nghiên cứu sự phát triển thể chất, tinh thần và yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị ở trẻ suy giáp - Pdf 24

đặt vấn đề
Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại mà là một cơ thể đang lớn
và trưởng thành. Hai quá trình này liên quan chặt chẽ với nhau, phát triển
nhịp nhàng, hài hòa và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó bệnh tật
đóng một vai trò quan trọng [12],[13]. Suy giáp trạng là bệnh nội tiết
thường gặp do tuyến giáp sản xuất hormon không đầy đủ để đáp ứng nhu
cầu chuyển hoá và quá trình sinh trưởng của cơ thể [3].Tuy bệnh xuất hiện
từ thời kỳ bào thai nhưng không biểu hiện lâm sàng lúc đẻ, nên chẩn đoán
thường bị muộn và để lại những tổn thương vĩnh viễn về mặt tinh thần.
Với tần suất mắc SGTBS mới khoảng 1/4000 trẻ sơ sinh đẻ ra sống trên thế
giới [34],[56],[57],[67], ở Việt Nam ước tính hàng năm trong sè 1.4-1.5 triệu
trẻ ra đời có khoảng 400 trẻ bị SGTBS [9]. Theo báo cáo 10 năm 1989-1999
năm tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Nhi Trung ương của Nguyễn Thu Nhạn tỷ lệ
phát hiện và điều trị SGTBS ở nước ta mới chỉ chiếm 8% còn 92% bị bỏ sót ở
cộng đồng [9].
Những trẻ SGTBS không được phát hiện, điều trị và theo dõi sớm sẽ
chậm phát triển thể chất, tinh thần vận động làm cho trẻ bị thiểu năng trí tuệ
vĩnh viễn, bị đần độn, thấp lùn, vô sinh, trở thành những trẻ tàn phế thực sự,
chất lượng cuộc sống giảm, gây gánh nặng cho gia đình và xã hội [11]. Trẻ
SGTBS sẽ phát triển mọi mặt gần nh bình thường nếu nh trẻ được điều trị
ngay từ thời kỳ sơ sinh [4],[9],[49],[85].
Tuy nhiên biểu hiện lâm sàng của SGTBS ở trẻ sơ sinh thường không rõ
ràng hoặc không có triệu chứng gì rõ rệt nên việc chẩn đoán sớm còn gặp
nhiều khó khăn [57]. Xuất phát từ thực tế đó chương trình sàng lọc sơ sinh
(CTSLSS) được Robert Guthrie khởi xướng từ thập kỷ 70 nhằm giải quyết
1
triệt để các khó khăn trong chẩn đoán sớm SGTBS, ở Việt Nam CTSLSS
trong những năm gần đây đã được thực hiện ở nhiều tỉnh thành trong cả nước,
tỷ lệ trẻ SGTBS được điều trị từ giai đoạn sơ sinh ngày càng tăng, sự phát
triển thể chất, tinh thần, ở trẻ SGTBS sẽ bước sang mét trang mới. Để góp
phần vào việc đánh giá sự phát triển thể chất, tinh thần và các yếu tố ảnh

giới thiệu phương pháp uống để điều trị suy giáp trạng.
Năm 1898, Williams Osler là người đầu tiên công bố điều trị thành công
suy giáp trạng.
Năm 1927, Harrington tìm ra công thức tổng hợp của thyroxine.
3
Và sau đó đã có rất nhiều nghiên cứu đến sự phát triển thể chất, tâm vận
động, tuổi được chẩn đoán điều trị cũng như liều lượng của L-thyroxin ảnh
hưởng đến kết quả điều trị
Giữa thập kỷ 70 thế kỷ XX Robert Guthrie khởi xướng tiến hành
CTSLSS ngay sau đẻ. CTSLSS cùng một lúc có thể phát hiện được 2- 6 bệnh,
trong đó có bệnh SGTBS .
Ở Việt Nam trước năm 2000 do chưa có điều kiện tiến hành CTSLSS nên
các công trình nghiên cứu chỉ xoay quanh triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán.
1.3. Dịch tễ học
1.3.1 Tỷ lệ mắc bệnh
Qua kết quả của các CTSLSS ở các nước khác nhau, tỷ lệ mắc mới
SGTBS nói chung giao động từ 1/3500- 1/4000 trẻ sơ sinh [34],[56],[57],[67].
Tỷ lệ mắc ở châu Âu cao hơn châu Á. Từ năm 1996 một số nước trong khu
vực Đông Nam Á và Châu Á như: Philippine, Thái Lan, Trung Quốc đã tiến
hành CTSLSS và kết quả trong khu vực khoảng 1/2500- 1/3000. (cao hơn so
với Châu Âu là 1/3.500) Dưới đây là tỷ lệ mắc mới SGTBS qua CTSLSS tại
một số nước trên thế giới.
Bảng 1.1: Tỷ lệ mắc SGTBS qua CTSLSS ở một số nước
Địa điểm Năm
công bố
Số (tỷ lệ) trẻ
được sàng
lọc
Sè trẻ
SGTBS

1.3.3. Giới
Trên thế giới SGTBS gặp ở nữ nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ/ nam giao động
từ 1,5- 3/1. Tại Mexico và Trung Quốc đều thấy tỷ lệ nữ/nam là 1.5/1 [86], tại
Anh tỷ lệ nữ/nam là 3/1 [68].
Ở Việt Nam theo Vũ Thị Bích Nga tỷ lệ nữ /nam là 2.5/1 [7], Theo
Nguyễn Thị Hoàn là 1.7/1 còn Hồ Anh Tuấn là 1.86/1 [18]. Lý do nữ gặp
nhiều hơn nam chưa được biết rõ.
1.4. vài nét về phôi thai học, giải phẩu và sinh lÝ tuyến giáp.
1.4.1. Phôi thai học.
Mầm của tuyến giáp xuất hiện vào khoảng tuần thứ 3 của thai kì, dưới
dạng một chỗ tăng sinh của tế bào biểu mô nội bì sàn họng, dài khoảng
5
1,4mm. Khi thai được khoảng 6mm, tuyến giáp và họng liên quan với nhau ở
dạng ống dẫn gọi là ống lưỡi giáp [5], [16],[35]
Khi thai được 7 tuần ( dài 14- 24mm) tuyến giáp hình bán nguyệt có
một eo nhỏ và dính với hai phần tuyến giáp ở hai bên tạo nên cái đuôi của túi
họng thứ tư. Khi chiều dài thai đạt 33mm nó bị tách và mất sự liên hệ với
họng. Đến tuần thứ 9 (48mm) tuyến giáp chỉ là một đám tế bào dẹt chưa có
chất keo, chất keo bắt đầu xuất hiện khi thai được 10 tuần ( dài khoảng
60mm), lúc này tuyến giáp cũng được tổ chức lại tạo thành những nang
tuyến . Sau khi chất keo xuất hiện thì tuyến giáp mới có khả năng liên kết iod
dưới dạng hữu cơ [5], [16],[35],[70].
Sự phát triễn về chức năng, giải phẩu tuyến giáp bào thai ở 3 phương
diện : phát triễn phôi thai của tuyến giáp, sự trưởng thành của vùng dưới đồi,
sự hình thành của trục dưới đồi- tuyến yên – tuyến giáp.
Phôi thai tuyến giáp phát triễn gần như đầy đủ vào tuần thứ 10- 12 của
thời kỳ thai ngén, trong thời gian này tuyến giáp bào thai đã phát triễn những
nét đặc trưng của nó và có khả năng tập trung iod, tổng hợp các
iodothyronine, cũng ở giai đoạn này tuyến yên bào thai có thể nhận biết và ức
chế TSH đánh dấu phóng xạ, sinh học. Sự trưởng thành của vùng dưới đồi có

âm tính của trục vùng dưới đồi- tuyến yên- tuyến giáp: vùng dưới đồi giải
phóng TRH. TRH lại kích thích tuyến yên bài tiết TSH. TSH tác dụng trực
tiếp lên tế bào nang giáp, tăng cường sự tổng hợp và bài tiết HMGT (T3 và
T4). Sự tăng lượng T3 tù do trong máu làm giảm sự bài tiết TSH của tuyến
yên (và TRH của vùng dưới đồi), Qua đó làm giảm sự bài tiết HMGT. Chỉ có
T3 tù do có tác dụng điều hoà và kết hợp với thụ thể đặc hiệu. T4 tù do tham
7
gia gián tiếp vào sự điều hoà, sau khi T4 được chuyển thành T3, thực chất T4
được coi như là một tiền hormon của T3. T3 là dạng hoạt động chính tại tế
bào.
Sự giảm nồng độ các hormon tuyến giáp trong máu có tác dụng ngược
lại.[1],[11],[20],[21]
1.4.4. Sinh tổng hợp hormon tuyến giáp .
Điều đặc biệt và là độc nhất của hormon tuyến giáp là sự có mặt của
iod hữu cơ trong cấu tạo hoá học của T3 và T4. Sự tổng hợp HMGT khác với
các hormon khác là nó phụ thuộc vào việc cung cấp iod qua thức ăn và nước
uống vào cơ thể.[1],[11]
Quá trình tổng hợp HMGT có thể được tóm tắt ở sơ đồ sau:
Hình 1.1. Sơ đồ chung về hoạt động chuyển hoá của tế bào nang tuyến giáp [11]
Tế bào nang của tuyến giáp có khả năng nhận và vận chuyển I qua tế bào
(1). Sau đó được oxy hoá thành I
0
(2) trong tế bào nhờ xúc tác của peroxydase.
Thyroglobulin (Tg) được tổng hợp ở tế bào nang (3). Iod được gắn vào gốc
iodotyrosin được kết hợp với nhau để tạo thành T4 và một lượng nhỏ T3

(5).
8
Phản ứng kết hợp với oxy hoá để tạo thành những iodothyronin (T4,T3) được
xúc tác bởi cùng enzym peroxydase, oxy hoá I thành I

9
1.5.2 Với sự phát triển thể chất sau khi sinh
Sự phát triển thể chất là một quá trình diễn ra liên tục, chịu sự tác động
của nhiều yếu tố: di truyền, nội tiết, môi trường [13]…Trong đó HMGT đóng
vai trò rất quan trọng. Ngay sau đẻ, sự phát triển thể chất bắt đầu phụ thuộc
vào HMGT, hormon tăng trưởng (GH) cũng như các yếu tố tăng trưởng
(Growth Factor- GH) [1].
1.5.2.1. Tác dụng của HMGT với sự bài tiết GH
Năm 1995 Giustina và cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của hormon
tuyến giáp lên sự bài tiết hormon phát triển đã thấy suy giáp gây giảm lượng
GH, giảm đáp ứng của tuyến yên với các tác nhân kích thích như : GHRH, hạ
đường huyết, arginine, giảm bài tiết cơ bản cũng như bài tiết GH về đêm [42].
các tác dụng tương tự cũng được tìm thấy ở người, Chernausek đã thấy lượng
GH ban đêm ở các bệnh nhân thiểu năng giáp sau điều trị đã tăng gấp hai lần so
với trước đIều trị [29]. Cassio và cộng sự cũng thấy rằng lưọng GH gắn protein
(GH binding protein – GHBP) cũng giảm ở nhóm bệnh nhân SGTBS. Cơ chế
tác dụng do tương tác giữa phức hợp T3- thụ thể với gen đIều hoà GH [28].
1.5.2.2. Tác dụng của HMGT với các yếu tố tăng trưởng
Thiếu HMGT gây giảm IGF-I, IGF-II, giảm các phức hợp IGF gắn protein
như IGFBP-3(IGF binding protein-3). Ngoài ra, HMGT cùng với IGF-I kích
thích sự phát triển sụn ở các đầu xương, kích thích gan, ruột bài tiết các
somatomedin [47]. HMGT còn kích thích bài một số các yếu tố tăng trưởng khác
như:
- Yếu tố tăng trưởng thần kinh
- Yếu tố tăng trưởng biểu bì
- Yếu tè sinh hồng cầu
10
1.5.2.3. Tác dụng HMGT với sự phát triển xương [1],[ 11],[ 20],[ 21]
HMGT phối hợp với GH để làm phát triển cơ thể:
- Kích thích sự biệt hoá của xương, sự trưởng thành của xương.

di cư của tuyến hoặc rối loạn hình thành mầm của tuyến ở chỗ nào đó trên
đường đi từ đáy lưỡi đến vùng giáp.
Kích thước tuyến phụ thuộc vào thời gian phát hiện và mức độ suy giáp
trạng. Nếu phát hiện ngay ở sơ sinh thì tuyến rất nhỏ, phát hiện muộn thì rất
to. Tuyến có thể bài tiết hormon bình thường trong nhiều năm. Loại này tiên
lượng tốt hơn loại không có tuyến giáp [39],[70]
* Thiểu sản tuyến giáp:
Thiểu sản tuyến giáp là do cấu tạo không bình thường của tuyến giáp, có
thể là thiếu một thuỳ, thiếu eo tuyến giáp hoặc thiếu thuỳ đỉnh và tách
hoặc mất eo tuyến giáp. Các dị tật này thường liên quan đến tật của túi
mang thứ 3 và thứ tư trong thời kỳ phôi thai [70]
Nguyên nhân của loạn sản tuyến giáp chưa thật rõ nhưng thấy liên quan
tới một số yếu tố sau:
- Mùa, khí hậu: ở Nhật Bản thấy mắc bệnh cao vào cuối mùa xuân và đầu
mùa thu. Ở Austrailia và Quebec vào cuối thu và đông [19]. Ở Việt Nam, theo
Võ Thị Thu Lan thì tỷ lệ trẻ được sinh cao vào tháng 2 và những tháng vào
màu xuân [6]
12
- Chủng tộc: ở Hoa Kỳ người da đen mắc bệnh thấp hơn người da trắng.
- Giới: Trẻ gái mắc bệnh nhiều hơn trẻ trai.
- Tỷ lệ mắc bệnh cao khi có mẹ mắc bệnh tự miễn hoặc mẹ và người
trong gia đình mắc bệnh tuyến giáp.
- Những người mang HLA AW24 thì nguyên cơ bị suy giáp trạng bẩm
sinh tăng 6 - 8 lần.
13
1.6.2. Rối loạn tổng hợp hormon tuyến giáp
Chiếm 10 - 15% trong suy giáp trạng bẩm sinh [19]. Qua điều tra sàng lọc ở
trẻ sơ sinh thấy tỷ lệ mắc bệnh là 1/40.000. Bệnh di truyền lặn gắn nhiễm sắc thể
thường và có tính chất gia đình, những người trong gia đình có thể mắc bệnh.
Dựa vào các rối loạn sinh hoá thấy có những loại rối loạn tổng hợp sau:

một thyroglobulin không bình thường.
1.6.3. Nguyên nhân khác
Ngoài những nguyên nhân trên còn có thể do không đáp ứng hormon
tuyến giáp, giảm TSH do tổn thương tuyến yên, hoặc có thể do mẹ trong khi
có thai sử dụng các thuốc kháng giáp trạng, hay iod khi chụp khoang ối…[20],
[21]
1.7. đặc điểm lâm sàng [20],[21]
1.7.1. Biểu hiện ở mạch và thân nhiệt:
* Mạch chậm: do tình trạng thiếu thyroxin làm giảm co bóp cơ tim dẫn
đến mạch chậm, giảm tuần hoàn ngoại vi nên da thường nỗi vân tím, theo
Nguyễn Thị Hoàn trung bình mạch của bệnh nhân SGTBS chậm từ 10- 20
nhịp/ phút.[4]
* Thân nhiệt: do tình trạng thiếu thyroxin nên giảm chuyển hoá, đặc
biệt giảm quá trình tạo nhiệt cung cấp cho cơ thể gây hạ thân nhiệt, theo
Nguyễn Thị Hoàn nhiệt độ trung bình của trẻ SGTBS là 36,5º ± 0,3ºc (đo ở
nách).[4]
1.7.2. Biểu hiện phù niêm.
Bệnh nhân SGTBS nếu có biểu hiện của phù niêm thì các dấu hiệu khác
của SGTBS hầu như đã bộc lỗ rõ và điển hình [4],[19],[20]
15
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàn gặp 93,7% trẻ có bộ mặt phù
niêm và 96,8% có tiếng khóc khàn[4].
16
1.7.3. Biểu hiện ở da- cơ -xương
- Do tình trạng thiếu thyroxin gây giảm nhịp tim, giảm tuần hoàn ngoại
vi, gây thâm nhiễm các tuyến mồ hôi và ứ đọng caroten ngoài da nên da
thường nỗi vân tím, khô và có màu xanh của thiếu vitamin A [4],[16],[19].
- Vàng da sinh lý kéo dài là do thiếu men glucoronyl transferase trong
gan nên gan không chuyển hết bilirubin gián tiếp thành trực tiếp vì vậy
bilirubin gián tiếp tăng cao trong máu [4],[16],[19]. Trong nghiên cứu của

Nhiều tác giả trên thế giới đã dùng một số test phát triển ( Devolopment
Quotient: DQ) để đánh giá sự phát triển của trẻ dưới 6 tuổi, đối với trẻ từ 6
tuổi trở lên sử dụng chỉ số khôn ( intelligence Quoitient: DQ). Mức độ chậm
phát triển tâm thần được tính theo công thức :
IQ ( DQ) =
Tuổi tinh thần
× 100
Tuổi thực
Theo phân loại quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi
năm 1992, nếu thương số trí tuệ < 70% là chậm phát triển tâm thần.
Theo Rovet càng điều trị muộn thương số trí tuệ càng giảm và tất cả đều
thấp hơn so với chỉ số bình thường.
18
Bảng 1.2: Điểm lâm sàng gợi ý có thể mắc suy giáp trạng bẩm sinh
Biểu hiện lâm sàng và các yếu tố nguy cơ Điểm
Phù niêm và có bộ mặt đặc biệt 2
Da nỗi vân tím 1
Thoát vị rốn 1
Thóp sau rộng > 0.5cm 1
Chậm lớn 1
Chậm phát triển tinh thần vận động 1
Táo bón kéo dài 2
Vàng da sinh lÝ kéo dài > 30 ngày 1
Thai già tháng > 42 tuần 1
Cân nặng khi đẻ >3.5kg 1
Tổng điểm 12
Khi có trên 4 điểm là gợi ý có thể mắc suy giáp trạng. [3]
1.8. Triệu chứng cận lâm sàng. [20],[21],[3]
- Nồng độ T4 toàn phần máu giảm <50 nmol/l: Rất hiếm giảm về không,
có khi chỉ hơi giảm. Sự thay đổi của T4 tuỳ thuộc vào nguyên nhân và thời

và quanh 2 hố mắt tạo "hình kính". Xương bướm chậm phát triển nên đáy
sọ ngắn. Các thông bào xương chũm, xương đá chậm phát triển. Hố yên có
thể rộng.
- Phản xạ đồ gân gót: Kéo dài hơn bình thường.
- Huyết đồ: Thiếu máu đẳng sắc.
- Điện tâm đồ: Thay đổi điện tâm đồ ở bệnh nhân rất phong phú: Nhịp
xoang chậm, PQ kéo dài, biên độ sóng P thấp và phức hợp QRS giảm, đoạn
ST và sóng T dẹt, 2 pha.[17]
1.9. Điều trị.
20
Mục đích điều trị là đạt tình bình giáp và duy trì ở tình trạng đó. Cần
được điều trị ngay khi đã được chẩn đoán và điều trị suốt đời bằng HMGT
tổng hợp như thyroxin (L-thyroxin, Levothyrox, Eltroxin- Belthyrox). [20],
[21],[3],[31].
1.9.1. Cách dùng thuốc [20],[21],[3],[31].
Bằng đường uống Levothyrox được uống một lần trong ngày vào buổi
sáng trước bữa ăn 1 giê.
1.9.2. Liều lượng thuốc.
Bảng 1.3: Liều lượng Levothyroxsử dụng bằng đường uống
Tuổi
µg/ngày µg/kg/ngày
0-6 tháng 25 - 50 8 –10
6-12 tháng 50 - 75 6 – 8
1-5 tuổi 75 - 100 5 – 6
6- 12 tuổi 100 - 150 4 – 5
12- người lớn 100 - 200 2 - 3
1.9.3. Theo dõi và điều trị ngoại trú
+ Theo dõi trong năm đầu:
- Khám lâm sàng (Toàn trạng, cân, chiều cao, DQ, IQ ), xét nghiệm
TSH, T4 3tháng/1 lần.

sự phát triển về chiều cao và cân nặng toàn bình thường. Cơ thể trẻ phát
triển mạnh ở năm đầu tiên khi điều trị bắt đầu. Theo Bucher và cộng sự
22
nghiên cứu sự phát triển thể chất của 103 trẻ SGTBS, tác giả thấy các nhóm
điều trị muộn nhưng trước 1 tuổi vẫn cho sự phát triển thể chất như bình
thường [27]. Chiesa và cộng sự khi nghiên cứu sự phát triển của 100 trẻ
SGTBS dọc theo thời gian đến 5 tuổi đã thấy rằng nhóm điều trị muộn
nhưng trước 2 tuổi vẫn đạt được chiều cao bình thường lúc 5 tuổi [30].
Sau khi có CTSLSS, việc điều trị được bắt đầu từ thời kỳ sơ sinh, các
nghiên cứu của Aronson, Grant cũng như một số nghiên cứu khác đều thấy sự
phát triển chiều cao, cân nặng các trẻ SGTBS sau điều trị không có sự khác
biệt so với nhóm trẻ bình thường [25],[43]. Theo Hồ Anh Tuấn, những trẻ
được chẩn đoán trước 1 tuổi, đặc biệt là trước 3 tháng tuổi thì sự phát triển thể
chất hoàn toàn bình thường [18].
* Sự phát triển tinh thần.
Sự phát triển tinh thần là chỉ số quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp tới
chất lượng cuộc sống lâu dài của trẻ. Chỉ số này đã thu hút rất nhiều các nhà
khoa học.
Nghiên cứu của Hsiao.PH (1999) ở Đài Loan cho thấy bệnh nhân được
điều trị trước 3 tháng tuổi có giá trị trung bình IQ cao hơn so với nhóm bệnh
nhân điều trị sau 3 tháng tuổi một cách có ý nghĩa với p<0.001 [49]. Tương tự
nghiên cứu của Hồ Anh Tuấn nhóm trẻ được chẩn đoán trước 3 tháng đạt chỉ
số IQ 86.6 và không có sự khác biệt so với nhóm trẻ không bị bệnh [18].
23
1.10.2. Nguyên nhân SGTBS.
SGTBS do rối loạn HMGT có tiên lượng tốt hơn SGTBS do loạn sản
tuyến giáp. Trong loạn sản tuyến giáp thì loại không có tuyến giáp cho tiên
lượng xấu hơn loại tuyến giáp lạc chỗ và thiểu sản tuyến giáp [40],[49].
Năm 1972 J.Maenpaa nghiên cứu thấy chỉ có 44% bệnh nhân không có
tuyến giáp sau điÒu trị có IQ trên 85, ở nhóm rối loạn tổng hợp HMGT và

bình thường sau vài tháng và trẻ sẽ phát triển thể chất bình thường sau 3 tháng
dến 3 năm [52]. Hiện nay liều khởi đầu L-Thyroxine được hội nhi khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo là 10-15µg/kg/ngày [30].
1.11. Tình hình nghiên cứu suy giáp trạng bẩm sinh ở Việt Nam
Ở Việt Nam trước năm 2000 do chưa có điều kiện tiến hành CTSLSS nên
các công trình nghiên cứu chỉ xoay quanh triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán.
Năm 1977, khi nghiên cứu 25 trường hợp SGTBS , Vũ Bích Nga thấy
16% trẻ SGTBS được chẩn đoán trước 1 tuổi [7].
Năm 1990, Nguyễn Thu Nhạn báo cáo 175 trường hợp SGTBS trong 10
năm tại khoa Nội tiết- Viện nhi cho thấy bệnh nhân có tiên lượng tốt hơn nếu
nguyên nhân là rối loạn tổng hợp HMGT, điều trị trước 3 tháng tuổi [9].
Năm 1992, Nguyễn Thị Hoàn nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, yếu tố nguy
cơ và kết quả điều trị bước đầu SGTBS ở trẻ em [4].
Năm 1999, Hồ Anh Tuấn nghiên cứu sự thay đổi các chỉ số sinh học ở trẻ
SGTBS sau điều trị tại Viện nhi [18].
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status