Tài liệu Đề tài: “Nghiên cứu sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp và nước mặt xung quang khu công nghiệp Đình Trám tỉnh Bắc Giang” doc - Pdf 86

Luận văn báo cáo
Đề tài:
“Nghiên cứu sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp
và nước mặt xung quang khu công nghiệp Đình Trám
tỉnh Bắc Giang”
1
MỤC LỤC
Cây trồng.....................................................................................................19
Cu................................................................................................................24
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Môi trường sống của chúng ta hiện nay đang ngày càng biến đối mạnh
mẽ. Các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải,
hoạt động khai khoáng ngày càng tăng…, là nguyên nhân làm cho môi trường
bị huỷ hoại nghiêm trọng, làm cho nhiệt độ trái đất tăng, lỗ thủng tầng ôzôn
ngày càng lớn, mưa axít, nghịch đảo nhiệt.... Ô nhiễm môi trường, trong đó
vấn đề ô nhiễm môi trường đất đang là một vấn đề bức xúc của toàn cầu.
Từ trước tới nay người ta thường coi môi trường tự nhiên có khả năng
tự làm sạch, tuy nhiên nó cũng chỉ xảy ra ở một ngưỡng nhất định, nếu quá
ngưỡng đó thì sẽ gây ra ô nhiễm. Trong quá trình sinh hoạt, sản xuất hầu hết
các phế thải đều quay trở lại môi trường đất, nước dưới các hình thức khác
nhau. Sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp nói chung và đất nông
nghiệp ở các làng nghề nói riêng là một trong những hiểm họa cho môi
trường đất. Vấn đề ô nhiễm KLN trong đất đang diễn ra phổ biến nhiều nơi
trên thế giới. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích đất nông
nghiệp ngày càng bị thu hẹp.
2
Trong môi trường nông nghiệp, đất đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi
đất là đối tượng chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp. Hầu hết các hoạt động
sản xuất nông nghiệp đều diễn ra trên bề mặt đất, đặc biệt là các hoạt động
trồng trọt, đất đóng vai trò là vật mang đối với cây trồng.

mặt xung quanh khu công nghiệp.
4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Thực trạng môi trường Việt Nam
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới, Việt Nam đang
đối đầu với những vấn đề gay cấn do tài nguyên thiên nhiên bị thoái hóa và sự
xuống cấp của chất lượng môi trường. Sự chuyển đổi từ một nền kinh tế sản
xuất tập trung sang một nền kinh tế hướng theo thị trường đã đẩy nhanh sự
tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh, nhưng đồng
thời nước ta cũng đang phải đối đầu với một số vấn đề nghiêm trọng, trong đó
có vấn đề môi trường.
1.1. Ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi
trường đất bởi các chất gây ô nhiễm. Đất bị ô nhiễm có thể phân loại theo
nguồn gốc phát sinh, hoặc các tác nhân gây ô nhiễm: Do chất thải sinh hoạt,
do hoạt động công nghiệp, do hoạt động nông nghiệp, do chất độc hoá học...
Ô nhiễm đất sẽ làm đảo lộn cân bằng sinh thái, suy giảm các chất dinh
dưỡng và phá huỷ cấu trúc của đất, dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu
gây ô nhiễm đất:
1.1.1. Ô nhiễm do chất thải công nghiệp
Trong quá trình phát triển, các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh, đã và đang gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng nghiêm
trọng do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải
và sinh hoạt gây ra. Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu công
nghiệp (KCN) trọng điểm ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày thải vào hệ
thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng 1.740.000 m
3
nước thải công
nghiệp, trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD
5

hiểm là các KLN như chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), asen (As), …
1.1.2. Ô nhiễm do phân hoá học
Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường (BCHTMT) Việt Nam năm 2005,
ở Việt Nam, 80% phân hoá học dành cho lúa, lượng NPK bón còn thấp. Năm
2000 toàn bộ phân bón cả nước qui ra đơn vị dinh dưỡng nguyên chất là
211.000 tấn, đến năm 2005 dự kiến khoảng 2.708.000 tấn. Nếu tính trên mỗi
ha: Năm 2000 tổng lượng NPK đã bón là 171,5 kg/ha (tỷ lệ N: P
2
O
5
: K
2
O = 1 :
6
0,38 : 0,31); bình quân năm từ 2001 – 2003 đã bón 172,6 kg/ha (tỷ lệ N: P
2
O
5
:
K
2
O = 1 : 0,55 : 0,36); dự kiến giai đoạn 2004 – 2005 bón khoảng hơn 300
kg/ha (tỷ lệ N: P
2
O
5
: K
2
O = 1 : 0,58 : 0,37) so với bình quân thế giới còn thấp.
Lượng phân bón bình quân sử dụng cho 1 ha gieo trồng rất thấp, đặc biệt ở

tác ở miền Nam Việt Nam đã bị rải chất độc hoá học từ 1 lần trở lên. Mỹ đã
sử dụng 72 triệu lít chất làm rụng lá và diệt cỏ có nồng độ cao, trong đó chất
độc màu da cam có chứa dioxin chiếm 60%, chất trắng chiếm 13% và chất
xanh chiếm 27%. Cùng với 15 triệu tấn bom đạn cũng được thả xuống đã huỷ
diệt hàng triệu ha rừng và đất trồng trọt, nhiễm độc nhiều nguồn nước, gây
tổn hại nghiêm trọng về số lượng và chủng loại các sinh vật, về chế độ khí
hậu thuỷ văn dòng chảy, đặc biệt gây hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ con
người[3].
1.2. Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước mặt, nước ngầm và nước ven bờ ngày càng trở nên rõ rệt
ở Việt Nam. Hạ lưu các con sông chính có chất lượng nước xấu, trong khi đó
các ao, hồ, kênh mương nội thị thì đang nhanh chóng biến thành các bể chứa
nước thải. Các tầng chứa nước dưới đất cũng có dấu hiệu ô nhiễm và nhiễm
mặn ở một vài nơi. Nước ven bờ cũng bị ô nhiễm do các nguồn ô nhiễm trên
đất liền, các hoạt động xây dựng cảng, sự cố tràn dầu và xói lở bờ biển.
1.2.1. Ô nhiễm nguồn nước mặt
Nhìn chung chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt,
nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng.
Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải
sinh hoạt không được xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các dòng sông. Chất
lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD, COD, NH4
+
, tổng N,
tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
8
Mạng quan trắc môi trường quốc gia đã tiến hành quan trắc ở 4 con
sông chảy qua các khu đô thị chính của Việt Nam là sông Hồng (Hà Nội),
sông Cấm (Hải Phòng), sông Hương (Huế) và sông Sài Gòn (TP. Hồ Chí
Minh). Kết quả cho thấy, giá trị đo được của 2 thông số ô nhiễm cơ bản là
amôni (NH

nhiễm mặn đã được ghi nhận trên một nửa diện tích cả vùng[4].
Suy thoái và ô nhiễm nước ngầm xảy ra mạnh mẽ ở các khu vực đô thị,
nhất là ở các thành phố lớn, các KCN, khu trồng cây công nghiệp cần nhiều
nước sinh hoạt và nước tưới. Ở vùng đồi núi, mặc dù mức độ ô nhiễm về nguồn
nước còn chưa đáng lo ngại, nhưng đang có xu thế giảm dần trữ lượng và hạ
thấp mực nước ngầm do mất rừng.
1.2.3. Ô nhiễm nước biển và ven biển
Nước biển Việt Nam đã bị ô nhiễm bởi chất rắn lơ lửng (cao nhất là
vùng ĐBSH và ĐBSCL), nitrat, nitrit, coliform (chủ yếu là khu vực ĐBSCL),
dầu và kim loại kẽm.
Sự cố tràn dầu gây ô nhiễm rất lớn đến các vùng biển ven bờ, khoảng
30% hàng hoá cập tại các bến cảng là dầu. Các hoạt động khai thác ngoài khơi
cũng tăng lên hàng năm. Từ năm 1996 đến năm 2002, sản xuất dầu thô tăng
từ 8,8 lên 17 triệu tấn/năm. Mỗi năm có khoảng 772.000 tấn dầu bị rò rỉ ra
vùng biển Đông từ các hoạt động khai thác dầu. Trong giai đoạn 1995 - 2002
có ít nhất 35 vụ tràn dầu lớn đã xảy ra trên biển. Uớc tính có khoảng 92.000
tấn dầu từ các sự cố tràn dầu này chảy ra môi trường biển và ven biển[4].
2. Nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng
2.1. Nghiên cứu kim loại nặng trên thế giới
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, KLN có nguồn gốc phát sinh từ
nhiều nguồn khác nhau. Trong đất, thông thường hàm lượng kim loại hình thành
trong đá macma lớn hơn trong các đá trầm tích (bảng 2.1). Sự phát thải của các
nguyên tố KLN vào môi trường do hoạt động của con người (khai khoáng, công
nghiệp, giao thông...) lớn hơn rất nhiều lần so với hoạt động của các quá trình tự
nhiên (núi lửa, động đất, sạt lở...), đặc biệt là Pb, Zn, Cu. (bảng 2.2)
10
Bảng 2.1. Hàm lượng của một số kim loại nặng trong một số loại đất đá
Đơn vị: mg/kg
Nguyên
tố

Đơn vị: 10
8
g/năm
Nguyên tố Tự nhiên Nhân tạo
11
Sb 9,8 380
As 28 780
Cd 2,9 55
Cr 580 940
Co 70 44
Cu 190 2.600
Pb 59 20.000
Mn 6.100 3.200
Hg 0,4 110
Mo 11 510
Ni 280 980
Ag 0,6 50
Sn 52 430
V 650 2.100
Zn 360 8.400
(Nguồn: Galloway & Freedmas - 1982) [6]
Theo Thomas (1986), các nguyên tố KLN như: Cu, Zn, Cd, Hg, Cr,
As... thường chứa trong phế thải của các ngành luyện kim màu, sản xuất ô tô.
Khi nước thải chứa 13 mg Cu/l, 10 mg Pb/l, 1 mg Zn/l đã gây ô nhiễm đất
nghiêm trọng. Ở một số nước như Đan Mạch, Nhật Bản, Anh, Ailen, hàm
lượng Pb cao hơn 100mg/kg đã phản ánh tình trạng ô nhiễm Pb[23].
Kết quả điều tra đất của 53 thành phố, thị xã ở nước Anh thấy hầu hết
đất có hàm lượng Pb tổng số vượt trên 200 ppm, ở nhiều vùng công nghiệp đã
vượt quá 500 ppm[7].
Ở Nhật Bản, đất bị ô nhiễm thuỷ ngân và Cd rất nặng. Từ 1953 – 1967

15
0
565
222
0
520
10
0
28
104
0
5
Bùn nhà máy dệt - - - 394 864 129 63 4
249
0
-
Bùn nhà máy rượu - - - 81 255 29 18 2 117 -
Bùn nhà máy chế biến gỗ - - - 53 122 42 119 2 81 -
Bùn cống rãnh ở Anh - - - 800
300
0
700 80 - 250 -
(Nguồn: Tan et al, 1971: Wild, 1993)
Ở Pakistan, người ta cũng phát hiện nồng độ đáng kể các KLN trong
nước và các cặn lắng ở vùng ven bờ khu vực sông Indus[23].
2.1.2. Ô nhiễm do hoạt động giao thông
Giao thông là một trong những nguyên nhân gây tích lũy KLN ở Châu
Âu, người ta ước tính có tới 76% tổng lượng Pb thoát ra môi trường là do
xăng chì làm nhiên liệu[26].
Nghiên cứu nước mưa chảy ra từ các đường cao tốc một số vùng Tây

cơ thể.
Phân tích các chất thải hữu cơ trong các khu vực đông dân cư có thể
thấy hàm lượng Pb lên tới hàng trăm mg/kg. Ở Đan Mạch, hàm lượng Pb
trong cặn bể lắng lên tới 4700 mg/kg[9].
2.1.3. Ô nhiễm kim loại nặng do nông nghiệp
Sử dụng chế phẩm trong sản xuất nông nghiệp bao gồm phân hữu cơ,
phân vi sinh, HCBVTV và thậm chí nước tưới cũng dẫn tới việc vận chuyển
các KLN vào đất nông nghiệp. Hàm lượng KLN sẽ tăng lên trong đất theo
thời gian. Nồng độ thường thấy kim loại nặng trong một số chế phẩm nông
nghiệp được liệt kê trong bảng 2.5.
15
Bảng 2.5. Nồng độ thường thấy của các KLN trong một số loại chế phẩm nông nghiệp
Đơn vị: mg/kg
Cr Mn Co Ni Cu Zn Cd Hg Pb
Bùn cặn 8 - 46.000 60 - 3.900 1 - 260 6 - 5.300 50 - 8.000 91 - 49.000 <1 - 3.410 0,1 - 55 2 - 7.000
Phân ủ 1,8 - 410 - - 0,9 - 279 13 - 3.580 82 - 5.894 0,01 - 100 0,09 - 21 1,3 - 2.240
Phân
chuồng
1,1 - 55 30 - 969 0,3 – 24 2,1 - 30 2 - 172 15 - 566 0,1 - 0,8 0,01 - 0,36 0,4 - 27
Phân
photphat
66 - 245 40 - 2.000 1 – 12 7 - 38 1 - 300 1 - 42 0,1 - 190 0,01 - 2 4 - 1.000
Phân nitrat 3,2 - 19 - 5,4 – 12 7 - 34 - 10 - 450 0,005 - 8,5 0,3 - 2,9 2 - 120
Vôi 10 - 15 40 - 1.200 0,4 – 3 10 - 20 2 - 125 - 0,04 - 0,1 0,05 20 - 1.250
HCBVTV - - - - - - - 0,6 - 6 11 - 26
Nước tưới - - - - - <0,05 - <20
16
Đánh giá hàm lượng Cu, Zn, Cd, Pb trong các loại phân hóa học và ước
tính khối lượng kim loại nặng bón vào đất trồng lúa ở Valencia (Tây Ban Nha)
cho thấy: Phân phốt phát là loại phân hóa học có chứa hàm lượng các KLN lớn

100
3
5
125
250
400
-
-
50
150
50
1
2
50
300
500
2
10
(Nguồn: Kabata-Pendias,1992)[27]
2.2. Nghiên cứu ô nhiễm KLN ở Việt Nam
17
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ô nhiễm KLN còn rất hạn chế và đang phát
triển trong nhiều năm gần đây.
Theo tác giả Trần Kông Tấu và Trần Công Khánh (1998)[10] khi nghiên
cứu KLN dạng tổng số đã chỉ ra 7 độc tố (Co, Cr, Fe, Mn, Ni, Pb, Zn) tập trung chủ
yếu ở 2 loại đất là đất phù sa thuộc ĐBSH và ở đất ferralsols - tức đất feralit nâu đỏ
phát triển trên bazan - đây là hai loại đất có nguồn nước ngầm cũng rất phong phú.
Acrisols có nguồn gốc là đất xám bạc màu - một loại đất thoái hoá điển hình ở Tây
Nguyên có hàm lượng các KLN ít nhất. KLN dạng linh động có xu hướng tập
trung ở đất phèn ĐBSCL, kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.7.

1,45
239
134,7
18,6
<0,57
29,1
<0,51
36,2
1,1
Đất phù sa vùng
ĐBSH
TS

13,6
0,24
43,2
<0,36
42280
<0,83
227
43,8
34,9
<0,57
37,1
0,29
86,7
0,6
Đất xám phát triển
trên Granit miền
Trung

<0,51
21,4
4,89
Hàm lượng các nguyên tố KLN của nhiều loại đất khác nhau cũng được Hồ
Thị Lam Trà và Kazuhiko Egashira (2001)[28] nghiên cứu. Kết quả thể hiện ở bảng
2.8 cho thấy, sự khác nhau giữa hàm lượng KLN của các khu vực có thể do sự
khác biệt giữa đá mẹ và mẫu chất. Trong đá vôi có hàm lượng Cu và Zn khá cao
(106 mg/kg và 153 mg/kg) nhưng lại thấp ở đá cát (16 mg/kg và 32 mg/kg). Hàm
18
lượng Pb ở mức trung bình trong các loại đá và đất trên còn Cd lại có hàm lượng
khá thấp.
Bảng 2.8. Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp ở một số
vùng của Việt Nam (mg/kg)
Địa điểm
Đá mẹ và
mẫu chất
Cây trồng Cu Pb Zn Cd
Hải Phòng Phù sa Lúa 24 33 89 0,09
Hà Nội Phù sa Lúa- Rau 22 24 195 0,09
Hà Giang Phù sa Lúa 24 21 57 0,05
Bắc Giang Đá cát Cây ăn quả 16 19 32 0,07
Sơn La Đá vôi Cây ăn quả 58 27 144 0,04
Ninh Bình Đá vôi Mía 106 33 153 0,02
Nghệ An Đá bazan Cao su 47 24 159 0,02
Đắc Lắc Đỏ bazan Lúa 90 10 124 0,08
Gia Lai Đá bazan Cao su 83 11 105 -
Lâm Đồng Đá bazan Cà phê 49 11 80 -
2.2.1. Ô nhiễm KLN do công nghiệp và đô thị
Nguồn phát tán các KLN trước hết phải kể đến sản xuất công nghiệp, công
nghiệp có sử dụng sút, clo là nguồn phế thải nhiều thuỷ ngân; ngành công nghiệp

), cao gấp đôi so với mùa mưa. Hàm lượng các kim
loại nặng khác như As, Cu, Mn tích luỹ trong đất cũng khá lớn và theo tiêu chuẩn
về hàm lượng các kim loại trong đất và trong không khí đã cho chúng ta thấy cần
có sự cảnh báo về môi trường.
Bảng 2.10. Hàm lượng của các nguyên tố kim loại nặng trong bụi không khí
và một số mẫu đất ở thành phố Hồ Chí Minh
Nguyên tố
Đất bề mặt
(mg/kg)
Không khí (µg/m
3
)
Mùa khô Mùa mưa
As 11,60 1,50 1,00
Cd 0,6 - -
Cu 160 - -
20
Fe 5,00 2960 2130
Hg 0,12 - -
Mn 670 32,30 30,00
Pb 123 246 127
Nghiên cứu của tác giả N.M.Maqsud (1998)[12] (đại học tổng hợp
Mainz_Đức) về hàm lượng KLN tích tụ trong nước và bùn của các kênh rạch ở
vùng nội ô và ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Nồng độ các KLN độc
hại trong nước ô nhiễm của các kênh rạch vượt quá giá trị cho phép so với nước
sông rạch không ô nhiễm tăng từ 16 đến 700 lần. Nước ở các kênh rạch Nhiêu
Lộc - Thị Nghè, Cầu Bông, Ucay so với giá trị tiêu chuẩn có hàm lượng Cd gấp
16 lần, Cr gấp 60 lần, Zn gấp 90 lần, Pb gấp 700 lần. Hàm lượng các KLN trong
trầm tích của kênh Nhiêu Lộc tại địa điểm cầu Ông Tá rất cao: Tích luỹ As
(18,3%), Pb (7460 ppm), Cu (1090 ppm), Zn (2200 ppm). Nguyên nhân gây nên

biệt là các khu vực gần nhà máy và khu công nghiệp. Cd đã có sự tích luỹ cao
trong đất với nồng độ từ 9,9 – 10,3 mg/kg, vượt quá 5 lần mức độ cho phép.
Theo tác giả Hồ Thị Lam Trà và Kazuhiko Egashira (1999)[28] khi nghiên
cứu hàm lượng một số KLN trong đất nông nghiệp tại huyện Từ Liêm và Thanh
Trì - Hà Nội cho thấy: Hàm lượng các KLN dao động trong khoảng sau: 0,16 -
0,36 mg Cd/kg; 40,1 - 73,2 mg Cu/kg; 31,9 - 5,3 mg Pb/kg; 98,2 - 137,2 mg
Zn/kg. Nói chung đất nông nghiệp của hai huyện Từ Liêm và Thanh Trì chưa bị ô
nhiễm KLN (theo TCCP - 1995), trừ Cu. Tại vùng đất chuyên rau của Tây Tựu -
Từ Liêm hàm lượng Cu đã cao hơn từ 20 - 30 mg/kg so với đất khác (73,2 mg
Cu/kg). Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do người dân sử dụng nhiều phân
hoá học có chứa Cu trong quá trình trồng rau.
Bảng 2.11. Hàm lượng một số kim loại nặng trong các sản phẩm dùng làm
phân bón trong nông nghiệp
Đơn vị: ppm
22
Kim
loại
Phân
Phốtpho
Phân
Nitơ
Đá vôi
Bùn
cống thải
Phân
chuồng
Nước
tưới
Thuốc
BVTV

cho phép. Chì: 0,7 - 2,7mg/l, gấp 7 - 27 lần. Kẽm: 32 - 197mg/l, gấp 1,3 - 8,2 lần.
23
Đồng: 11,24 - 97,5mg/l, gấp 23 - 195 lần. Ô nhiễm nguồn nước không chỉ báo
động ở việc tôm chết hàng loạt mà còn là mối nguy hại đối với việc sử dụng nước
kênh làm nước uống cho gia cầm (heo, gà, vịt...)[1].
Theo các chuyên gia, mỗi năm Việt Nam sử dụng đến 9 triệu tấn hóa chất
thuộc 500 loại khác nhau, trong đó phần lớn là thuốc trừ sâu và còn lại là trừ cỏ,
trừ bệnh. Do đó, không kể một số lượng lớn ước tính hàng triệu tấn hoá chất được
nhập lậu từ Trung Quốc và Thái Lan, Việt Nam hiện nay phải đối mặt với hai vấn
nạn lớn: Môi trường thoái hóa nhanh, và sức khỏe con người[1].
2.2.3. Ô nhiễm KLN do chất thải làng nghề
Hiện nay, ở Việt Nam vấn đề ô nhiễm môi trường đất và nước xảy ra khá
nghiêm trọng ở các làng nghề tái chế kim loại. Theo nghiên cứu của các nhà khoa
học thì hàm lượng các KLN trong nước thải của các làng nghề tái chế kim loại
hầu hết đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần và đều thải trực tiếp vào môi
trường mà không qua xử lý.
Khi nghiên cứu về môi trường đất ở làng nghề cô đúc nhôm, đồng Văn
Môn - Yên Phong - Bắc Ninh, tác giả Phạm Quang Hà cùng cộng sự (2000)[24]
cho thấy hàm lượng KLN khá cao: Trung bình hàm lượng Cd là 1,0 mg/kg (dao
động từ 0,3 - 3,1 mg/kg), Cu là 41,1 mg/kg (dao động từ 20,0 - 216,7 mg/kg), Pb
là 39,7 mg/kg (dao động từ 20,1 - 143,1 mg/kg) và Zn là 100,3 mg/kg (dao động
từ 33,7 - 886,4 mg/kg). Kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng 2.12.
Bảng 2.12. Hàm lượng các kim loại nặng trong đất ở Văn Môn
Đơn vị: mg/kg
Chỉ tiêu
Mức độ
Cu
Pb Zn Cd
Trung bình của xã 41,1 39,7 100,3 1,0
Độ lệch chuẩn 40,7 24,2 176,5 0,6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status