Trường Đại học Dân lập Phương Đông
Khoa Công nghệ Sinh học & Môi trường
CHUYÊN ĐỀ :
ĐÁNH GIÁ SỰ TÍCH LUỸ KIM
LOẠI NẶNG TRONG MỘT SỐ LOÀI
NHUYỄN THỂ NUÔI LÀM THỰC
PHẨM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN :
SINH VIÊN THỰC HIỆN :
MSSV :
LỚP :
Hà Nội, 2014
MỞ ĐẦU
Ngày nay, người ta khẳng định được rằng nhiều nguyên tố kim loại có vai
trò cực kì quan trọng đối với cơ thể sống và con người. Tuy nhiên nếu hàm
lượng lớn chúng sẽ gây độc hại cho cơ thể. Sự thiếu hụt hay mất cân bằng của
nhiều kim loại vi lượng trong các bộ phận của cơ thể như gạn, tóc, máu, huyết
thanh là những nguyên nhân hay dấu hiệu của bệnh tật, ốm đau hay suy dinh
dưỡng và có thể gây tử vong. Thậm chí, đối với một số kim loại người ta mới
chỉ biết đến tác động độc hại của chúng đến cơ thế.
Kim loại nặng có thể xâm nhập vào cơ thể con người chủ yếu thông qua
đường tiêu hoá và hô hấp. Tuy nhiên, cùng với mức độ phát triển của công
nghiệp và sự đô thị hoá, hiện nay môi trường sống của chúng ta bị ô nhiễm trầm
trọng. Các nguồn thải kim loại nặng từ các khu công nghiệp và không khí, vào
nước, vào đất, vào thực phẩm rồi xâm nhập vào cơ thế con người qua đường ăn
uống, hít thở dẫn đến sự nhiễm độc. Do đó, việc nghiêm cứu và phân tích các
kim loại nặng trong môi trường sống, trong thực phẩm và tác động của chúng tới
cơ thể con người nhằm đề ra các biện pháp tối ưu bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ
cộng đồng là một việc vô cùng cần thiết. Nhu cầu về thực phẩm sạch, đảm bảo
sức khoẻ đã trở thành nhu cầu cần thiết, cấp bách và được toàn xã hội quan tâm.
trong nước sông hồ, nước biển, sa lắng trong trầm tích.Trong vòng hai thế kỷ
qua, các kim loại nặng được thải ra từ hoạt động của con người như: hoạt động
sản xuất công nghiệp (khai khoáng, giao thông, chế biến quạng kim loại, ),
nước thải sinh hoạt, hoạt động sản xuất nông nghiệp (hóa chất bảo vệ thực vật,
thuốc trừ sâu diệt cỏ )… đã khiến cho hàm lượng kim loại nặng trong môi
trường tăng lên đáng kể.
Một số kim loại nặng rất cần thiết cho cơ thể sống và con người. Chúng là
các nguyên tố vi lượng không thể thiếu, sự mất cân bằng các này có ảnh hưởng
trực tiếp tới sức khỏe của con người. Sắt giúp ngừa bệnh thiếu máu, kẽm là tác
nhân quan trọng trong hơn 100 loại Enzyme. Trên nhãn của các lọ thuốc
vitamin, thuốc bổ xung khoáng chất thường có Cr, Cu, Fe, Zn, Mn, Mg, K,
chúng có hàm lượng thấp và được biết đến như lượng vết. Lượng nhỏ các kim
loại này có trong khẩu phần ăn của con người vì chúng là thành phần quan trọng
trong các phân tử sinh học như hemoglobin, hợp chất sinh hóa cần thiết khác.
Nhưng nếu cơ thể hấp thu một lượng lớn các kim loại này, chúng có thể gây rối
loạn quá trình sinh lí, gây độc cho cơ thể hoặc làm mất tính năng của các kim
loại khác.
Kim loại nặng có độc tính là các kim loại có tỷ trọng ít nhất lớn gấp 5 lần
tỷ trọng của nước. Chúng là các kim loại bền (không tham gia vào quá trình inh
hóa trong cơ thể) và có tính tích tụ sinh học (chuyển tiếp trong chuỗi thức ăn và
đi vào cơ thể người). Các kim loại này bao gồm: Hg, Ni, Pb, As, Cd, Al, Pt, Cu,
Cr, Mn….Các kim loại nặng khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật gây độc tính.
Kim loại nặng xâm nhập vào cơ thể người qua đường hô hấp, thức ăn hay
hấp thụ qua da được tích tụ trong các mô theo thời gian sẽ đạt tới hàm lượng gây
độc. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng kim loại nặng có thể gây rối loạn hành vi của
con người do tác động trực tiếp đến chức năng tư duy và thần kinh. Gây độc cho
các cơ quan trong cơ thể như máu, gan, thận, cơ quan sản xuất hoocmon, cơ
quan sinh sản, hệ thần kinh gây rối loạn chức năng sinh hóa trong cơ thể do đó
làm tăng khả năng bị dị ứng, gây biến đổi gen. Các kim loại nặng còn làm tăng
độ axit trong máu, cơ thể sẽ rút canxi từ xương để duy trì pH thích hợp trong
IARC đã xếp Asen vào nhóm các chất gây ung thư cho con người. Nhiễm độc
Asen gây ung thư da, làm tổn thương gan, gây bệnh dạ dầy, bệnh ngoài da, bệnh
tim mạch….
Asen xâm nhập vào cơ thể qua 2 con đường:
Đường tiêu hóa: Nhận được chủ yếu thông qua thực phẩm mà nhiều nhất
là trong đồ ăn biển, động vật nhuyễn thể, đặc biệt là động vật nhuyễn thể. Hoặc
do tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, thuốc, nước uống có hàm lượng
As cao…
Đường hô hấp: As lắng đọng trong không khí gây tác hại trực tiếp cho con
người qua đường hô hấp.
Ngoài ra, Asen còn xâm nhập vào cơ thể người qua tiếp xúc với da. Asen ở
các trạng thái tồn tại khác nhau thì cũng khác nhau về độc tính đối với sức khỏe
con người. Hàm lượng Asen 0.01mg/kg có thể gây chết người. Các hợp chất
As(III) có độc tính mạnh nhất ( thường gọi là thạch tín). Khi xâm nhập vào cơ
thể As(III) sẽ kết hợp với các nhóm – SH của Enzim trong người làm mất hoạt
tính của chúng.
Độc tính của Chì
Trong sản xuất công nghiệp thì Pb có vai trò quan trọng, nhưng đối với cơ
thể thì chưa chứng minh được Pb có vai trò tích cực gì. Song độc tính của Pb và
các hợp chất của nó đối với cơ thể người và động vật thì quá rõ. Không khí,
nước và thực phẩm bị ô nhiễm Pb đều rất nguy hiểm cho mọi người, nhất là trẻ
em đang phát triển và động vật. Chì có tác dụng âm tính lên sự phát triển của bộ
não trẻ em, Pb ức chế mọi hoạt động của các enzym, không chỉ ở não mà còn ở
các bộ phận tạo máu, nó là tác nhân phá hủy hồng cầu.
Khi hàm lượng Pb trong máu khoảng 0,3 ppm thì nó ngăn cản quá trình sử
dụng oxi để oxi hóa glucoza tạo ra năng lượng cho quá trình sống, do đó làm
cho cơ thể mệt mỏi. Ở nồng độ cao hơn (>0,8 ppm) có thể gây nên thiếu máu do
thiếu hemoglobin. Hàm lượng chì trong máu nằm trong khoảng ( >0,5 – 0,8
ppm) gây ra sự rối loạn chức năng của thận và phá hủy não. Xương là nơi tàng
trữ, tích tụ chì trong cơ thể, ở đó chì tương tác với photphat trong xương rồi
1.3.Giới thiệu chung về Asen, Cadimi và Chì
Trong bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học, nguyên tố Asen
nằm ở ô số 33, thuộc nhóm VA, chu kì 4. Cấu hình electron của As (Z = 48) là:
[Ar]3d
10
4s
2
4p
3
,với cấu hình có sự tham gia của các obitan d nên trong các hợp
chất As có thể có số ôxi hóa +3, +5 và – 3.
Nguyên tố Cadimi (Cd) nằm ở ô số 48, thuộc nhóm IIB, chu kỳ V.
Nguyên tử Cd có các obitan d đã điền đủ 10 electron.Cấu hình electron của
Cadimi (Z = 48 ): [Kr]4d
10
5S
2
.
Nguyên tố chì có số thứ tự 82, thuộc nhóm IV A, chu kỳ VI. Cấu hình
electron của Pb ( Z = 82 ): [Xe]4f
14
5d
10
6S
2
6P
2
.
As chiếm khoảng 10
-4
Bảng1: Một số hằng số vật lý quan trọng của Asen, cadimi và chì
Hằng số vật lý Asen Cadimi Chì
Khối lượng nguyên tử ( đvC)
Nhiệt độ nóng chảy (
0
C )
Nhiệt độ sôi (
0
C )
Tỉ khối ( 25
0
C ) (g/cm
3
)
Năng lượng ion hóa thứ nhất (ev)
Bán kính nguyên tử (A
0
)
Cấu trúc tinh thể
74,92
817
610
5,727
5,84
1,15
Hộp mặt thoi
112,411
321,07
767
8,642
3
Khi đun nóng As tương tác với Br, S, kim loại kiềm, kiềm thổ và một số kim
loại khác tạo nên asenua.
2As + 3M = M
3
As
2
( đun nóng, M = Mg, Ca, Cu)
2As + M = MAs
2
(đun nóng, M = Zn, Ca, Fe)
As + M = MAs ( đun nóng, M = Al, Ga, In, La)
Asen không phản ứng với nước, axit loãng nhưn tan trong HNO
3
đặc, cường
thủy, kiềm, chất ôxi hóa điển hình.
As + 3HCl
đ
+ HNO
3đ
= AsCl
3
+ NO↑ + H
2
O
As + 5 HNO
3
+ 2 H
2
O = 3 H
↑
Trong dung dịch thì:
Cd + H
3
O
+
+ H
2
O = [Cd(H
2
O)
2]
]
2+
+
2
1
H
2
↑
Nhìn chung, chì là kim loại tương đối hoạt động về mặt hoá học. Ở điều
kiện thường, chì bị oxi hoá tạo thành lớp oxit màu xám xanh bao bọc bên trên
mặt bảo vệ cho chì không tiếp xúc bị oxi hoá nữa:
2Pb + O
2
= 2PbO
Nhưng khi gặp nước, nước sẽ tách dần màng oxit bao bọc ngoài và tiếp
tục bị tác dụng.
Chì tương tác với halogen và nhiều nguyên tố không kim loại khác:
Pb + X
3,loãng
= 3Pb(NO
3
)
2
+ 2NO + 4H
2
O
Khi có mặt oxi, chì có thể tương tác với nước:
2Pb + 2H
2
O + O
2
= 2Pb(OH)
2
có thể tan trong axit axetic và các axit hữu cơ khác:
2Pb + 4CH
3
COOH + O
2
= 2Pb(CH
3
COO)
2
+ 2H
2
O
Với dung dịch kiềm, chì có tương tác khi đun nóng, giải phóng hiđrô:
Pb + 2KOH + 2H
2
2
có thể oxi hóa asin thành asenat
AsH
3
+ 4 I
2
= H
3
AsO
4
+ 8 HI
Asin tác dụng với HgCl
2
tẩm trên giâys lọc tạo thành hợp chất có màu biến
đổi từ vàng đến nâu.
Asin phân hủy ở nhiệt độ cao (1500
0
C) tạo nên trên thành bình kết tủa đen
lấp lánh như gương.
As
2
O
3
ở trạng thái rắn có màu trắng, rất độc, liều lượng gây chết người là
0.1g, ít tan trong nước cho dung dịch có tính axit yếu gọi là axit asenơ.
Asen (V) oxit là chất rắn ở dạng khối vô định hình giống như thủy tinh, cấu
trúc của nó chưa được biết rõ và người ta gắn cho nó công thức kinh nghiệm là
As
2
O
kết tủa As(V) sunfua.
AsCl
5
+ 5H
2
S = 10 HCl
Tương tự photphat, As(V) tác dụng với hỗn hợp dung dịch MgCl
2
, NH
3
, cho
kết tủa NH
4
MgAsO
4
màu trắng.
H
3
AsO
4
+ MgCl
3
+ 3NH
4
OH = NH
4
MgAsO
4
↓ + 2NH
4
3-
+ 2I
-
+ 2H
+
Các hợp chất của Cd
CdO có màu từ vàng đến nâu gần như đen tuỳ thuộc vào quá trình chế hoá
nhiệt, nóng chảy ở 1813
o
C, có thể thăng hoa, không phân huỷ khi đun nóng, hơi
độc.
CdO không tan trong nước chỉ tan trong kiềm nóng chảy:
CdO + 2KOH
(nóng chảy)
= K
2
CdO
2
+ H
2
O
(Kali cadmiat)
CdO có thể điều chế bằng cách đốt cháy kim loại trong không khí hoặc
nhiệt phân hiđroxit hay các muối cacbonat, nitrat:
2Cd + O
2
= 2CdO
Cd(OH)
2
= CdO + H
2+
+ 2 H
2
O ↔ Cd(OH)
2
+ 2 H
+
Tích số tan của Cd(OH)
2
là T = 10
-14
Cd
2+
có khả năng tạo phức [CdX
4
]
2-
(X = Cl
-
, Br
-
, I
-
và CN
-
),
[Cd(NH
3
)
),
[Cd(NH
3
)
4
]
2+
,
[Cd(NH
3
)
6
]
2+
,…
Các đihalogenua của cadmi là chất ở dạng tinh thể màu trắng, có nhiệt độ
nóng chảy và nhiệt độ sôi khá cao.
Các Hợp chất của Pb
Chì tạo thành 2 oxit đơn giản là PbO, PbO
2
và 2 oxit hỗn hợp là chì
metaplombat Pb
2
O
3
(hay PbO.PbO
2
), chì orthoplombat Pb
3
O
4
PbO
(nâu đen) (vàng đỏ) (đỏ) (vàng)
Lợi dụng khả năng oxi hoá mạnh của PbO
2
người ta chế ra acquy chì.
Chì orthoplombat (Pb
3
O
4
) hay còn gọi là minium là hợp chất của Pb có các số
oxi hoá +2, +4. Nó là chất bột màu đỏ da cam, được dùng chủ yếu là để sản xuất
thuỷ tinh pha lê, men đồ sứ và đồ sắt, làm chất màu cho sơn (sơn trang trí và sơn
bảo vệ cho kim loại không bị rỉ).
Pb(OH)
2
là chất kết tủa màu trắng. Khi đun nóng, chúng dễ mất nước biến
thành oxit PbO.
Pb(OH)
2
cũng là chất lưỡng tính.
Khi tan trong axit, nó tạo thành muối của cation Pb
2+
:
Pb(OH)
2
+ 2HCl = PbCl
2
+ 2H
[PbI
4
]
PbCl
2
+ 2HCl = H
2
[PbCl
4
]
1.4. Các phương pháp xác định asen, cadimi và chì
Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xác định Cadimi và Chì
như phương pháp phân tích khối lượng, phân tích thể tích, điện hoá, phổ phân tử
UV – VIS, phổ phát xạ nguyên tử (AES), phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-
AAS) và không ngọn lửa (ETA-AAS), phương pháp ICP – MS,.… Sau đây là
một số phương pháp xác định Asen, Cadimi và Chì.
1.4.1. Các phương pháp hoá học
1.4.1.1. Phương pháp phân tích khối lượng
Phương pháp phân tích khối lượng là phương pháp cổ điển, độ chính xác
có thể đạt tới 0,1%. Cơ sở của phương pháp là sự kết tủa định lượng của chất
phân tích với một thuốc thử thích hợp.
Asen thường được kết tủa dưới dạng Ag
3
AsO
4
, As
2
S
3
, Mg(NH
lượng vết các chất mà chỉ dùng trong phân tích hàm lượng lớn.
1.4.1.2. Phương pháp phân tích thể tích
Phương pháp phân tích thể tích dựa trên sự đo thể tích dung dịch thuốc
thử đã biết nồng độ chính xác (dung dịch chuẩn) được thêm vào dung dịch chất
định phân để tác dụng đủ toàn bộ lượng chất định phân đó. Thời điểm thêm
lượng thuốc thử tác dụng với toàn bộ chất định phân gọi là điểm tương đương.
Để nhận biết điểm tương đương, người ta dùng các chất gây ra hiện tượng có thể
quan sát bằng mắt gọi là các chất chỉ thị.
Asen có thể được xác định bằng phương pháp chuẩn độ iot, chuẩn độ
bicromat hay phương pháp chuẩn độ brom.
Xác định asen bằng chuẩn độ iot người ta chuyển asen về dạng AsO
3
3-
bằng K
2
CO
3
, NaHCO
3
và H
2
SO
4
loãng, sau đó chuẩn độ bằng iot với chỉ thị hồ
tinh bột cho tới khi dung dịch xuất hiện màu xanh. Phương pháp này xác định
được hàm lượng As trong khoảng từ 0.1% đến vài chục %.
Với Cadimi và Chì, ta có thể dùng các phép chuẩn độ như chuẩn độ phức
chất , chuẩn độ ôxi hoá-khử với các chất chỉ thị khác nhau.
Ta có thể xác định Cadimi bằng EDTA ở môi trường pH = 9-10 với chỉ
thị ETOO hoặc môi trường pH=6 với chỉ thị xylendacam. Khi đó chất chỉ thị
(pH khoảng 8 -12), với chỉ thị ET-OO.
Pb
2+
+ H
2
Y
2-
= PbY
2-
+ 2H
+
Tuy nhiên, chì rất dễ thuỷ phân nên trước khi tăng pH phải cho Pb
2+
tạo
phức kém bền với tactrat hoặc trietanolamin.
- Cách 2: Chuẩn độ ngược Pb
2+
bằng Zn
2+
: cho Pb
2+
tác dụng với một
lượng dư chính xác EDTA đã biết nồng độ ở pH = 10. Sau đó chuẩn độ EDTA
dư bằng Zn
2+
với chỉ thị là ET-OO.
Pb
2+
+ H
2
2-
ở pH = 10 nên Pb
2+
sẽ đẩy Zn
2+
ra khỏi
phức ZnY
2-
. Sau đó, chuẩn Zn
2+
sẽ xác định được Pb
2+
:
Pb
2-
+ ZnY
2-
= Zn
2+
+ PbY
2-
ZnInd + H
2
Y
2-
= ZnY
2-
+ HInd
(đỏ nho) (xanh)
1.4.2.Phương pháp phân tích công cụ.
Pb thì lại gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của một số ion kim loại tương tự.
Khi đó phải thực hiện các công đoạn che, tách phức tạp.
* Phương pháp AES
Khi ở điều kiện thường, nguyên tử không thu hay phát ra năng lượng
nhưng nếu bị kích thích thì các điện tử hoá trị sẽ nhận năng lượng chuyển lên
trạng thái có năng lượng cao hơn (trạng thái kích thích). Trạng thái này không
bền, chúng có xu hướng giải phóng năng lượng để trở về trạng thái ban đầu bền
vững dưới dạng các bức xạ. Các bức xạ này được gọi là phổ phát xạ của nguyên
tử.
Phương pháp AES dựa trên sự xuất hiện phổ phát xạ của nguyên tử tự do
của nguyên tố phân tích ở trạng thái khí khi có sự tương tác với nguồn năng
lượng phù hợp. Hiện nay, người ta dùng một số nguồn năng lượng để kích thích
phổ AES như ngọn lửa đèn khí, hồ quang điện, tia lửa điện, plasma cao tần cảm
ứng (ICP)…
Nhìn chung, phương pháp AES đạt độ nhạy rất cao (thường từ n.10
-3
đến
n.10
-4
%), lại tốn ít mẫu, có thể phân tích đồng thời nhiều nguyên tố trong cùng
một mẫu. Vì vậy, đây là phương pháp dùng để kiểm tra đánh giá hoá chất,
nguyên liệu tinh khiết, phân tích lượng vết ion kim loại độc trong nước, lương
thực, thực phẩm. Tuy nhiên, phương pháp này lại chỉ cho biết thành phần
nguyên tố trong mẫu mà không chỉ ra được trạng thái liên kết của nó trong mẫu.
Nhiều tác giả đã sử dụng nguồn plasma cao tần cảm ứng kích thích phổ
AES để xác định hàm lượng Cd, Cu và Pb trong mẫu nước, đạt hiệu suất thu hồi
khá cao.
* Phương pháp AAS
Khi nguyên tử tồn tại tự do ở thể khí và ở trạng thái năng lượng cơ bản,
thì nguyên tử không thu hay không phát ra năng lượng. Tức là nguyên tử ở trạng
-6
M.
Nhằm loại trừ ảnh hưởng trên đồng thời tăng độ nhạy, hiện nay đã có các
phương pháp cực phổ hiện đại: cực phổ xung vi phân (DPP), cực phổ sóng
vuông (SQWP)… chúng cho phép xác định lượng vết của nhiều nguyên tố.
* Phương pháp Vôn-Ampe hòa tan
Về bản chất, phương pháp Von-Ampe hoà tan cũng giống như phương
pháp cực phổ là dựa trên việc đo cường độ dòng để xác định nồng độ các chất
trong dung dịch. Nguyên tắc gồm hai bước:
Bước 1: Điện hoá làm giàu chất cần phân tích trên bề mặt điện cực làm
việc trong khoảng thời gian xác định, tại thế điện cực xác định.
Bước 2: Hoà tan kết tủa đã được làm giàu bằng cách phân cực ngược cực
làm việc, đo và ghi dòng hoà tan. Trên đường Von-Ampe hoà tan xuất hiện pic
của nguyên tố cần phân tích. Chiều cao pic tỉ lệ thuận với nồng độ.
Tác giả Phan Diệu Hằng đã xác định chì trong mẫu nước ngọt giải khát
Sprite bằng phương pháp Von-ampe hoà tan và kết quả hàm lượng chì là (2,70-
0,06) (µg/l).
Còn tác giả Lê Thị Thu đã áp dụng phương pháp von-ampe hoà tan anốt và kỹ
thuật đánh rửa bề mặt điện cực tự động xác định đồng thời Cd, Cu, Pb trong một
số mẫu nước biển.
1.5. Các phương pháp tách và làm giàu hàm lượng vết các kim loại
Trong thực tế phân tích, hàm lượng các chất có trong mẫu đặc biệt là hàm
lượng các ion kim loại nặng trong nước thường rất nhỏ, nằm dưới giới hạn phát
hiện của các công cụ phân tích. Vì vậy, trước khi xác định chúng thì cần thông
qua quá trình tách và làm giàu.
Để tách, làm giàu kim loại nặng trong nước thường dùng một số phương
pháp thông dụng như phương pháp kết tủa và cộng kết, phương pháp chiết pha
rắn SPE, phương pháp chiết lỏng – lỏng, phương pháp tách và làm giàu bằng
điện hoá…
1.5.1. Phương pháp kết tủa, cộng kết
điểm hơn so với một số phương pháp làm giàu khác và sự kết hợp giữa phương
pháp chiết với các phương pháp xác định tiếp theo (trắc quang, cực phổ ) có ý
nghĩa rất lớn trong phân tích.
Để xác định riêng từng dạng As nhất thiết phải chiết, ví dụ: As(III) và
As(V) trong đất có thể xác định riêng biệt sau khi chiết bằng CCl
4
và HCl (theo
Chappell et al. 1995)
Một số hệ chiết thường dùng trong tách, làm giàu Pb, Cd.
- Hệ chiết Pb, Cd – dithizonat trong CCl
4
hoặc CHCl
3
sau đó xác định
chúng bằng phương pháp phổ hấp thụ phân tử (UV – VIS)
- Có thể chiết phức halogenua hoặc thioxianat cacdimi bằng các dung môi
hữu cơ; xiclohexano, metyl isobutyl xeton (MIBK), dietyl ete
- Tạo phức chelat với NaDDC (natridietyldithiocacbamat) từ dung dịch
đệm amoni xitrat ở pH=9,5 dung môi chiết là MIBK.
1.5.3. Phương pháp tách và làm giàu bằng điện hoá
Nguyên tắc của phương pháp là dựa vào việc tách chất cần xác định trên
các điện cực trơ dưới dạng nguyên tố hoặc kết tủa không tan khi cho dòng điện
một chiều đi qua. Quá trình này phụ thuộc rất nhiều vào điện thế, cường độ
dòng, cấu tạo điện cực và nồng độ dung dịch.
Ngày nay các phương pháp điện hoá được dùng để tách hợp chất của đa
số các nguyên tố hoá học và là phương pháp hữu hiệu vì chúng không đòi hỏi
phải đưa chất lạ vào đối tượng phân tích. Hơn nữa, khi dùng các phương pháp
kết tủa điện hoá khác nhau với sử dụng các điện cực có thể tách các hỗn hợp
phức tạp gồm nhiều ion.
Nghiên cứu điều kiện tách Pb ra khỏi dung dịch bằng phương pháp điện
đặc để xác định hàm lượng các kim loại nặng. Sau đó sử dụng phương pháp
AAS cho kết quả hamg lượng các kim loại nặng như sau: Cd 7,2 mg/kg; Cu 26,8
mg/kg; Zn 292 mg/kg; Mn 20,8 mg/kg.
Tác giả Locatelli đã dùng hỗn hợp H
2
SO
4
và HNO
3
phân hủy mẫu trai, ốc,
cá để xác định hàm lượng kim loại thông thường. Để xác định hàm lượng Hg
bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử hóa hơi lạnh (CV- AAS) hỗn
hợp H
2
SO
4
và K
2
Cr
2
O
7
đã được sử dụng. Quy trình tỏ ra đơn giản, an toàn, mẫu
phân hủy tốt.
Tác giả M. Lucila Lare, Gilberto Flores – Munozb, Ruben Lara – Lara đã
nghiên cứu đánh giá những biến đổi theo thời gian về hàm lượng Cd, Al, Hg,
Zn, Mn theo các tháng trong trai và rong biển. Tác giả đã đưa ra phương pháp
xử lý mẫu như sau: Mẫu trai được xử lý sạch và rửa bằng nước cất sau đó cho
vào cốc sạch sấy ở 70
0
Để phân hủy mẫu động vật nhuyễn thể, tác giả Sari Arias thêm 2ml HNO
3
và 0,5 ml H
2
O
2
vào 1g mẫu rồi tiến hành phân hủy mẫu trong lò vi sóng.
CHƯƠNG 2.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng và mục tiêu
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ thì vấn đề ô
nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm các kim loại
nặng. Các loại động vật nhuyễn thể không chỉ là một nguồn thuốc quý mà còn là
nguồn thực phẩm được ưa chuộng ở nước ta. Tuy nhiên, chúng có thể bị nhiễm
các chất độc hại từ môi trường, do đó ngoài việc nghiên cứu những hoạt tính
sinh học cũng cần phải kiểm tra hàm lượng của các chất có hại, ảnh hưởng tới
sức khỏe con người. Đặc biệt phải giám sát hàm lượng các kim loại nặng vì chỉ
cần một lượng rất nhỏ của chúng cũng có thể gây độc cao đối với con người và
động vật. Hơn nữa, động vật nhuyễn thể không chỉ chứa các nguyên tố vi lượng