ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là tương lai và là niềm hy vọng của toàn thể nhân loại. Việc
chăm sóc – giáo dục trẻ em ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc sống
là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự
nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ để trở thành những chủ nhân
tương lai của đất nước.
Từ lúc lọt lòng đến 6 tuổi là một quãng đời có tầm quan trọng đặc biệt
trong quá trình phát triển chung của trẻ. Ở giai đoạn phát triển này, trẻ em có
những đặc điểm, những quy luật phát triển độc đáo, không giống bất cứ một
giai đoạn phát triển nào sau này. Chính vì vậy các bậc cha mẹ, các cô nuôi
dạy trẻ cần phải quan tâm đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ về mọi mặt để
giúp trẻ phát triển được thuận lợi [4], [24], [34].
Đánh giá tình trạng thể lực, sức khoẻ và phát triển tâm lý, vận động
(TVĐ) của trẻ em, nhất là trẻ dưới 6 tuổi là rất cần thiết trong công tác chăm
sóc và nuôi dạy trẻ. Điều quan trọng nhất là đánh giá được sự phát triển TVĐ
của trẻ và sớm nhận định các mức độ phát triển TVĐ để từ đó tìm ra cách giải
quyết thích hợp và kịp thời giúp cho trẻ phát triển tốt hơn trong những năm
sau. Có nhiều test tâm lý được đưa ra sử dụng để đánh giá sự phát triển TVĐ
của trẻ như test Brunet Lezine, Raven, Denver I, Gessell, Binet Simon,
trong đó test Denver I được áp dụng khá rộng rãi.
Trong những năm qua đó cú một số công trình nghiên cứu về sự phát
triển thể chất và tâm - vận động trẻ em tại nhiều địa phương trong cả nước.
Cỏc cụng trỡnh nghiên cứu về thể chất của Hàn Nguyệt Kim Chi [3], Vương
Thị Hoà [12], Nguyễn Đức Khoa và CS [15], Nguyễn Thu Nhạn và CS [24],
Lê Nam Trà [28], Hop Le Thi [40], Leung S. S et al [42]. Tuy vậy, các công
trình trên đều nghiên cứu cách đây hơn một thập kỷ mà các số liệu về phát
triển thể chất trẻ em luôn biến đổi theo thời gian nên cần được nghiên cứu
1
định kỳ, thường xuyên để đánh giá chính xác về hình thái nhân trắc và tình
trạng thể lực trong các giai đoạn khác nhau . Các công trình nghiên cứu về
phát triển tâm lý - vận động trẻ em của các tác giả : Lê Đức Hinh[10], [11]
hệ thần kinh.
1.1. Sự phát triển thể chất của trẻ em.
1.1.1.Các chỉ số đánh giá phát triển
Các chỉ số đánh giá sự phát triển thể chất trẻ em bao gồm : Chiều cao,
cân nặng, vòng đầu, vòng ngực, vũng đựi, vũng cánh tay.
1.1.1.1 Cân nặng:
- Cân nặng của người nói lên khối lượng và trọng lượng hay độ lớn
tổng hợp của toàn bộ cơ thể, nó liên quan đến mức độ và tỷ lệ giữa hấp thu và
tiêu hao. Trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ tăng cân. Do đó cân nặng phần nào nói
lên tình trạng thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng của trẻ em.
- Cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh đủ tháng lúc mới đẻ khoảng
3000g, trẻ trai nặng hơn trẻ gái, con thứ nặng hơn con so. Nếu cân nặng của
trẻ lúc đẻ dưới 2500g coi như đẻ non, đẻ yếu hay suy dinh dưỡng bào thai.
3
Theo Hằng số sinh học người Việt Nam(1975) [30], cân nặng của trẻ trai mới
đẻ là 3,07 ± 0,32kg và của trẻ gái mới đẻ là 3,02 ± 0,35kg. Theo Lê Nam Trà
[28], cân nặng của trẻ trai mới đẻ là 3,11 ± 0,35kg và của trẻ gái mới đẻ là
3,06 ± 0,34kg. Trong năm đầu tiên, cân nặng của trẻ tăng rất nhanh nhưng
không đồng đều từng tháng. Những tháng đầu của năm thứ nhất phát triển
nhanh hơn những tháng cuối năm, nhất là trong 3 tháng đầu tiên. Trong vòng
6 tháng đầu năm thứ nhất trung bình mỗi tháng tăng thêm 650g, trong cỏc
thỏng thứ 2-3, mỗi tháng có thể tăng thêm 800-900g. Trong vòng 6 tháng cuối
năm thứ nhất, trung bình mỗi tháng tăng thêm 500g. Như vậy đến hết năm thứ
nhất cân nặng của trẻ tăng gấp 3 lần lúc mới đẻ [12], [24]
- Trong những năm tiếp theo thì cân nặng của trẻ tăng chậm hơn, trung
bình mỗi năm tăng khoảng 1,3-1,8kg, trẻ trai tăng cân nhanh hơn trẻ gái [3],
Chu Văn Tường và CS [31] đã đưa ra công thức tính gần đúng cân nặng của
trẻ dưới 14 tuổi như sau:
X= 9kg + 1,5kg(n-1)
X: Cân nặng của trẻ tính bằng kg
năm thứ hai trở đi vòng đầu tăng chậm, từ 6 đến 10 tuổi mức tăng trưởng
trung bình của vòng đầu hàng năm của trẻ dưới 0,5cm. Theo Hằng số sinh học
người Việt Nam (1975), vòng đầu trung bình của trẻ em Việt Nam thay đổi
như sau: Trẻ mới đẻ là 32cm, 1 tuổi là 46cm, 2 tuổi là 48 cm, 3 tuổi là 49 cm,
7 tuổi là 51cm.
1.1.1.4. Vòng ngực
+ Vòng ngực là kích thước cũng hay được dùng trong nhân trắc, vỡ nú
tượng trưng cho sự phát triển về chiều ngang (rộng + dầy) của thân mình và
5
cho phép đánh giá thể lực của một người. Lúc mới đẻ vòng ngực bằng hoặc
nhỏ hơn vòng đầu khoảng 1cm. Sau khi đẻ vòng ngực lớn nhanh hơn vòng
đầu, lúc 6 tháng vòng ngực bằng vòng đầu, sau đó vòng ngực lớn vượt vòng
đầu. Từ 2 đến 6 tuổi vòng ngực lớn hơn vòng đầu 2cm.
1.1.1.5. Vòng cánh tay.
+ Vòng cánh tay: Tăng nhanh trong năm đầu, ở trẻ trai tăng thêm 3,49
cm và 2,99 cm ở trẻ gái, sau đó mức tăng chỉ số này diễn ra rất chậm. Từ 2-10
tuổi vòng cánh tay trẻ tăng trung bình hàng năm dưới 0,5 cm. Khoảng 6 -36
tháng tuổi vòng cánh tay của trẻ nam hầu như không thay đổi (khoảng 14cm).
Sau 36 tháng tuổi vòng cánh tay của trẻ lại tăng lên và đến 60 tháng tuổi tăng
được 1cm .Vòng cánh tay cho phép đánh giá khối lượng các bắp thịt và nó
cũng phản ánh tình trạng dinh dưỡng của trẻ em.
1.1.2. Các chỉ số thể lực và dinh dưỡng.
Những chỉ tiêu thường được dùng là chiều cao đứng hoặc chiều cao
ngồi, cân nặng, vòng ngực Hầu hết các chỉ số đều được tính dựa và sự so
sánh các chỉ tiêu về chiều ngang (cân nặng và/ hoặc vòng bụng, vòng ngực )
với các chỉ tiêu về chiều dọc (chiều cao đứng, chiều cao ngồi).
Thể lực của một người phụ thuộc và tình trạng dinh dưỡng và tỷ lệ với
tầm vóc của người đó. Thể lực không chỉ phụ thuộc vào các kích thước hình
thái mà còn phụ thuộc vào các yếu tố chức năng [3], [16].
1.1.2.1. Chỉ số BMI ( body mass Index) hay chỉ số khối cơ thể
lệch chuẩn (-2SD) so với quần thể tham khảo NCHS được coi là quá thấp
1.1.2.5.Cân nặng theo chiều cao.
Cân nặng theo chiều cao nhỏ phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng ở
thời kỳ hiện tại và thời điểm khảo sát làm cho trẻ ngừng tăng cân hoặc tụt cõn
nờn bị gày còm (wasting). Điểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với
7
quần thể tham khảo NCHS được coi là suy dinh dưỡng. Trẻ được coi là thừa
cân khi cân nặng theo chiều cao trên 2SD.
1.2. Sự phát triển về tâm lý - vận động.
Tâm lý và vận động được ghép lại thành cụm từ tâm vận động, sở dĩ
như vậy là ở thời kỳ thơ ấu cho tới 5-6 tuổi phát triển tâm lý của trẻ liên quan
mật thiết tới sự phát triển vận động, tới cảm giác. Từ cảm giác trẻ đi tới vận
động và ngược lại, hai hoạt động này luôn gắn quện vào nhau, tác động lẫn
nhau và thúc đẩy sự phát triển tâm lý của trẻ. Theo Nguyễn Thị Nhất [25],
thần kinh phát triển đến đâu vận động phát triển đến đó, kết hợp với luyện tập
và chịu sự chi phối của tình cảm, vận động dần dần phù hợp với ý đồ mục
tiêu. Trong thời thơ ấu, phát triển của vận động và trí nóo không gắn liền với
nhau, một em bé 5 tuổi có thể đánh giá trí khôn thông qua sự phát triển của
vận động [19], [25].
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của hệ thần kinh trong thời kỳ phôi thai.
Hệ thần kinh phát triển vào ngày thứ 18 của phôi. Ống thần kinh được
hình thành từ sự dày lên của phần ngoại bì ở phía lưng của phôi. Phần ngoại
bỡ lừm xuống thành rãnh. Hai bờ rãnh gắn lại với nhau thành ống thần kinh ,
ở giữa là ống nội tuỷ. Đầu dưới của ống sẽ trở thành ống tuỷ sống. Đầu trên
phát triển rất to thành não. Trong tổ chức trung bì ở giữa ống thần kinh và
ngoại ngoại bì sinh ra màng não và xương. Ống thần kinh phát triển qua nhiều
giai đoạn và qua nhiều lần phân chia cuối cùng trục thần kinh thành năm tỳi
nóo [6].
Hệ thần kinh trung ương bao gồm não và tuỷ sống, từ đó có những dây
thần kinh, dây thần kinh sọ đối với não , dây thần kinh gai đối với tuỷ sống.
định khu hơn. Từ đó hoạt động của trẻ hoàn thiện hơn [6], [27]. Sự phát triển
9
của các đường dẫn truyền thần kinh diễn ra mạnh mẽ theo sự tăng lên của tuổi
và được tiếp tục khi trẻ 14-15 tuổi.
Các đường dẫn truyền cảm giác: Cảm giác nông ( sờ, đau, nóng, lạnh)
và cảm giác sâu ( tư thế, vị trí, nhận biết đồ vật). Ngay từ đầu trẻ đã phản ứng
lại với các kích thích, song phản ứng này chỉ mang tính chất chung. Đến 2-3
tuổi trẻ mới có thể định được vị trí kích thích đau.
Đường dẫn truyền thị giác: Được phát triển sớm, trẻ mở mắt ngay khi
ra đời. Chức năng thị giác của trẻ phát triển ở thời điểm 3 tháng, lúc này mắt
của trẻ đã nhìn chằm chằm vào lòng bàn tay. Có sự kết hợp thị giác, vận động
và tiến bộ về ký ức thị giác giúp cho phát triển hiện tượng cầm, chơi đùa và
ngôn ngữ của trẻ.
Đường dẫn truyền thính giác: Ngay từ tháng cuối của thai , trẻ đã phản
ứng lại với các kích thích của thính giác với sự co cơ ở mắt. Từ 2 tháng tuổi ,
trẻ đã mỉm cười khi có người hỏi chuyện, đến khoảng 5 tháng tuổi trẻ bắt đầu
nhận biết các giọng nói của người nói chuyện. Lúc này có hiện tượng chín
muồi trong các diện thính giác.
Các đường dẫn truyền khứu giác, vị giác: Được hoạt động ngay từ khi
mới sinh ra biểu hiện là trẻ đó cú phản ứng lại bằng cách nhăn mặt với các
kích thích mạnh.
Các đường dẫn truyền vận động: Có nhiều đường dẫn truyền vận động:
Vận động có ý thức (bú tháp), vận động phối hợp (ngoại tháp), vận động
trương lực (cỏc nhõn xỏm trung ương). Phản xạ vận động là hình thức đặc
biệt của hoạt động vận động.
Sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất của người, là chức năng tổng hợp của nhiều cấu trúc cao cấp
của não.
10
+ Chức năng ở mặt ngoài của vỏ não: Ngôn ngữ là hình thức cao nhất
đối tượng riêng rẽ. Sự tiến bộ to lớn này trong việc phân tích môi trường bên
ngoài chỉ có thể diễn ra nhờ tác dụng của các dấu vết do các đối tượng gõy ra
trong não của đứa trẻ [14], [19], [23], [25]
Dần dần ở trẻ được hình thành hệ thống hành động thích đáng đối với
các đối tượng khác nhau : Nó ngồi lên ghế, dựng thỡa xỳc thức ăn, uống nước
từ chén Nhờ tác động qua lại giữa trẻ với các đối tượng mà hình thành được
các chức năng khái quát- nét hoạt động đặc biệt của não người.
Trong năm đầu tác nhân củng cố không điều kiện có hiệu quả nhất đối
với trẻ là thức ăn. Đến năm thứ 2,3 các loại củng cố khác ( định hướng, tự vệ,
trò chơi) trở nên có hiệu quả hơn. Ở trẻ hai tuổi đã hình thành được một số
lượng lớn các phản xạ có điều kiện với ý nghĩa của tín hiệu như kích thước,
trọng lượng, màu sắc Loại phản xạ này được xem như sự phản ánh có tính
tập hợp các hiện tượng của thế giới bên ngoài vào trong não và là mầm mống
của những khái niệm. Trong giai đoạn này sự hình thành các hệ thống đường
liên hệ có điều kịờn đối với sự định hình trật tự của các kích thích từ bên
ngoài có ý nghĩa lớn trong hoạt động thần kinh cao cấp của đứa trẻ.
Đối với các trẻ gần 3 tuổi sự hình thành một số hoạt động định hình
không còn khó khăn và các hoạt động định hình tiếp theo được hình thành
càng dễ hơn. Tuy nhiên, sự thay đổi hoạt động định hình đối với đứa trẻ là
công việc rất khó khăn. Do đó, đối với đứa trẻ 3 tuổi cần chú ý đến sự hình
thành và duy trì các hoạt động, sinh hoạt có tính chất định hình.
Cũng vào thời điểm này (khoảng 2-3 tuổi) tiếng nói của trẻ bắt đầu phát
triển nhanh. Tiếng nói trở thành tín hiệu có ưu thế khi nó tác động lờn cỏc thụ
cảm thể thính giác. Sang năm thứ 3 trẻ có thể nói lại và nhớ dễ dàng những từ
12
mới do người lớn nói ra ngay cả trong những trường hợp trẻ chưa hiểu ý
nghĩa của từ đó. Từ 2,5 đến 3 tuổi vốn ngôn ngữ của trẻ không những chỉ gồm
những từ riêng rẽ hay những thành ngữ, mà cũn cú cả những câu được đặt ra
trong quá trình phát triển ngôn ngữ và là những liên hợp khác nhau của
những từ ngữ đã quen biết trước đó, với việc sử dụng các giới từ, động từ và
Hàn Nguyệt Kim Chi đã áp dụng trắc nghiệm Denver I đánh giá sự phát triển
tâm - vận động của 99 trẻ em dưới 5 tuổi tại Hà Nội và Hà Tây [32], [34].
1.3.Test Denver II.
Test Denver I được xuất bản đầu tiên vào những năm 1967 nhằm khám
phá dự báo những vấn đề phát triển ở trẻ nhỏ.Test Denver I đã được thích ứng
để sử dụng và được tiêu chuẩn hoỏ trờn 20 nước và đã được sử dụng nghiên
cứu cho trên 50 triệu trẻ em trên toàn thế giới. Do phạm vi sử dụng rộng như
vậy dẫn đến phải nghiên cứu sâu hơn và nó là động lực thúc đẩy các nhà
nghiên cứu xem xét, chỉnh sửa và tiêu chuẩn hoá lại Test Denver I. Trong quá
trình này đó cú một vài sự thay đổi so với 105 tiết mục nguyên bản. Có một
vài tiết mục bị huỷ bỏ căn cứ vào giá trị lâm sàng, hạn chế của nó hay do khó
khăn trong việc thực hiện và tính điểm. Một vài mục đã được chỉnh sửa để
giúp người đọc hiểu rõ hơn và rất nhiều mục mới được thêm vào, đặc biệt là
trong phần về ngôn ngữ. Tiêu chuẩn chấm điểm cho mỗi mục và cho những
hành vi chung của trẻ đã được xây dựng ưu tiên cho việc thu thập thông số.
Test Denver II được thiết kế để sử dụng tốt trẻ cho em độ tuổi sơ sinh
đến 6 tuổi và được tổng kết qua đánh giá hành vi của trẻ trên một loạt những
kỹ năng được thiết kế phù hợp với lứa tuổi. Test này thường được sử dụng
14
trong việc theo dõi những triệu chứng của trẻ để phát hiện ra vấn đề, trong
việc xác thực những nghi ngờ bằng trực giác có thể dùng test để đo và trong
việc giám sát những vấn đề xấu trong sự phát triển của trẻ, cũng như những
vấn đề ở những người đã trải nghiệm nhưng khó khăn trong thời kỳ chu sinh.
Mục đích của trắc nghiệm: Nhằm tiêu chuẩn hóa một phương pháp
đánh giá sự phát triển tâm vận động để có thể phát hiện sớm các trạng thái
chậm phát triển ở trẻ em trước tuổi đi học. Trắc nghiệm chủ yếu là vận dụng
các tiêu chuẩn bình thường đã biết, sắp xếp các tiêu chuẩn đó vào một hệ
thống chung để tiến hành, dễ nhận định, dễ đánh giá và tiện làm nhiều lần trên
cùng một đối tượng.
Test Denver II không phải là Test IQ, cũng không phải là những dự báo
- Hormon tăng trưởng (GH) được bài tiết từ khoảng tuần thứ 9 thời kỳ
phôi, từ đó hormon tăng tiết dần nhưng vai trò của nó với sự phát triển thai
chưa rõ, GH của tuyến yên đóng một vai trò rất quan trọng trong sự tăng
trưởng của trẻ từ khi sinh đến lúc trưởng thành với các tác dụng sau:
+ Tăng số lượng và kích thước tế bào, do đó vừa làm cơ thể tăng trọng lượng,
vừa làm tăng kích thước các phủ tạng.
+ Kích thích phát triển cỏc mụ sụn ở các đầu xương dài làm cơ thể cao lờn,ở
những xương đã cốt hoá GH làm dầy màng xương, đặc biệt là các xương dẹt.
+ Tăng tổng hợp Protein, do đó làm tăng trọng lượng và kích thước cơ thể.
Rối loạn bài tiết hormon GH sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể, đặc biệt
trong thời kì cơ thể đang phát triển.
16
- Somatomedine: Là hormon có tác dụng hiệp đồng với GH trong quá
trình tăng trưởng. Người ta thấy GH không tác dụng trực tiếp lên sụn của cơ
thể mà thông qua somatomedine, sinh tổng hợp somatomedine lại phụ thuộc
vào GH. Như vậy, somatomedine và GH gắn kết chặt chẽ với nhau, giúp cơ
thể tăng trưởng bình thường.
- Hormon tuyến giáp :Là T
3
và T
4
, do các tế bào của nang tuyến giáp
tổng hợp và bài tiết. Tác dụng của T
3
và T
4
phối hợp với GH để làm cơ thể
phát triển, tăng quá trình biệt hoá tế bào,tăng tốc độ phát triển và điều hoà sự
phát triển cơ thể. Trong thời kì cơ thể đang phát triển, nếu thiếu T
3
- Tăng trưởng chiều cao của cơ thể con người cũng chịu sự chi phối bởi
yếu tố di truyền. Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân
17
tộc thường có một khung chiều cao nhất định, chiều cao này được xác định
qua quá trình hình thành các đặc điểm sinh thể của dân tộc.
- Chiều cao cũng như một số tính trạng khác như: Độ thông minh, màu
da, nếp vân tay được chi phối bởi nhiều cặp gen tương ứng, các gen này có thể
nằm trên cùng một cặp hoặc nằm trờn cỏc cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác
nhau. Hiện nay người ta chưa biết rõ gen nào chi phối chiều cao con người.
- Bên cạnh yếu tố di truyền, kích thước và thời gian tăng trưởng của trẻ
em cũng bị ảnh hưởng bởi giống nòi và chủng tộc. Tanner và CS [49]nghiên
cứu chiều cao của trẻ em có nguồn gốc châu Âu (London) , châu Á (Hồng
Kụng) và châu Mỹ (Hoa Kỳ) nhận thấy trẻ em châu Âu và châu Mỹ có chiều
cao tương tự nhau, còn trẻ em châu Á thấp hơn hẳn.
1.4.2. Yếu tố môi trường xã hội
* Dinh dưỡng:
- Nhiều nghiên cứu gần đây [2],[9], [ 13], [18], [29], [33] cho thấy dinh
dưỡng hầu như giữ vai trò chính trong sự phát triển của trẻ, ít nhất đến 5 tuổi.
- Việc cung cấp dinh dưỡng đầy đủ và hợp lí phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:
+ Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ.
+ Kiến thức của bố mẹ, kinh tế của gia đình.
+ Phong tục tập quán của địa phương nơi trẻ sinh sống.
- Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc nhiều vào lứa tuổi. Hiện nay, tổ chức
quốc tế nghiên cứu về dinh dưỡng đã thống nhất các loại thức ăn bổ sung cho
trẻ được biểu thị theo ô vuông thức ăn [17], [ 13], [33]
18
- Thức ăn bổ sung phải hợp với lứa tuổi và nhu cầu của trẻ. Thời điểm bắt đầu
cho ăn bổ sung đúng nhưng chất lượng thức ăn không tốt cũng sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển của trẻ [ 7] ,[18], [33], [38], [44], [51]
Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến sự phát triển và sức
yếu tố góp phần tác động lên sự phát triển của trẻ [9]. Nếu những yếu tố trên
càng nhiều ở một trẻ thì trẻ đó có xu hướng bị suy dinh dưỡng [9], [18].
* Bệnh tật: Các bệnh về chuyển hoá, thần kinh, nội tiết, hô hấp, tim mạch,
tiờu hoỏ đều ảnh hưởng đến sự tăng trưởng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa sự phát triển của
trẻ với bệnh tật nhất là bệnh nhiễm khuẩn, chuyển hoá [23], [24]
20
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu : 525 trẻ từ 1- 6 tuổi và các bà mẹ của cỏc cháu
ở Hưng Yên, Quảng Nam và Cần Thơ. Đây là 3 tỉnh, thành phố đại diện cho
3 miền Bắc, Trung, Nam.
- Tiêu chuẩn chọn trẻ:
+ Là trẻ sinh đủ tháng (38-42 tuần ), đẻ thường hoặc mổ đẻ.
+ Cõn nặng lúc sinh từ 2500g trở lên, chiều dài lúc sinh > 45cm.
+ Không có dị tật bẩm sinh, không có bệnh xã hội (giang mai, lao)
+ Không mắc các bệnh về thần kinh.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Trẻ mắc bệnh về hệ thần kinh.
+ Trẻ mắc bệnh mạn tính.
Bảng 2.1. Phân bố trẻ nghiên cứu theo địa dư và theo giới tính
Giới Thành phố Nông thôn Chung
n % n % n %
Trai 67 23,1 223 76,9 290 55,24
Gái 59 25,1 176 74,9 235 44,76
Tổng số 126 24,0 399 76,0 525 100
21
Bảng2.2.Phõn bố trẻ nghiên cứu theo địa dư và nhúm tuổi
Tháng
22
Thời gian nghiên cứu : Tiến hành từ tháng 06/2007 đến 10/2008
2.2.3. Quá trình chọn mẫu
* Mẫu được lựa chọn theo phương pháp hệ thống:
Tại cỏc xó/phường mẫu được lựa chọn theo phương pháp hệ thống. Lập danh
sách các hộ gia đỡnh có trẻ trong độ tuổi. Tính khoảng cách k:
k = số trẻ trong độ tuổi của xó/phường/số trẻ cần nghiên cứu của xã,
phường.Cứ cách k trẻ lấy 1 trẻ vào nghiên cứu cho đến khi đủ số trẻ nghiên
cứu của một xó/phường thì dừng lại.
Công thức tính cỡ mẫu:
N
n =
1+ N. e
2
N: Dân số nghiên cứu
e: Sai số chọn mẫu ( 15%)
*Chọn mẫu
Ước tớnh mỗi xã/phường có số dõn trung bình từ 7000 người, với tỷ lệ
phần trăm trẻ dưới 6 tuổi trên cả nước là 11,6% [1], số trẻ dưới 1 tuổi là
1,86% dõn số, số trẻ 1-6 tuổi ước tớnh khoảng 700 trẻ. Đơn vị nghiên cứu là
hộ gia đình. Để có thể ước tính tỷ lệ trẻ ở cỏc nhúm đối tượng khác nhau như
trình bày ở trờn.Theo công thức trên mỗi xã có khoảng 42 hộ. Như vậy,
tổng số mẫu sẽ là: n = 3 tỉnh x 4 xó/phường x 42 hộ = 504 trẻ
2.2.4. Chỉ số nghiên cứu và cách xác định.
- Chỉ số hình thái của trẻ: Chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực, vòng
cánh tay, vũng đựi.
- Tâm – vận động: Dùng trắc nghiệm Denver II.
2.2.4.1. Xác định một số chỉ số hình thái
23
milimột.
Kỹ thuật đo: vòng quanh đầu, phía trước trên cung lông mày, phía sau
qua ụ chẩm để lấy kích thước tối đa.
+ Vòng ngực :
Dụng cụ: Dùng thước dây mềm, không co giãn, được chia đến milimột.
Kỹ thuật đo: Vòng thước dây quanh ngực, phía sau vuông góc với cột
sống sát dưới xương bả vai, phía trước qua hai núm vú (đối với các trẻ dưới 2
tuổi) và qua mũi ức (ở trẻ trên 2 tuổi). Người đo đứng về một bên của trẻ để
có thể kiểm tra mặt phẳng của thước dây. Có thể lấy số đo ở thì giữa lúc thở
nhẹ nhàng bình thường. Cũng có thể đo vòng ngực lúc thở hết sức và lúc hít
vào hết sức, rồi lấy trung bình cộng của 2 lần đo.
+ Vòng cánh tay:
Dụng cụ: Dùng thước dây mềm, không co giãn, được chia vạch đến
milimet.
Kỹ thuật đo: Để hai tay trẻ buông thõng tự nhiên, lòng bàn tay hướng
vào đựi, vũng thước dây theo vòng tay, đo ở giữa cánh tay trái( đo sát da
không qua lớp vải ở tay ỏo), vũng đo đi qua điểm giữa cánh tay tính từ mỏm
cùng xương vai đến mỏm trên lồi cầu xương cánh tay. Đọc kết quả và ghi số
cm với một số lẻ.
+ Vũng đùi:
Dụng cụ: Dùng thước dây mềm, không co giãn, được chia vạch đến
milimet.
Kỹ thuật đo: Vòng thước đo quanh đựi, sỏt nếp dưới lằn mông để đo
vòng to nhất của đùi. Số đo vũng đựi được lấy ở tư thế chân duỗi thẳng. Đọc
kết quả và ghi số cm với một số lẻ.
2.2.4.2. Nghiên cứu về phát triển tâm - vận động:
25