TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(30).2009
83
NGHIÊN CỨU SỰ TÍCH LŨY KIM LOẠI NẶNG CADMIUM (CD) VÀ
CHÌ (PB) CỦA LOÀI HẾN (CORBICULA SP.) VÙNG CỬA SÔNG Ở
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
STUDY CONCENTRATION OF HEAVY METALS CADMIUM (CD) AND LEAD
(PB) IN CLAM CORBICULA SP. FROM ESTUARINE, IN DA NANG CITY
Nguyễn Văn Khánh – Phạm Văn Hiệp
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Ô nhiễm kim loại nặng (KLN) trong hệ sinh thái là vấn đề đáng quan tâm, một vài KLN
ở dạng vết có thể trở nên nguy hiểm thông qua con đường tích lũy sinh học. KLN trong môi
trường nước có thể tích lũy trong các chuỗi thức ăn và phá hủy hệ sinh thái cũng như gây nguy
hiểm đối với sức khỏe con người. Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày kết quả về sự tích
lũy KLN Pb và Cd của loài Hến (Corbicula sp.), được thu mẫu trong khoảng tháng 2 đến tháng
5 năm 2008, từ sông Hàn và sông Cu Đê ở TP. Đà Nẵng. Đánh giá KLN trung bình tích lũy ở
loài Hến (Corbicula sp.) đối với Pb: 0,37 ± 0,23 – 0,51 ± 0,25 ppm (trọng lượng tươi) và Cd:
1,67 ± 1,35 – 2,10 ± 1,10 ppm. Kết quả nghiên cứu là cơ sở bước đầ u cho việc sử dụng loài
Hến (Corbicula sp.) trong giám sát sinh học.
ABSTRACT
The pollution of aquatic ecosystems by trace metals is a significant problem, as trace
metals constitute some of the most hazardous substances that can bioaccumulation. Metals in
the aquatic environment may accumulate in the food chain and cause ecological damage while
also posing a risk to human health. In this study, we present result about concentration of heavy
metals lead (pb) and cadmium (cd) of clam (corbicula sp.), was examined in samples collected
between february and may, 2008, from the han and cu de rivers, da nang city. The means of the
amounts of heavy metals with standard deviation were estimated as follows: 0,37 ± 0,23 – 0,51
± 0,25 ppm pb (wet weight); 1,67 ± 1,35 – 2,10 ± 1,10 ppm cd for clam (corbicula sp.). Our data
have important implications for biomornitor metl uptake by clams (corbicula sp.).
cao nhất ở nồng độ 1,76 ppm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày một số kết quả
bước đầu về mức độ tích lũy KLN Pb và Cd ở loài Hến (Corbicula sp.) ở khu vực hạ
lưu sông Hàn và sông Cu Đê.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài Hến (Corbicula sp.) thuộc họ Corbiculidea, bộ
mang tấm ( Eulamellibranchia), lớp hai mảnh vỏ ( Bivalvia), ngành thân mềm
(Mollusca). Địa điểm thu mẫu là khu vực hạ lưu sông Hàn và sông Cu Đê của TP. Đà
Nẵng. Thời gian nghiên cứu từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2008. Thu định mẫu kỳ mỗi
tháng một lần, m ẫu động vật được bảo quản ở 4
0
Mẫu động vật được định loại theo khóa định loại hình thái của Thái Trần Bái,
Đặng Ngọc Thanh, Phạm Văn Miên. Mẫu động vật được phân chia theo 3 nhóm kích
thước: <35 (mm); 35 – 45 (mm); và >45 (mm) để xác định kích thước khối lượng trung
bình và phân tích các KLN theo 3 nhóm kích thước khác nhau . Mẫu động vật được tách
lấy phần thịt, vô cơ hóa bằng axit HNO
C (Goksv). Mẫu bùn đáy được thu
đồng thời với mẫu động vật và được bảo quản theo TCVN 6663 - 12: 2000.
3
đặc và H
2
O
2
(đối với mẫu xác định Pb) và
bằng axit HNO
3
đặc, axit H
2
SO
4
đặc và H
(mm)
Khối lượng
(g)
Kích thước
(mm)
Khối lượng
(g)
Trung bình 38,21±7,18 17,10±9,50 40,30±9,57 22,82±19,21
Minimum 21 2,80 26 3,50
Maximum 58 53,50 73 105,50
a)
b)
Hình 1.(a) Kim loại nặng (Pb, Cd) tích lũy trong
bùn đáy và trong loài Hến (Corbicula sp.) ở sông
Hàn và sông Cu Đê; (b, c) Kim loại nặng (Pb, Cd)
tích lũy trong loài H
ến (Corbicula sp.) theo các kích
thước khác nhau.
c)
Hàm lượng Pb trung bình trong bùn đáy của sông Hàn: 28,88 ± 11,30 ppm (tính
theo khối lượng khô); khu vực sông Cu Đê: 25,68 ± 390 ppm (bảng 2, hình 1a). Kết quả
phân tích ANOVA cho thấy, hàm lượng Pb trong bùn đáy ở hai sông không có sự khá c
nhau có ý nghĩa (α = 0,05). So sánh với tiêu chuẩn ISQG (Canada) về giới hạn cho phép
của Pb trong bùn đáy (≤ 30,2 ppm), thì hàm lượng Pb tại hai khu vực trong nghiên cứu
nằm trong giới hạn cho phép. Phân tích ANOVA cho thấy hàm lương Cd tại khu vực
sông Hàn: 2,66 ± 1,55 ppm, cao hơn và khác nhau có ý nghĩa ( α = 0,05) khu vực cửa
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(30).2009
86
Cd (ppm)
Khu vực
Nhóm KT (mm)
TB
±SD
TB
±SD
Sông Hàn
<35
0,31
± 0,15
(n=9)
1,52
± 0,76
(n=9)
35 - 45
0,29
± 0,12
(n=9)
2,22
± 1,36
(n=9)
>45
0,51
± 0,31
0,51
± 0,25
(n=18)
1,67
± 1,35
(n=18)
Ghi chú: các giá trị trung bình có cùng chữ cái (a, b) không có sự khác nhau có ý nghĩa theo các
nhóm kích thước.
Trong nghiên cứu này, t rung bình hàm lượng Pb của loài Hến (Corbicula sp.)
thu tại cửa sông Hàn ở mức: 0,37 ± 0,27 ppm, tại cửa sông Cu Đê ở mức: 0,50 ± 0,25
ppm. So sánh với TCVN về hàm lượng KLN trong nhuyễn thể , thì tích lũy Pb ở loài
Hến trong nghiên cứu này thấp hơn TCCP ( <0,5 ppm). Về mức độ tích lũy Cd, trung
bình hàm lượng Cd ở loài Hến thu tại cửa sông Hàn, Cd: 2,10 ± 1,10 ppm; tại cửa sông
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(30).2009
87
Cu Đê Cd: 1,67 ± 1,35 ppm. So sánh với TCVN về hàm lượng KLN trong nhuyễn thể
thì tích lũy Cd ở mẫu động vật trong nghiên cứu này cao hơn TCCP từ 1,67 - 2,09 lần
(<1,00 ppm). Giữa các nhóm kích thước ít có sự khác nhau có ý nghĩa về hàm lượng
KLN Pb và Cd tích lũy ( α = 0,05). Như vậy, loài Hến ở sông Hàn và sông Cu Đê đã bị
nhiễm Cd. Kết quả phân tích ANOVA cho thấy, không có sự khác nhau về tích lũy
KLN Pb và Cd trong loài Hến ở hai khu vực nghiên cứu (α = 0,05). Mặc dù, hàm lượng
Cd trong bùn đáy ở khu vực sông Hàn có cao hơn sông Cu Đê và hàm lượng Cd tích lũy
ở loài Hến ở sông Hàn có cao hơn ở sông Cu Đê. Nhưng mức độ chênh lệch về hàm
lượng chưa đủ lớn, để tạo ra sự khác nhau có ý nghĩa về mức độ tích lũy Cd trong mô
của loài loài Hến.
a) b)
c) d)
Hình 2. Tương quan giữa KLN (Pb, Cd) tích lũy với kích thước
và khác nhau có ý nghĩa (α = 0,05) với hàm lượng Cd trong bùn ở khu vực cửa
sông Cu Đê: 1,41±0,75 ppm. Cả hai khu vực trong đều đã bị ô nhiễm Cd ở mức
cao, vượt từ 2,01 đến 3,80 lần tiêu chuẩn.
2. Không có sự khác nhau về tích lũy KLN Pb và Cd trong loài Hến (Corbicula
sp.) ở hai khu vực sông Hàn và sông Cu Đê. Trung bình hàm lượng Pb ở loài
Hến thu tại cửa sông Hàn ở mức: 0,37 ± 0,27 ppm, tại cửa sông Cu Đê ở mức:
0,50 ± 0,25 ppm. Hàm lượng Cd ở loài Hến tại cửa sông Hàn, Cd: 2,10 ± 1,10
ppm; tại cửa sông Cu Đê, Cd: 1,67 ± 1,35 ppm. Hàm lượng Pb tích lũy ở loài
Hến thấp hơn tiêu chuẩn ; hàm lượng KLN Cd ở mẫu động vật cao hơn tiêu
chuẩn từ 1,67 - 2,09 lần.
3. Mức độ tích lũy Pb và Cd trong mô của loài Hến (Corbicula sp.) tương quan
thuận với khối lượng và kích thước cơ thể. Hàm lượng Pb và Cd ở trong mô của
loài Hến (Corbicula sp.) có tương quan thuận với kích thước và khối lượng cơ
thể, ở mức “tương quan vừa”, đối với kích thước và khối lượng lần lượt đối với
Pb: r = 0,54 (p
value
= 0,0002), r = 0,56 (p
value
= 0,0001); đối với Cd: r = 0,47
(p
value
= 0,004), r = 0,46 (p
value
= 0,003).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Thái Trần Bái (2005), Động vật học không xương sống, NXB Giáo dục.
[2] Lê Đức, Trần Khắc Hiệp, Nguyễn Xuân Cự, Phạm Văn Khang, Nguyễn Ngọc
Minh, (2002), Một số phương pháp phân tích môi trường, NXB Đại học Quốc gia