Nghiên cứu
Sự hỗn dung thể loại
trong Tam tổ thực lục
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 6
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài 10
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5. Phương pháp nghiên cứu 12
6. Kết cấu luận văn 13
Chương 1:
TAM TỔ THỰC LỤC VÀ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
1.1. SÁCH TAM TỔ THỰC LỤC 15
1.2. THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 20
1.2.1. Tiền đề cho sự ra đời và phát triển
của thiền phái Trúc Lâm 20
1.2.2. Vai trò của thiền phái Trúc Lâm
trong đời sống Phật giáo 29
1.3. TRÚC LÂM TAM TỔ 33
1.3.1. Trần Nhân Tông 33
1.3.2. Pháp Loa 36
1.3.3. Huyền Quang 38
Chương 2
SỰ HỖN DUNG THỂ LOẠI TRONG
TAM TỔ THỰC LỤC
2.1. KIỂU KẾT CẤU BỐN GIAI ĐOẠN NHƯ LÀ
ĐẶC TRƯNG CỦA LOẠI TIỂU TRUYỆN THIỀN SƯ 41
PHẦN KẾT LUẬN 121
THƯ MỤC THAM KHẢO 123
2.1. KIỂU KẾT CẤU BỐN GIAI ĐOẠN NHƯ LÀ ĐẶC TRƯNG
CỦA LOẠI TIỂU TRUYỆN THIỀN SƯ
2.1.1. Về khái niệm “tiểu truyện thiền sư”
Hiện nay, khái niệm “tiểu truyện thiền sư” đang ngày càng trở nên quen
thuộc và được vận dụng rộng rãi.
Theo định nghĩa của Nguyễn Hữu Sơn, “khái niệm “tiểu truyện thiền sư” là
sự chuẩn hóa hơn nữa cách gọi “truyện thiền sư” nhằm để chỉ loại truyện
thiền sư được viết theo nguyên tắc tiểu sử. Ở đây, bản thân chữ “tiểu truyện”
không nhằm vào sự liên hệ, so sánh mức độ với các chữ “đại”, “đoản thiên”,
“trường thiên tiểu thuyết” chẳng hạn, mà chủ yếu bao hàm ý nghĩa là tiểu sử,
truyện tiểu sử, tiểu sử thiền sư, Phật tích … ” [56, tr.32].
Như vậy, theo định nghĩa này thì các cách gọi khác nhau của cùng một kiểu
truyện ghi chép tiểu sử của các thiền sư trước đây vẫn dùng như “truyện thiền
sư”, “truyện các nhà sư”, “sự tích thiền sư”, “ghi chép về các thiền sư”,
“truyện kể thiền sư”, “hành trạng thiền sư”, “cuộc đời thiền sư” … đều thống
nhất là một và được gọi chung là “tiểu truyện thiền sư”. Các sách như Nam
tông tự pháp đồ (thiền sư Thường Chiếu, hiện không còn), Thiền uyển tập
anh, Thánh đăng lục, Tam tổ thực lục… đều được xem là thuộc loại “tiểu
truyện thiền sư”.
Khái niệm “tiểu truyện thiền sư” chúng tôi dùng ở đây cùng thống nhất cách
hiểu như trên.
2.1.2. Kết cấu chung của ba truyện tổ
Một trong những đặc trưng cơ bản của các tiểu truyện thiền sư là cốt truyện
được kết cấu theo bốn giai đoạn: sự ra đời thần kì, quá trình giác ngộ, công
tích hành đạo - giáo hóa và qui tịch (riêng Nguyễn Hữu Sơn trong Loại hình
tác phẩm “Thiền uyển tập anh” chia làm ba giai đoạn: khi sinh, quá trình
hành đạo và sự trở về cõi Phật [56]). Tuy nhiên, trong mỗi tiểu truyện cụ thể,
đế, cho phép ngươi được chọn lấy”. Vì ngẫu nhiên được cây kiếm ngắn, thái
hậu bất giác mất vui, do đó có thai” [57, tr.17].
Sự ra đời của Pháp Loa cũng được lí giải bằng một giấc mộng: “Trước đó,
vào tháng 8 năm Quý Mùi (1283), mẹ sư là Vũ Thị, đêm nằm mộng thấy dị
nhân giao cho kiếm thần, bà vui mừng ôm vào lòng, đến khi thức giấc, bà
biết có thai” [57, tr.37].
Về Huyền Quang cũng thế:
Mẹ tổ là Lê Thị, vốn là người đàn bà hiền đức, chiều chuộng chồng con, kính
thờ cha mẹ chồng. Năm 30 tuổi mà chưa có con trai nối dõi, nên thường đến
cầu nguyện tại chùa Ngọc Hoàng. Chùa này cầu nguyện thường được linh
ứng. Đời vua Thánh Tông (1258 – 1278), đất nước mất mùa, nhân dân bị
bệnh dịch. Một hôm, Lê Thị đến núi Chu Sơn hái thuốc, vừa tới chùa Ma Cô
Tiên thì gặp lúc trời hè nắng gắt, bà liền nghỉ dưới bóng chùa. Gió đông phe
phẩy, nhật gác non tây, chợp mắt mơ màng, bà bỗng thấy một con khỉ lớn,
đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào
lòng bà. Lê Thị kinh hãi thức giấc, thấy lòng rung động, trở về thuật lại với
một vị tôn túc. Vị này bảo: “Trong núi ấy có động Thân Dương, đã làm cho
tinh anh của loài khỉ kia không tan biến, nên có điềm mộng ấy, chớ lấy làm
lạ”. Nhân đó, ông suy đoán: ném mặt trời vào bụng là điềm Lê Thị sẽ có thai.
Năm sau, thuộc năm Giáp Dần vào ngày đầu năm, thầy trụ trì chùa Ngọc
Hoàng là thiền sư Tuệ Nghĩa, sau khi lên chùa tụng kinh trở về liêu phòng,
tựa ghế thiền định, ông bỗng mơ thấy các tòa trong chùa đèn chong sáng rực,
chư Phật tôn nghiêm, kim cang long thần la liệt đông đúc. Đức Phật chỉ tôn
giả A-nan bảo: “Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông đô, và phải nhớ duyên
xưa”. Bỗng tiểu đồng từ ngoài vào gõ cửa, Tuệ Nghĩa chợt tỉnh, liền ngâm kệ
rằng:
“Người đời học đạo khá xa xăm!
Tâm tức Phật chừ, Phật tức tâm.
Trí tuệ cát tường gây ảnh hưởng,
Kiếp này ắt gặp bạn tri âm”.
ý nghĩa rất to lớn đối với chúng sinh. Vì vậy mà điềm mộng tiên tri không chỉ
xảy đến với người mẹ mà còn ứng giáng vào một người khác là thiền sư Tuệ
Nghĩa. Huyền Quang, được điềm mộng ứng báo, là kiếp thác sinh của A-nan
tôn giả. Trong những Phật tích, hiện tượng Bồ-tát hoặc tôn giả thác sinh qua
nhiều kiếp sống để dẫn dắt chúng sinh là rất phổ biến. Đơn cử trường hợp sự
ra đời của Thích Ca, kinh điển Phật giáo cho rằng Thích Ca (Siddhartha
Gautama) là kiếp thác sinh của đại Bồ-tát Hộ Minh (Vessantara). Giấc mộng
của thiền sư Tuệ Nghĩa dường như không có ý nghĩa tượng trưng. Nó là một
điềm báo rõ ràng, có lẽ do ông là người tu hành lục căn thanh tịnh, thân tâm
định tuệ, không có tạp niệm nên điềm báo được sáng rõ.
Thông qua những giấc mộng, nguyên nhân sự ra đời của các vị tổ đã được
bao bọc trong một lớp màng kì ảo. Quá trình hoài thai do đó mà trở nên thanh
khiết và thoát tục. Đó được xem như là bước chuẩn bị cho sự khai sinh của
những nhân vật có ý nghĩa quan trọng của một thiền phái Phật giáo. Những
nhân vật này được gọi là “pháp khí”, tức những người có tư chất đặc biệt có
thể tu hành và đạt thành chính giác.
Khi so sánh với một số tiểu truyện thiền sư Ấn Độ, Trung Hoa trong Sử 33 vị
tổ thiền tông Ấn - Hoa, Thiền sư Trung Hoa (3 tập) (cùng do Thích Thanh Từ
soạn dịch từ các bộ Cảnh Đức truyền đăng lục, Truyền pháp chánh tông kí,
Cao tăng truyện, Phật tổ thống tải, Chỉ nguyệt lục) và Thiền uyển tập anh (do
Lê Mạnh Thát dịch) thì thấy có nhiều điểm tương đồng khi nói về sự ra đời kì
diệu của các thiền sư. Điều này cho phép khẳng định hơn nữa mối tương
quan giữa các truyện Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang trong Tam tổ
thực lục với các tác phẩm thuộc cùng loại hình và với truyền thống văn hóa
Phật giáo.
Ứng với giấc mộng được kiếm thần của Nguyên Thánh Hoàng thái hậu (mẹ
Trần Nhân Tông) và bà Vũ Thị (mẹ Pháp Loa) là các chi tiết có trong tiểu
truyện về tổ Bà Xứ Tư Đa (Basiasita): “Ngài dòng Bà-la-môn, người nước
Kế Tân, cha hiệu Tịch Hạnh, mẹ tên Thường An Lạc. Một hôm, bà Thường
An Lạc mộng thấy lượm được cây kiếm thần, sau đó có thai ngài” [76,
ngọc, nói với bà: “Ta lại đây”. Khi thức giấc, bà biết có thai [76, tr.109];
tiểu truyện thiền sư Đức Thiều (881- 972): “Sư quê ở Long Tuyền, Xử Châu,
cha họ Trần, mẹ họ Diệp. Mẹ sư nằm mộng thấy một luồng sáng chạm vào
thân, nhân đó biết có thai. Đến khi sư ra đời, có nhiều điềm lạ” [73, tr.382];
tiểu truyện thiền sư Nghĩa Hoài: “Sư họ Trần, quê ở Lạc Thanh Vĩnh Gia,
ông cha chuyên nghề chài lưới. Mẹ nằm mộng thấy ngôi sao rơi trong nhà
liền có thai sư. Khi sư sinh ra có nhiều điềm lạ” [73, tr.422]; tiểu truyện thiền
sư Pháp Tú (? – 1090): “Sư họ Tân, quê ở Thành Lũng Tần Châu, mẹ mộng
thấy ông sư già đến ngủ nhờ, tỉnh mộng liền biết có thai” [73, tr.485]; tiểu
truyện thiền sư Chánh Giác (1069 – 1135):
Sư họ Lý, quê ở Thấp Châu, mẹ sư mộng thấy một vị tăng ở Ngũ Đài cởi
chiếc vòng mang vào cánh tay mặt bà. Sau đó, bà thọ thai sư. Trong lúc mang
thai, bà gìn giữ trai giới cẩn thận. Sư sinh ra, cánh tay mặt nổi quầng giống
chiếc vòng. Ông nội và cha sư tham thiền với Phật Đà Tôn đã lâu. Phật Đà
chỉ sư nói với cha sư rằng: Đứa bé này đạo vận rất tốt, chẳng phải là người ở
trong trần ai. Nếu xuất gia ắt làm pháp khí” [74, tr.57]…
Có thể thấy rằng việc lí giải sự ra đời của các vị tổ bằng điềm mộng là một
mô thức phổ biến và mang tính kế thừa trong các tiểu truyện thiền sư, ngoài
thực hiện chức năng tôn giáo còn thể hiện bản chất văn học với tư cách là
một yếu tố mang tính loại hình và tính hư cấu nghệ thuật trong tác động qua
lại với bộ phận truyện dân gian như sẽ trình bày ở phần sau của luận văn.
Đứa hài đồng kì lạ …
Một điểm chung đặc biệt nữa trong các tiểu truyện về ba vị tổ thiền phái Trúc
Lâm đó là khi các vị còn là một thai nhi nằm trong bụng mẹ đã được một thế
lực siêu nhiên phù trợ, đến khi sinh ra lại mang nhiều tướng tốt, đi kèm theo
đó là một số hiện tượng lạ.
Về quá trình thai sinh của các vị tổ, sách Tam tổ thực lục viết về Trần Nhân
Tông: “Những tháng dưỡng thai, thái hậu chẳng cần kiêng cữ, nhà bếp dâng
thức gì thái hậu cứ dùng như thường mà thai cũng chẳng sao, nên thái hậu
biết có nơi che chở” [57, tr.17]. Lại nói về Pháp Loa: “Trước đó, mẹ sư đã
hương thanh tịnh” [57, tr.79].
Có thể thấy, các nhân vật ở đây đã được bao bọc trong bầu không khí huyền
nhiệm của Phật giáo. Từ lúc hoài thai đến khi ra đời là tập hợp của những
niềm linh dị. Đi sâu hơn, cách miêu tả những đứa trẻ đặc biệt này với những
đặc điểm kì lạ như “màu da như vàng ròng”, “mùi hương thơm phức”, “có tia
sáng mờ ảo” không phải là cách miêu tả tùy tiện mà có cơ sở của nó. Đó là
cách miêu tả theo 32 tướng tốt (lakkhana) và 80 vẻ đẹp (anuvyanjana)
của
Phật Thích Ca, thể hiện một bậc đại nhân, đại quí. Trong đó có hai đặc điểm
thuộc 32 tướng tốt là “sắc thân sáng như vàng ròng”, “hào quang tỏa chung
quanh một trượng” và một đặc điểm thuộc 80 vẻ đẹp là “lỗ chân lông tỏa
hương” hoặc “miệng thoảng hương thơm, chúng sinh ngửi được vui suốt cả
ngày” [57, tr.92-95].
Tuy rằng các vị tổ không được miêu tả với đầy đủ những đặc điểm thuộc các
tướng trên, nhưng phần nào, cách miêu tả ấy cũng có một giá trị tượng trưng
về nguồn gốc siêu phàm của họ. Những đặc điểm xác thân ấy có giá trị tiên
tri về tương lai, về nguyên do cao thượng mà họ thác sinh vào cõi tục này.
Khi xem tướng cho ấu đồng Tất Đạt Đa, các vị Bà-la-môn đã khẳng định ngài
sẽ trở thành bậc vĩ nhân cao quí của nhân loại, thành vị Chuyển luân thánh
vương cai trị bốn châu thiên hạ. Nốt ruồi đen như hạt đậu lớn trên vai phải
của vua Trần Nhân Tông cũng tiên báo ông là người “ngày sau có thể gánh
vác việc lớn”.
Tóm lại, thông qua việc miêu tả các vị tổ qua hình ảnh đứa hài đồng kì lạ, các
tác giả Tam tổ thực lục một lần nữa lại nêu lên một xác tín rằng Trần Nhân
Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là kiếp thác sinh của những nhân vật thần kì
Phật giáo, mang một trong những đặc điểm nhân dạng tương tự như đức Phật
và các vị tôn giả, A-la-hán. So sánh với một số tiểu truyện thiền sư khác, lại
thấy có nhiều điểm tương đồng đáng ghi nhận như trong tiểu truyện về tổ Ma
Ha Ca Diếp (Mahakasyapa) của Ấn Độ: “Thuở bé, ngài dung nghi trang nhã,
trong kinh điển Phật giáo khi khắc họa hình ảnh của các vị tổ thiền phái Trúc
Lâm, điều đó đã phản ánh một đặc điểm cấu trúc cốt truyện của các tiểu
truyện thiền sư nói chung.
2.1.2.2. Quá trình giác ngộ
Tác giả của các tiểu truyện thiền sư trong Tam tổ thực lục đã giải thích con
đường đến với Phật pháp của ba vị tổ bằng một quá trình dài của những cơ
duyên để cuối cùng dẫn đến sự giác ngộ hoàn toàn. Các nhân vật thiền sư
Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đều được khắc họa là những con
người có thiên tư sáng suốt, có khả năng giác ngộ rất cao và đặc biệt là có
một mối duyên màu nhiệm với Phật giáo.
Thiên tư là tư chất con người có sẵn khi sinh ra, không phải qua quá trình học
tập, trau dồi hay tôi luyện. Người xưa có cách nói nôm na là những đặc tính
“trời phú”. Các nhân vật Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được mô
tả tuy có mờ nhạt khác nhau chút ít về điểm này hoặc điểm khác nhưng vẫn
có được những tương đồng cơ bản.
Trần Nhân Tông được Tam tổ thực lục miêu tả là người có bẩm tính thông
minh hiếm có: “Điều Ngự thánh tánh (tính) sáng suốt, đa tài, hiếu học, đọc
khắp sách vở, thông hiểu cả nội và ngoại điển” [57, tr.19]. Về phần Pháp
Loa: “Lúc còn bé, sư đã có thiên tư đĩnh ngộ, không nói lời ác, không ăn chất
cay nồng và thịt cá” [57, tr.37]. Về điểm này, Huyền Quang được mô tả
tương đối tỉ mĩ hơn: “Đến tuổi đồng ấu, thể mạo tổ dị thường, có chí của bậc
trác việt vĩ nhân, cha mẹ hết lòng yêu thương dạy cho học nghề. Tổ nghe một
hiểu mười, có tài như Nhan Hồi Á Thánh, nên được gọi là Tải Đạo” [57,
tr.79]; “Năm 20 tuổi, tổ dự khoa thi Hương và đỗ đạt. Vì (triều đình) chọn
người đều dùng những bậc đại khoa, nên tổ phải đợi đến khoa thi lớn năm sau
(…) kết quả tổ đậu được thủ khoa” [57, tr.79]; “Được bổ vào chức quan Hàn
lâm, tổ phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, văn thư qua lại, trích dẫn kinh
nghĩa, ứng đối lưu loát. Văn chương ngôn ngữ hơn cả Trung Quốc và các
nước lân bang” [57, tr.80]; “Tổ đọc nhiều, học rộng, tinh thông Phật pháp”
[57, tr.81]; được Trần Nhân Tông đích thân khen ngợi: “phàm sách đã qua
cách nào đó. Hoàng tử Tất Đạt Đa cũng được chọn làm người kế vị cha mình
nhưng do nhiều căn duyên chỉ muốn ra đi tìm lẽ giải thoát cho nỗi đau khổ
của thế gian. Tất Đạt Đa cũng lấy vợ, sinh con, sống trong cảnh nhung lụa.
Người cha vì muốn chống lại số phận trở thành “chuyển pháp luân” của đứa
con trai nên đã dốc hết tâm sức tạo cho con một cuộc sống không thiếu thốn
thứ gì, không phải nhìn thấy những cảnh đen tối của nhân gian. Ấy vậy mà,
do sự dẫn dắt của các thế lực siêu nhiên, Tất Đạt Đa thấy được bốn nỗi khổ
không thể cưỡng lại được của con người là sinh, già, bệnh, chết (sinh, lão,
bệnh, tử), rồi trốn đi trong một đêm khi mà người vợ vừa sinh đứa con trai
được bảy ngày.
Những điểm tương quan này làm nên nét độc đáo của Trần Nhân Tông. Cuộc
đời của Phật Thích Ca được kể lại với đầy những chi tiết huyền thoại như lời
kêu gọi, sự thần thông biến hóa của chư thiên, những cõi trời xa lạ…. Cuộc
đời của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông được miêu tả gần gũi hơn,
thật hơn. Những chi tiết hoang đường chỉ là những giấc mộng và đã là giấc
mộng thì hoang đường hay không lại không phải là vấn đề nữa. Theo cách
nhìn của tác giả tiểu truyện Trúc Lâm sơ tổ cũng như quan niệm của các tín
đồ thiền phái Trúc Lâm thì Trần Nhân Tông chính là kiếp thác sinh của Phật
Thích Ca. Tiểu truyện Trần Nhân Tông trong Tam tổ thực lục có đoạn:
Khi lên ngôi, tuy ở chốn cửu trùng cao sang mà vua vẫn sống thanh tịnh. Vua
thường ngủ trưa ở chùa Tư Phúc trong đại nội, một hôm thấy trên rún (rốn)
trổ một hoa sen vàng lớn như bánh xe, trên hoa có Phật vàng. Có người đứng
bên cạnh chỉ Điều Ngự hỏi: “Biết vị Phật này không? Đức Biến Chiếu Tôn
đấy” [57, tr.19].
Quả thực đây là giấc mơ có nhiều hình ảnh tượng trưng, yêu cầu phải được
giải thích bằng thứ tư duy hình tượng của Phật giáo. Dễ thấy giấc mơ này có
điểm tương tự như một trong năm giấc mơ điềm báo của Thích Ca trước ngày
thành đạo dưới gốc bồ đề, có ghi lại trong kinh Tăng chi bộ, đó là ngài mộng
thấy từ rốn mình mọc ra một loại cỏ vươn cao mấy tầng mây. Rốn là con
đường sinh. Trần Nhân Tông và Thích Ca đều mơ thấy từ rốn mình mọc ra
tự đến (xin xuất gia), nên vui mừng đặt tên là Thiện Lai [57, tr.38].
Về phần Huyền Quang, căn duyên đến với ông vào lần gặp gỡ với Pháp Loa:
Lúc tổ theo vua tới chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Phượng Nhãn, nhìn thấy quốc
sư Pháp Loa đang hành đạo, liền nhớ lại duyên xưa, bùi ngùi than rằng: “Làm
quan lên Bồng Đảo, đắc đạo đến Phổ Đà, trên cõi nhân gian là tiên, cảnh giới
Tây phương là Phật. Phú quí vinh hoa nào khác lá vàng mùa thu, mây trắng
ngày hạ, há nên lưu luyến mãi!”. Nhân đó, dâng biểu đến ba lần xin từ chức
để xuất gia học đạo tu hành [57, tr.80].
Vua Trần Anh Tông từng có lời khen ông: “Tướng người này có đạo nhãn, có
thể là bậc pháp khí, bậc thánh tăng chân chánh (chính) vậy” [57, tr.80-81].
Khoảnh khắc và nhân duyên giác ngộ của Trần Nhân Tông, Pháp Loa và
Huyền Quang đều được giải thích như là kết quả của lòng mộ Phật. Khoảnh
khắc giác ngộ còn được gọi là “hoát nhiên khế hội”, “phát minh tâm địa”,
“đốn ngộ”, “đại ngộ”, “tỉnh ngộ” … theo các cách diễn đạt khác nhau trong
các tiểu truyện thiền sư. Truyện Trần Nhân Tông không thấy nói đến khoảnh
khắc này mà chỉ có chi tiết “lúc rảnh việc nước, vua mời các khách Thiền đến
giảng dạy tâm tông, lại tham vấn Tuệ Trung Thượng sĩ nhờ thế đạt được cốt
tủy của thiền, nên thờ Tuệ Trung theo lễ của bậc thầy” [57, tr.19].
Việc giác ngộ của Pháp Loa được ghi lại:
Điều Ngự thế phát, trao man y cho sư, rồi bảo đến Quỳnh Lâm học với hòa
thượng Tính Giác. Sư thưa hỏi trăm điều mà Tính Giác rốt cục vẫn chưa thể
khai thị cho sư, nên sư tìm đọc kinh Hải nhãn (kinh Lăng nghiêm), đến đoạn
“Bảy lần gạn hỏi tâm, cuối cùng đến ví dụ khách trần”, sư suy nghĩ giây lâu,
bỗng được thể nhập.
Một ngày kia, từ bên hòa thượng Tính Giác trở về để tham vấn Điều Ngự,
vừa được lúc Điều Ngự thượng đường đọc bài tụng Thái dương ô kê, sư liền
tỉnh ngộ [57, tr.38-39].
Một lần khác: “Một đêm nọ, nhân trình ba bài tụng cốt yếu, đều bị Điều Ngự
sổ toẹt, sư thưa hỏi đến bốn lần mà Điều Ngự vẫn bảo phải tự tham cứu lấy.
Trở về phòng, tâm thần rất xao xuyến, đến nửa đêm, nhân thấy hoa đèn rơi,