm, kim cang long thần la liệt đông đúc. Đức Phật chỉ tôn
giả A-nan bảo: “Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông đô, và phải nhớ duyên
xưa”. Bỗng tiểu đồng từ ngoài vào gõ cửa, Tuệ Nghĩa chợt tỉnh, liền ngâm kệ
rằng:
“Người đời học đạo khá xa xăm!
Tâm tức Phật chừ, Phật tức tâm.
Trí tuệ cát tường gây ảnh hưởng,
Kiếp này ắt gặp bạn tri âm”.
Rồi thiền sư viết bài kệ ấy lên vách [57, tr.77-79].
Cách lí giải về sự ra đời của các thiền sư dựa trên một điềm mộng không phải
ngẫu nhiên mà xuất phát từ một truyền thống Phật giáo và có liên quan mật
thiết đến giai thoại về sự ra đời của chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni (về giấc
tôn giả. Trong những Phật tích, hiện tượng Bồ-tát hoặc tôn giả thác sinh qua
nhiều kiếp sống để dẫn dắt chúng sinh là rất phổ biến. Đơn cử trường hợp sự
ra đời của Thích Ca, kinh điển Phật giáo cho rằng Thích Ca (Siddhartha
Gautama) là kiếp thác sinh của đại Bồ-tát Hộ Minh (Vessantara). Giấc mộng
của thiền sư Tuệ Nghĩa dường như không có ý nghĩa tượng trưng. Nó là một
điềm báo rõ ràng, có lẽ do ông là người tu hành lục căn thanh tịnh, thân tâm
định tuệ, không có tạp niệm nên điềm báo được sáng rõ.
Thông qua những giấc mộng, nguyên nhân sự ra đời của các vị tổ đã được
bao bọc trong một lớp màng kì ảo. Quá trình hoài thai do đó mà trở nên
thanh khiết và thoát tục. Đó được xem như là bước chuẩn bị cho sự khai sinh
của những nhân vật có ý nghĩa quan trọng của một thiền phái Phật giáo.
Những nhân vật này được gọi là “pháp khí”, tức những người có tư chất đặc
biệt có thể tu hành và đạt thành chính giác.
Khi so sánh với một số tiểu truyện thiền sư Ấn Độ, Trung Hoa trong Sử 33 vị
tổ thiền tông Ấn - Hoa, Thiền sư Trung Hoa (3 tập) (cùng do Thích Thanh Từ
soạn dịch từ các bộ Cảnh Đức truyền đăng lục, Truyền pháp chánh tông kí,
Cao tăng truyện, Phật tổ thống tải, Chỉ nguyệt lục) và Thiền uyển tập anh (do
Lê Mạnh Thát dịch) thì thấy có nhiều điểm tương đồng khi nói về sự ra đời kì
diệu của các thiền sư. Điều này cho phép khẳng định hơn nữa mối tương quan
giữa các truyện Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang trong Tam tổ thực
lục với các tác phẩm thuộc cùng loại hình và với truyền thống văn hóa Phật
giáo.
Ứng với giấc mộng được kiếm thần của Nguyên Thánh Hoàng thái hậu (mẹ
Trần Nhân Tông) và bà Vũ Thị (mẹ Pháp Loa) là các chi tiết có trong tiểu
truyện về tổ Bà Xứ Tư Đa (Basiasita): “Ngài dòng Bà-la-môn, người nước Kế
Tân, cha hiệu Tịch Hạnh, mẹ tên Thường An Lạc. Một hôm, bà Thường An Lạc
mộng thấy lượm được cây kiếm thần, sau đó có thai ngài” [76, tr.119]. Tiểu
truyện thiền sư Chân Không (1046 – 1100) trong Thiền uyển tập anh cũng có
chi tiết tương tự: “Khi mẹ (sư) mang thai, cha mộng thấy một tăng sĩ trao cho
tích trượng, nhân đó có được sư” [64, tr.141]. Ở đây, nên hiểu hình ảnh thanh
thân, nhân đó biết có thai. Đến khi sư ra đời, có nhiều điềm lạ” [73, tr.382];
tiểu truyện thiền sư Nghĩa Hoài: “Sư họ Trần, quê ở Lạc Thanh Vĩnh Gia, ông
cha chuyên nghề chài lưới. Mẹ nằm mộng thấy ngôi sao rơi trong nhà liền có
thai sư. Khi sư sinh ra có nhiều điềm lạ” [73, tr.422]; tiểu truyện thiền sư Pháp
Tú (? – 1090): “Sư họ Tân, quê ở Thành Lũng Tần Châu, mẹ mộng thấy ông sư
già đến ngủ nhờ, tỉnh mộng liền biết có thai” [73, tr.485]; tiểu truyện thiền sư
Chánh Giác (1069 – 1135):
Sư họ Lý, quê ở Thấp Châu, mẹ sư mộng thấy một vị tăng ở Ngũ Đài cởi chiếc
vòng mang vào cánh tay mặt bà. Sau đó, bà thọ thai sư. Trong lúc mang thai,
bà gìn giữ trai giới cẩn thận. Sư sinh ra, cánh tay mặt nổi quầng giống chiếc
vòng. Ông nội và cha sư tham thiền với Phật Đà Tôn đã lâu. Phật Đà chỉ sư nói
với cha sư rằng: Đứa bé này đạo vận rất tốt, chẳng phải là người ở trong trần
ai. Nếu xuất gia ắt làm pháp khí” [74, tr.57]…
Có thể thấy rằng việc lí giải sự ra đời của các vị tổ bằng điềm mộng là một mô
thức phổ biến và mang tính kế thừa trong các tiểu truyện thiền sư, ngoài thực
hiện chức năng tôn giáo còn thể hiện bản chất văn học với tư cách là một yếu
tố mang tính loại hình và tính hư cấu nghệ thuật trong tác động qua lại với
bộ phận truyện dân gian như sẽ trình bày ở phần sau của luận văn.
Đứa hài đồng kì lạ …
Một điểm chung đặc biệt nữa trong các tiểu truyện về ba vị tổ thiền phái Trúc
Lâm đó là khi các vị còn là một thai nhi nằm trong bụng mẹ đã được một thế
lực siêu nhiên phù trợ, đến khi sinh ra lại mang nhiều tướng tốt, đi kèm theo
đó là một số hiện tượng lạ.
Về quá trình thai sinh của các vị tổ, sách Tam tổ thực lục viết về Trần Nhân
Tông: “Những tháng dưỡng thai, thái hậu chẳng cần kiêng cữ, nhà bếp dâng
thức gì thái hậu cứ dùng như thường mà thai cũng chẳng sao, nên thái hậu
biết có nơi che chở” [57, tr.17]. Lại nói về Pháp Loa: “Trước đó, mẹ sư đã sinh
liên tiếp tám người con gái; vì sinh quá nhiều con gái, bà đâm ra chán ngán,
nên khi có thai sư, bà âm thầm tìm thuốc công hiệu uống để phá thai, nhưng
uống đến bốn lần mà thai vẫn còn nguyên. Do thế, khi sinh ra sư, bà vô cùng
niềm linh dị. Đi sâu hơn, cách miêu tả những đứa trẻ đặc biệt này với những
đặc điểm kì lạ như “màu da như vàng ròng”, “mùi hương thơm phức”, “có tia
sáng mờ ảo” không phải là cách miêu tả tùy tiện mà có cơ sở của nó. Đó là
cách miêu tả theo 32 tướng tốt (lakkhana) và 80 vẻ đẹp (anuvyanjana) của
Phật Thích Ca, thể hiện một bậc đại nhân, đại quí. Trong đó có hai đặc điểm
thuộc 32 tướng tốt là “sắc thân sáng như vàng ròng”, “hào quang tỏa chung
quanh một trượng” và một đặc điểm thuộc 80 vẻ đẹp là “lỗ chân lông tỏa
hương” hoặc “miệng thoảng hương thơm, chúng sinh ngửi được vui suốt cả
ngày” [57, tr.92-95].
Tuy rằng các vị tổ không được miêu tả với đầy đủ những đặc điểm thuộc các
tướng trên, nhưng phần nào, cách miêu tả ấy cũng có một giá trị tượng trưng
về nguồn gốc siêu phàm của họ. Những đặc điểm xác thân ấy có giá trị tiên tri
về tương lai, về nguyên do cao thượng mà họ thác sinh vào cõi tục này. Khi
xem tướng cho ấu đồng Tất Đạt Đa, các vị Bà-la-môn đã khẳng định ngài sẽ
trở thành bậc vĩ nhân cao quí của nhân loại, thành vị Chuyển luân thánh
vương cai trị bốn châu thiên hạ. Nốt ruồi đen như hạt đậu lớn trên vai phải
của vua Trần Nhân Tông cũng tiên báo ông là người “ngày sau có thể gánh
vác việc lớn”.
Tóm lại, thông qua việc miêu tả các vị tổ qua hình ảnh đứa hài đồng kì lạ, các
tác giả Tam tổ thực lục một lần nữa lại nêu lên một xác tín rằng Trần Nhân
Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là kiếp thác sinh của những nhân vật thần kì
Phật giáo, mang một trong những đặc điểm nhân dạng tương tự như đức
Phật và các vị tôn giả, A-la-hán. So sánh với một số tiểu truyện thiền sư khác,
lại thấy có nhiều điểm tương đồng đáng ghi nhận như trong tiểu truyện về tổ
Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa) của Ấn Độ: “Thuở bé, ngài dung nghi trang
nhã, toàn thân màu vàng, ánh sáng chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng ngài
nói: “Đứa bé này đời trước có phước đức phù thắng, lẽ ưng xuất gia” [76,
tr.7]. Trong các tiểu truyện thiền sư Trung Hoa, việc các nhà sư sinh ra gắn
với điềm lạ cũng rất phổ biến như tiểu truyện về Tổ Huệ Khả (494 – 601): “Sư
họ Cơ, quê ở Võ Lao, dòng tôn thất nhà Chu. Cha mẹ sư lớn tuổi không con,
đường đến với Phật pháp của ba vị tổ bằng một quá trình dài của những cơ
duyên để cuối cùng dẫn đến sự giác ngộ hoàn toàn. Các nhân vật thiền sư
Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đều được khắc họa là những con
người có thiên tư sáng suốt, có khả năng giác ngộ rất cao và đặc biệt là có
một mối duyên màu nhiệm với Phật giáo.
Thiên tư là tư chất con người có sẵn khi sinh ra, không phải qua quá trình
học tập, trau dồi hay tôi luyện. Người xưa có cách nói nôm na là những đặc
tính “trời phú”. Các nhân vật Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được
mô tả tuy có mờ nhạt khác nhau chút ít về điểm này hoặc điểm khác nhưng
vẫn có được những tương đồng cơ bản.
Trần Nhân Tông được Tam tổ thực lục miêu tả là người có bẩm tính thông
minh hiếm có: “Điều Ngự thánh tánh (tính) sáng suốt, đa tài, hiếu học, đọc
khắp sách vở, thông hiểu cả nội và ngoại điển” [57, tr.19]. Về phần Pháp Loa:
“Lúc còn bé, sư đã có thiên tư đĩnh ngộ, không nói lời ác, không ăn chất cay
nồng và thịt cá” [57, tr.37]. Về điểm này, Huyền Quang được mô tả tương đối
tỉ mĩ hơn: “Đến tuổi đồng ấu, thể mạo tổ dị thường, có chí của bậc trác việt vĩ
nhân, cha mẹ hết lòng yêu thương dạy cho học nghề. Tổ nghe một hiểu mười,
có tài như Nhan Hồi Á Thánh, nên được gọi là Tải Đạo” [57, tr.79]; “Năm 20
tuổi, tổ dự khoa thi Hương và đỗ đạt. Vì (triều đình) chọn người đều dùng
những bậc đại khoa, nên tổ phải đợi đến khoa thi lớn năm sau (…) kết quả tổ
đậu được thủ khoa” [57, tr.79]; “Được bổ vào chức quan Hàn lâm, tổ phụng
mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, văn thư qua lại, trích dẫn kinh nghĩa, ứng đối
lưu loát. Văn chương ngôn ngữ hơn cả Trung Quốc và các nước lân bang”
[57, tr.80]; “Tổ đọc nhiều, học rộng, tinh thông Phật pháp” [57, tr.81]; được
Trần Nhân Tông đích thân khen ngợi: “phàm sách đã qua tay Huyền Quang
biên soạn thì không thể thêm hay bớt một chữ nào nữa” [57, tr.81]. Đó là
những phẩm chất cần có của những bậc đại giác. Trí là nền tảng cơ bản, là
phương tiện để đưa đến ngộ. Trí không đơn thuần là tri thức mà là khả năng
lĩnh hội tri thức. Câu chuyện về lục tổ Huệ Năng là một ví dụ.
Cách miêu tả ba vị tổ gắn liền với những đặc điểm trí năng một lần nữa gợi
phải nhìn thấy những cảnh đen tối của nhân gian. Ấy vậy mà, do sự dẫn dắt
của các thế lực siêu nhiên, Tất Đạt Đa thấy được bốn nỗi khổ không thể
cưỡng lại được của con người là sinh, già, bệnh, chết (sinh, lão, bệnh, tử), rồi
trốn đi trong một đêm khi mà người vợ vừa sinh đứa con trai được bảy ngày.
Những điểm tương quan này làm nên nét độc đáo của Trần Nhân Tông. Cuộc
đời của Phật Thích Ca được kể lại với đầy những chi tiết huyền thoại như lời
kêu gọi, sự thần thông biến hóa của chư thiên, những cõi trời xa lạ…. Cuộc đời
của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông được miêu tả gần gũi hơn, thật
hơn. Những chi tiết hoang đường chỉ là những giấc mộng và đã là giấc mộng
thì hoang đường hay không lại không phải là vấn đề nữa. Theo cách nhìn của
tác giả tiểu truyện Trúc Lâm sơ tổ cũng như quan niệm của các tín đồ thiền
phái Trúc Lâm thì Trần Nhân Tông chính là kiếp thác sinh của Phật Thích Ca.
Tiểu truyện Trần Nhân Tông trong Tam tổ thực lục có đoạn:
Khi lên ngôi, tuy ở chốn cửu trùng cao sang mà vua vẫn sống thanh tịnh. Vua
thường ngủ trưa ở chùa Tư Phúc trong đại nội, một hôm thấy trên rún (rốn)
trổ một hoa sen vàng lớn như bánh xe, trên hoa có Phật vàng. Có người đứng
bên cạnh chỉ Điều Ngự hỏi: “Biết vị Phật này không? Đức Biến Chiếu Tôn đấy”
[57, tr.19].
Quả thực đây là giấc mơ có nhiều hình ảnh tượng trưng, yêu cầu phải được
giải thích bằng thứ tư duy hình tượng của Phật giáo. Dễ thấy giấc mơ này có
điểm tương tự như một trong năm giấc mơ điềm báo của Thích Ca trước
ngày thành đạo dưới gốc bồ đề, có ghi lại trong kinh Tăng chi bộ, đó là ngài
mộng thấy từ rốn mình mọc ra một loại cỏ vươn cao mấy tầng mây. Rốn là
con đường sinh. Trần Nhân Tông và Thích Ca đều mơ thấy từ rốn mình mọc
ra một loại cây, ấy là tượng trưng cho việc chính từ các ngài sẽ sản sinh ra
nghiệp lạ. Điềm báo của Thích Ca nói lên việc ngài tìm thấy con đường giải
thoát qua bát chính đạo và đem giáo hóa khắp nhân thiên. Trần Nhân Tông
mộng thấy từ rốn mình mọc lên một đóa sen vàng lớn như bánh xe. Đóa sen
này tượng trưng cho bánh xe pháp (pháp luân). Bánh xe pháp nếu có mười
hai nan hoa thì tượng trưng cho thập nhị nhân duyên, nếu có tám nan hoa thì
ngày hạ, há nên lưu luyến mãi!”. Nhân đó, dâng biểu đến ba lần xin từ chức để
xuất gia học đạo tu hành [57, tr.80].
Vua Trần Anh Tông từng có lời khen ông: “Tướng người này có đạo nhãn, có
thể là bậc pháp khí, bậc thánh tăng chân chánh (chính) vậy” [57, tr.80-81].
Khoảnh khắc và nhân duyên giác ngộ của Trần Nhân Tông, Pháp Loa và
Huyền Quang đều được giải thích như là kết quả của lòng mộ Phật. Khoảnh
khắc giác ngộ còn được gọi là “hoát nhiên khế hội”, “phát minh tâm địa”, “đốn
ngộ”, “đại ngộ”, “tỉnh ngộ” … theo các cách diễn đạt khác nhau trong các tiểu
truyện thiền sư. Truyện Trần Nhân Tông không thấy nói đến khoảnh khắc này
mà chỉ có chi tiết “lúc rảnh việc nước, vua mời các khách Thiền đến giảng dạy
tâm tông, lại tham vấn Tuệ Trung Thượng sĩ nhờ thế đạt được cốt tủy của
thiền, nên thờ Tuệ Trung theo lễ của bậc thầy” [57, tr.19].
Việc giác ngộ của Pháp Loa được ghi lại:
Điều Ngự thế phát, trao man y cho sư, rồi bảo đến Quỳnh Lâm học với hòa
thượng Tính Giác. Sư thưa hỏi trăm điều mà Tính Giác rốt cục vẫn chưa thể
khai thị cho sư, nên sư tìm đọc kinh Hải nhãn (kinh Lăng nghiêm), đến đoạn
“Bảy lần gạn hỏi tâm, cuối cùng đến ví dụ khách trần”, sư suy nghĩ giây lâu,
bỗng được thể nhập.
Một ngày kia, từ bên hòa thượng Tính Giác trở về để tham vấn Điều Ngự, vừa
được lúc Điều Ngự thượng đường đọc bài tụng Thái dương ô kê, sư liền tỉnh
ngộ [57, tr.38-39].
Một lần khác: “Một đêm nọ, nhân trình ba bài tụng cốt yếu, đều bị Điều Ngự
sổ toẹt, sư thưa hỏi đến bốn lần mà Điều Ngự vẫn bảo phải tự tham cứu lấy.
Trở về phòng, tâm thần rất xao xuyến, đến nửa đêm, nhân thấy hoa đèn rơi,
sư bỗng nhiên đại ngộ” [57, tr.39].
Ở thiền sư Huyền Quang, khoảnh khắc giác ngộ của ông cũng chính là lúc
chứng kiến Pháp Loa hành đạo ở chùa Vĩnh Nghiêm mà nhớ lại duyên cũ, đi
đến quyết định từ bỏ quan trường, chuyên tâm theo Phật.
Tính phổ biến của việc kể lại quá trình giác ngộ trong các tiểu truyện thiền sư
là rất lớn. Xin nêu ra đây hai ví dụ tiêu biểu trong các tiểu truyện về thiền sư
Rồi đem sư cùng đến tham vấn Mã Tổ. Đi tới Giang Tây thì Mã Tổ tịch, bèn
đến yết kiến thiền sư Bách Trượng Hoài Hải.
Bấy giờ có vị tăng hỏi: “Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?”
Bách Trượng đáp:
“Đất lòng nếu không,
Trời tuệ tự chiếu.”
Nghe xong, sư tỉnh ngộ [64, tr.11].
Như vậy, có thể thấy rằng “giác ngộ” ở đây không chỉ là sự biết mà là một
trạng thái bừng vỡ chân lí, thấu triệt hoàn toàn tinh thần của thiền, vứt bỏ
hết mọi tạp niệm, vô minh, không còn vọng động và bất cứ sự câu nệ nào vào
các pháp tướng … và đương nhiên, chỉ có những thiền sư đắc đạo mới đạt
được một trạng thái tinh thần như vậy. Đó cũng là lí do vì sao Tam tổ thực lục
cũng như nhiều tiểu truyện thiền sư ở những công trình khác nhất thiết phải
dựng lại cuộc đời của các thiền sư gắn với quá trình giác ngộ của các vị.
2.1.2.3. Công tích hành đạo – giáo hóa
Công tích hành đạo – giáo hóa được xem là một phần quan trọng trong kết
cấu của các tiểu truyện thiền sư, và thiết nghĩ, đó là mục đích biên soạn của
những bản “thực lục”, nhằm ghi nhớ công lao hoằng hóa và xiển dương Phật
giáo của các vị, được biểu hiện trên hai khía cạnh: về vật chất và về tinh thần.
Ở khía cạnh thứ nhất, tức ghi lại công tích của các vị về mặt phát triển giáo
hội qua những việc làm cụ thể như xây dựng chùa chiền, đúc tượng, sao in
kinh điển, độ tăng ni, phát triển tăng đoàn …, Tam tổ thực lục tỏ ra trung
thành với lối biên niên phổ biến trong các công trình ghi chép lịch sử. Tính
chính xác về sự kiện, nhân vật, thời gian được đề cao và kèm theo đó là sự
giảm sút của giá trị văn học.
Ở khía cạnh thứ hai, tức ghi lại tư tưởng của các thiền sư, vai trò của các vị
trong việc giáo hóa, giác ngộ tăng chúng, Phật tử, cách ghi chép của các tiểu
truyện thiền sư trong Tam tổ thực lục chủ yếu là những đoạn đối thoại, hỏi
đáp về Phật – pháp – tăng, về quá khứ - hiện tại – vị lai, về công án – giáo
điển, về nhân quả - hóa thân kèm theo đó là một số bài kệ theo kiểu ngữ lục
Bảo Sát hỏi: “Nếu như không sanh, không diệt thì sao?” Điều Ngự đưa tay
bụm miệng Bảo Sát, nói: “Chớ nói mê”. Nói xong, liền nằm theo thế sư tử, an
nhiên viên tịch [57, tr.33].
Về quá trình qui tịch của Pháp Loa:
Ngày 19, vào lúc ban đêm, bệnh trở nặng, sư đem cà sa và tâm kệ của Điều
Ngự truyền lại giao cho Huyền Quang, bảo phải giữ gìn. Lại viết kệ giao cho
Cảnh Ngung, Cảnh Huy, Vô Tế …, các đệ tử lớn. Môn đồ, kẻ trước người sau,
ngày ngày vào xin kệ, sư đều viết giao cho tất cả, lại trả lời những câu hỏi của
họ không biết mỏi mệt [57, tr.56].
*
Đến giờ Hợi trong đêm, bệnh nguy kịch, Huyền Quang vào thăm hỏi: “Xưa nay
những người sắp lâm chung thì buông đi tốt hay giữ lại tốt?”
Sư đáp: “Đi hay ở đều chẳng liên can gì cả”.
Huyền Quang hỏi: “Chẳng liên can gì cả là thế nào?”
Sư đáp: “Tùy xứ tát-bà-ha”
Các môn đồ vào thưa: “Người xưa khi lâm chung đều có kệ dạy, vì sao thầy
không có?”
Sư quở trách họ; giây lâu bèn ngồi dậy, bảo đem bút đến, viết lớn bài kệ:
“Muôn duyên cắt đứt, tấm thân nhàn
Hơn bốn mươi năm cõi mộng tàn
Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa
Bên kia trăng gió mặc thêng thang”
rồi quăng bút, an nhiên viên tịch [57, tr.56-57].
Thái độ an nhiên thanh thản của Trần Nhân Tông và Pháp Loa khi đối mặt
trước cái chết thể hiện dũng khí của những bậc đại giác, đại tuệ, đúng theo
cảm quan “sinh kí tử qui” của Phật giáo.
So sánh với 187 tiểu truyện thiền sư trong bộ Thiền sư Trung Hoa và 68 tiểu
truyện thiền sư trong Thiền uyển tập anh, chúng tôi nhận thấy đa số các tiểu
truyện đều có nói đến quá trình qui tịch của các thiền sư tuy mức độ khai thác
có khác nhau tùy theo mỗi truyện. Có những truyện chỉ ghi ngắn gọn thời
Ngày 20, Bảo Sát đang trên đường đi đến Doanh Tuyền, thấy một đám mây
đen từ Ngọa Vân kéo đến Lỗi Sơn, khi tới Doanh Tuyền, nước suối dâng cao
đến mấy trượng, trong giây lát mặt nước trở lại bình thường. Bảo Sát thấy
hai con rồng đầu lớn như đầu ngựa, ngẩng cao hơn một trượng, hai mắt như
sao, trong phút chốc lại biến mất. Đêm ấy Bảo Sát ngủ trọ trong sơn điếm,
thấy một điềm mộng chẳng lành.
(…)
Từ đó trở đi bốn ngày liền, trời đất u ám, gió trốt thổi mạnh, mưa tuyết phủ
đầy cây, vượn khỉ vây quanh am gào khóc, chim rừng kêu bi thảm [57, tr.31-
32].
Sau khi Trần Nhân Tông qui tịch cũng có những điềm lạ: “Khi thiêu, hương lạ
bay xa, nhạc trời vang hư không, mây năm sắc phủ trên giàn hỏa (…) lượm
được xá lị năm màu” [57, tr.33].
Ở một số tiểu truyện thiền sư khác cũng có sự tương đồng đáng chú ý. Chẳng
hạn về quá trình qui tịch của thiền sư Vô Nghiệp trong Thiền sư Trung Hoa: