Nghiên cứu sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp và nước mặt xung quang khu công nghiệp Đình Trám tỉnh Bắc Giang - Pdf 20

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Môi trường sống của chúng ta hiện nay đang ngày càng biến đối mạnh
mẽ. Các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải,
hoạt động khai khoáng ngày càng tăng…, là nguyên nhân làm cho môi trường
bị huỷ hoại nghiêm trọng, làm cho nhiệt độ trái đất tăng, lỗ thủng tầng ôzôn
ngày càng lớn, mưa axít, nghịch đảo nhiệt.... Ô nhiễm môi trường, trong đó
vấn đề ô nhiễm môi trường đất đang là một vấn đề bức xúc của toàn cầu.
Từ trước tới nay người ta thường coi môi trường tự nhiên có khả năng
tự làm sạch, tuy nhiên nó cũng chỉ xảy ra ở một ngưỡng nhất định, nếu quá
ngưỡng đó thì sẽ gây ra ô nhiễm. Trong quá trình sinh hoạt, sản xuất hầu hết
các phế thải đều quay trở lại môi trường đất, nước dưới các hình thức khác
nhau. Sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp nói chung và đất nông
nghiệp ở các làng nghề nói riêng là một trong những hiểm họa cho môi
trường đất. Vấn đề ô nhiễm KLN trong đất đang diễn ra phổ biến nhiều nơi
trên thế giới. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích đất nông
nghiệp ngày càng bị thu hẹp.
Trong môi trường nông nghiệp, đất đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi
đất là đối tượng chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp. Hầu hết các hoạt động
sản xuất nông nghiệp đều diễn ra trên bề mặt đất, đặc biệt là các hoạt động
trồng trọt, đất đóng vai trò là vật mang đối với cây trồng.
Đối với Bắc Giang, một tỉnh miền núi có nhiều khó khăn, với phần đa
dân số hoạt động trong nông nghiệp thì vai trò của đất càng trở nên quan
trọng, quyết định đến thu nhập và đời sống của người dân.
Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp bị suy giảm đáng kể cả về số lượng
và chất lượng. Nguyên nhân chủ yếu là do hiện tượng ô nhiễm từ chất thải của
sinh hoạt, của hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp.
1
Khu công nghiệp Đình Trám tỉnh Bắc Giang, có diện tích 98,105 ha
được xây dựng trên địa bàn 2 xã Hồng Thái và Hoàng Ninh thuộc huyện Việt
Yên tỉnh Bắc Giang, với sự tập trung nhiều nghành sản xuất như sản xuất

có vấn đề môi trường.
1.1. Ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi
trường đất bởi các chất gây ô nhiễm. Đất bị ô nhiễm có thể phân loại theo
nguồn gốc phát sinh, hoặc các tác nhân gây ô nhiễm: Do chất thải sinh hoạt,
do hoạt động công nghiệp, do hoạt động nông nghiệp, do chất độc hoá học...
Ô nhiễm đất sẽ làm đảo lộn cân bằng sinh thái, suy giảm các chất dinh
dưỡng và phá huỷ cấu trúc của đất, dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu
gây ô nhiễm đất:
1.1.1. Ô nhiễm do chất thải công nghiệp
Trong quá trình phát triển, các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh, đã và đang gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng nghiêm
trọng do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải
và sinh hoạt gây ra. Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu công
nghiệp (KCN) trọng điểm ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày thải vào hệ
thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng 1.740.000 m
3
nước thải công
nghiệp, trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD
5
(nhu cầu ôxy
3
sinh hoá), 1789 tấn COD (nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho
và kim loại nặng (KLN) [2].
Về ô nhiễm không khí, chỉ tính riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hàng
năm các phương tiện vận tải trên địa bàn tiêu thụ khoảng 210.000 tấn xăng và
190.000 tấn dầu diezel. Như vậy đã thải vào không khí khoảng 1100 tấn bụi,
25 tấn chì, 4200 tấn CO
2
, 4500 tấn NO

: K
2
O = 1 :
4
0,38 : 0,31); bình quân năm từ 2001 – 2003 đã bón 172,6 kg/ha (tỷ lệ N: P
2
O
5
:
K
2
O = 1 : 0,55 : 0,36); dự kiến giai đoạn 2004 – 2005 bón khoảng hơn 300
kg/ha (tỷ lệ N: P
2
O
5
: K
2
O = 1 : 0,58 : 0,37) so với bình quân thế giới còn thấp.
Lượng phân bón bình quân sử dụng cho 1 ha gieo trồng rất thấp, đặc biệt ở
vùng trung du và miền núi (khoảng 80 – 90 kg/ha), thấp hơn nhiều so với Hàn
Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Tuy chưa gây ra những tác động ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng, nhưng việc bón phân vô cơ đơn độc, liên tục đã ảnh
hưởng tới sự chua hoá ở tầng đất canh tác. Một số vùng sử dụng đạm nhiều có
liên quan tới sự tích luỹ NO
3
-
trong nước[3].
1.1.3. Ô nhiễm do hoá chất bảo vệ thực vật
Việc lạm dụng hoá chất và thuốc trừ sâu trong canh tác nông nghiệp,

ở Việt Nam. Hạ lưu các con sông chính có chất lượng nước xấu, trong khi đó
các ao, hồ, kênh mương nội thị thì đang nhanh chóng biến thành các bể chứa
nước thải. Các tầng chứa nước dưới đất cũng có dấu hiệu ô nhiễm và nhiễm
mặn ở một vài nơi. Nước ven bờ cũng bị ô nhiễm do các nguồn ô nhiễm trên
đất liền, các hoạt động xây dựng cảng, sự cố tràn dầu và xói lở bờ biển.
1.2.1. Ô nhiễm nguồn nước mặt
Nhìn chung chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt,
nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng.
Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải
sinh hoạt không được xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các dòng sông. Chất
lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD, COD, NH4
+
, tổng N,
tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
6
Mạng quan trắc môi trường quốc gia đã tiến hành quan trắc ở 4 con
sông chảy qua các khu đô thị chính của Việt Nam là sông Hồng (Hà Nội),
sông Cấm (Hải Phòng), sông Hương (Huế) và sông Sài Gòn (TP. Hồ Chí
Minh). Kết quả cho thấy, giá trị đo được của 2 thông số ô nhiễm cơ bản là
amôni (NH
4
+
) và BOD dao động khá nhiều và vượt mức TCCP về chất
lượng nước loại A của Việt Nam một vài lần[3]. Tình trạng ô nhiễm càng
trở nên trầm trọng hơn vào mùa khô, khi mà các dòng chảy sông ngòi hạ
thấp. Ngày càng có nhiều các kênh, ngòi, mương và ao hồ ở nội đô trở
thành nơi chứa nước thải công nghiệp và sinh hoạt. Hầu hết các hồ ở Hà
Nội có lượng BOD rất cao. Tương tự, 4 sông nhỏ ở nội đô Hà Nội và 5 con
kênh ở thành phố Hồ Chí Minh có nồng độ DO rất thấp (0 - 2 mg/l), và
nồng độ BOD ở mức cao (50 - 200 mg/l)[4].

Sự cố tràn dầu gây ô nhiễm rất lớn đến các vùng biển ven bờ, khoảng
30% hàng hoá cập tại các bến cảng là dầu. Các hoạt động khai thác ngoài khơi
cũng tăng lên hàng năm. Từ năm 1996 đến năm 2002, sản xuất dầu thô tăng
từ 8,8 lên 17 triệu tấn/năm. Mỗi năm có khoảng 772.000 tấn dầu bị rò rỉ ra
vùng biển Đông từ các hoạt động khai thác dầu. Trong giai đoạn 1995 - 2002
có ít nhất 35 vụ tràn dầu lớn đã xảy ra trên biển. Uớc tính có khoảng 92.000
tấn dầu từ các sự cố tràn dầu này chảy ra môi trường biển và ven biển[4].
2. Nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng
2.1. Nghiên cứu kim loại nặng trên thế giới
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, KLN có nguồn gốc phát sinh từ
nhiều nguồn khác nhau. Trong đất, thông thường hàm lượng kim loại hình thành
trong đá macma lớn hơn trong các đá trầm tích (bảng 2.1). Sự phát thải của các
nguyên tố KLN vào môi trường do hoạt động của con người (khai khoáng, công
nghiệp, giao thông...) lớn hơn rất nhiều lần so với hoạt động của các quá trình tự
nhiên (núi lửa, động đất, sạt lở...), đặc biệt là Pb, Zn, Cu. (bảng 2.2)
8
Bảng 2.1. Hàm lượng của một số kim loại nặng trong một số loại đất đá
Đơn vị: mg/kg
Nguyên
tố
Đá macma Trầm tích
Siêu bazơ
(Serpentine)
Bazơ
(basalt)
Axit
(Granite)
Đá vôi
Đá cát
kết

Cu 190 2.600
Pb 59 20.000
Mn 6.100 3.200
Hg 0,4 110
Mo 11 510
Ni 280 980
Ag 0,6 50
Sn 52 430
V 650 2.100
Zn 360 8.400
(Nguồn: Galloway & Freedmas - 1982) [6]
Theo Thomas (1986), các nguyên tố KLN như: Cu, Zn, Cd, Hg, Cr,
As... thường chứa trong phế thải của các ngành luyện kim màu, sản xuất ô tô.
Khi nước thải chứa 13 mg Cu/l, 10 mg Pb/l, 1 mg Zn/l đã gây ô nhiễm đất
nghiêm trọng. Ở một số nước như Đan Mạch, Nhật Bản, Anh, Ailen, hàm
lượng Pb cao hơn 100mg/kg đã phản ánh tình trạng ô nhiễm Pb[23].
Kết quả điều tra đất của 53 thành phố, thị xã ở nước Anh thấy hầu hết
đất có hàm lượng Pb tổng số vượt trên 200 ppm, ở nhiều vùng công nghiệp đã
vượt quá 500 ppm[7].
Ở Nhật Bản, đất bị ô nhiễm thuỷ ngân và Cd rất nặng. Từ 1953 – 1967
trên toàn bộ đất canh tác, Nhật Bản đã sử dụng hơn 6800 tấn Hg, hàm lượng
10
Hg trong gạo từ 0,02 ppm (1946) tăng lên 0,15 ppm (1966) Trong khi đó theo
tiêu chuẩn vệ sinh quy định về hàm lượng Hg trong lượng thực không được
vượt quá 0,02 ppm. Vì vậy người dân ở đây đã bắt đầu ngừng và hạn chế bón
Hg. Tại tỉnh Toyama thuộc khu vực đầu nguồn sông Jinsu, hàm lượng Cd
trong lúa được trồng ở vùng này cao hơn gấp 10 lần so với lúa trồng ở khu
vực khác nên chúng đã bị huỷ bỏ. Nguyên nhân là môi trường đất vùng này bị
nhiễm độc bởi nước thải của mỏ khoáng Shinkou (tinh luyện kẽm). Cho tới
năm 1992 mới giải độc được khoảng 36% diện tích ruộng đất bị ô nhiễm, chi

0
5
Bùn nhà máy dệt - - - 394 864 129 63 4
249
0
-
Bùn nhà máy rượu - - - 81 255 29 18 2 117 -
Bùn nhà máy chế biến gỗ - - - 53 122 42 119 2 81 -
Bùn cống rãnh ở Anh - - - 800
300
0
700 80 - 250 -
(Nguồn: Tan et al, 1971: Wild, 1993)
Ở Pakistan, người ta cũng phát hiện nồng độ đáng kể các KLN trong
nước và các cặn lắng ở vùng ven bờ khu vực sông Indus[23].
2.1.2. Ô nhiễm do hoạt động giao thông
Giao thông là một trong những nguyên nhân gây tích lũy KLN ở Châu
Âu, người ta ước tính có tới 76% tổng lượng Pb thoát ra môi trường là do
xăng chì làm nhiên liệu[26].
Nghiên cứu nước mưa chảy ra từ các đường cao tốc một số vùng Tây
Nam Scotland của hai tác giả A. Mc Neill & S. Olley (1998)[25] cho thấy
rằng do ảnh hưởng của hoạt động giao thông, các chất thải ra từ các động cơ
đốt trong của các phương tiện tham gia giao thông chính là nguồn gây nhiễm
KLN cho nước mặt, kết quả được thể hiện ở bảng 2.4.
12
Bảng 2.4. Kết quả trung bình của Cu, Zn và chất rắn lơ lửng
Chỉ tiêu theo dõi
Số
lượng
mẫu

13
Bảng 2.5. Nồng độ thường thấy của các KLN trong một số loại chế phẩm nông nghiệp
Đơn vị: mg/kg
Cr Mn Co Ni Cu Zn Cd Hg Pb
Bùn cặn 8 - 46.000 60 - 3.900 1 - 260 6 - 5.300 50 - 8.000 91 - 49.000 <1 - 3.410 0,1 - 55 2 - 7.000
Phân ủ 1,8 - 410 - - 0,9 - 279 13 - 3.580 82 - 5.894 0,01 - 100 0,09 - 21 1,3 - 2.240
Phân
chuồng
1,1 - 55 30 - 969 0,3 – 24 2,1 - 30 2 - 172 15 - 566 0,1 - 0,8 0,01 - 0,36 0,4 - 27
Phân
photphat
66 - 245 40 - 2.000 1 – 12 7 - 38 1 - 300 1 - 42 0,1 - 190 0,01 - 2 4 - 1.000
Phân nitrat 3,2 - 19 - 5,4 – 12 7 - 34 - 10 - 450 0,005 - 8,5 0,3 - 2,9 2 - 120
Vôi 10 - 15 40 - 1.200 0,4 – 3 10 - 20 2 - 125 - 0,04 - 0,1 0,05 20 - 1.250
HCBVTV - - - - - - - 0,6 - 6 11 - 26
Nước tưới - - - - - <0,05 - <20
14
Đánh giá hàm lượng Cu, Zn, Cd, Pb trong các loại phân hóa học và ước
tính khối lượng kim loại nặng bón vào đất trồng lúa ở Valencia (Tây Ban Nha)
cho thấy: Phân phốt phát là loại phân hóa học có chứa hàm lượng các KLN lớn
nhất: Cu 1-3000 mg/kg, Zn 50-1400 mg/kg, Pb 7-225 mg/kg, Cd 0,1-170 mg/kg;
phân nitrat có chứa 0,05-8,5 mg/kg Cd, phân urê có chứa 0,008 mg/kg Cd[7].
Ở Mỹ, Anh, Hà Lan khi nghiên cứu một số chế phẩm sử dụng trong nông
nghiệp người ta xác định được nồng độ Pb trong bùn thải biến động từ 50 - 3.000
mg/kg, phân lân từ 7 - 225 mg/kg, vôi từ 20 - 1.250 mg/kg, phân đạm 2 - 27
mg/kg, phân chuồng 6,6-15 mg/kg và thuốc bảo vệ thực vật là 60 mg/kg[27].
Đất bị ô nhiễm kim loại nặng làm giảm năng suất cây trồng mà còn ảnh
hưởng đến nông sản dẫn tới tác động xấu đến sức khỏe con người. Vì vậy nhiều
nước trên thế giới đã quy định mức ô nhiễm KLN (bảng 2.6).
Bảng 2.6. Hàm lượng tối đa cho phép (MAC) của các KLN được xem là độc

50
1
2
50
300
500
2
10
(Nguồn: Kabata-Pendias,1992)[27]
2.2. Nghiên cứu ô nhiễm KLN ở Việt Nam
15
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ô nhiễm KLN còn rất hạn chế và đang phát
triển trong nhiều năm gần đây.
Theo tác giả Trần Kông Tấu và Trần Công Khánh (1998)[10] khi nghiên
cứu KLN dạng tổng số đã chỉ ra 7 độc tố (Co, Cr, Fe, Mn, Ni, Pb, Zn) tập trung chủ
yếu ở 2 loại đất là đất phù sa thuộc ĐBSH và ở đất ferralsols - tức đất feralit nâu đỏ
phát triển trên bazan - đây là hai loại đất có nguồn nước ngầm cũng rất phong phú.
Acrisols có nguồn gốc là đất xám bạc màu - một loại đất thoái hoá điển hình ở Tây
Nguyên có hàm lượng các KLN ít nhất. KLN dạng linh động có xu hướng tập
trung ở đất phèn ĐBSCL, kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.7.
Bảng 2.7. Hàm lượng KLN ở tầng đất mặt trong một số loại đất ở Việt Nam
Đơn vị: mg/kg
Loại đất Dạng Co Cr Fe Mn Ni Pb Zn
Đất Feralit phát triển
trên đá bazan
TS

59,5
0,46
257,6

ĐBSH
TS

13,6
0,24
43,2
<0,36
42280
<0,83
227
43,8
34,9
<0,57
37,1
0,29
86,7
0,6
Đất xám phát triển
trên Granit miền
Trung
TS

1,2
<0,1
9,9
<0,36
5848
<2,83
26,0
0,42

khá thấp.
Bảng 2.8. Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp ở một số
vùng của Việt Nam (mg/kg)
Địa điểm
Đá mẹ và
mẫu chất
Cây trồng Cu Pb Zn Cd
Hải Phòng Phù sa Lúa 24 33 89 0,09
Hà Nội Phù sa Lúa- Rau 22 24 195 0,09
Hà Giang Phù sa Lúa 24 21 57 0,05
Bắc Giang Đá cát Cây ăn quả 16 19 32 0,07
Sơn La Đá vôi Cây ăn quả 58 27 144 0,04
Ninh Bình Đá vôi Mía 106 33 153 0,02
Nghệ An Đá bazan Cao su 47 24 159 0,02
Đắc Lắc Đỏ bazan Lúa 90 10 124 0,08
Gia Lai Đá bazan Cao su 83 11 105 -
Lâm Đồng Đá bazan Cà phê 49 11 80 -
2.2.1. Ô nhiễm KLN do công nghiệp và đô thị
Nguồn phát tán các KLN trước hết phải kể đến sản xuất công nghiệp, công
nghiệp có sử dụng sút, clo là nguồn phế thải nhiều thuỷ ngân; ngành công nghiệp
sử dụng than đá và vật liệu mỏ như dầu... là nguồn thải Pb, Hg và Cd... Trong đó,
các nguyên nhân gây tích đọng KLN gây ô nhiễm môi trường một phần là do tác
động trực tiếp từ nguồn thải, một phần là do quá trình quản lý và xử lý các nguồn
thải chưa chặt chẽ, không được coi trọng đã gián tiếp gây ô nhiễm dần dần môi
trường.
Qua kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Văn Khoa và các cộng tác viên
(1999)[11] ở khu vực công ty Pin Văn Điển và công ty Orionel-Hanel cho thấy:
nước thải của 2 khu vực trên đều có chứa các KLN đặc thù trong quy trình sản
xuất, với hàm lượng vượt quá TCVN 5945/1995 đối với nước mặt loại B (Pin
Văn Điển Hg: vượt 9,04 lần; Orionel-Hanel: Pb vượt 1,12 lần). Hàm lượng các

3
)
Mùa khô Mùa mưa
As 11,60 1,50 1,00
Cd 0,6 - -
Cu 160 - -
18
Fe 5,00 2960 2130
Hg 0,12 - -
Mn 670 32,30 30,00
Pb 123 246 127
Nghiên cứu của tác giả N.M.Maqsud (1998)[12] (đại học tổng hợp
Mainz_Đức) về hàm lượng KLN tích tụ trong nước và bùn của các kênh rạch ở
vùng nội ô và ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Nồng độ các KLN độc
hại trong nước ô nhiễm của các kênh rạch vượt quá giá trị cho phép so với nước
sông rạch không ô nhiễm tăng từ 16 đến 700 lần. Nước ở các kênh rạch Nhiêu
Lộc - Thị Nghè, Cầu Bông, Ucay so với giá trị tiêu chuẩn có hàm lượng Cd gấp
16 lần, Cr gấp 60 lần, Zn gấp 90 lần, Pb gấp 700 lần. Hàm lượng các KLN trong
trầm tích của kênh Nhiêu Lộc tại địa điểm cầu Ông Tá rất cao: Tích luỹ As
(18,3%), Pb (7460 ppm), Cu (1090 ppm), Zn (2200 ppm). Nguyên nhân gây nên
sự ô nhiễm trên là do nước thải sinh hoạt, nước thải của các sông nhánh không
được xử lý với lượng nước độc hại khoảng 600.000 m
3
/ngày và với chất thải của
khoảng 20.000 cơ sở sản xuất công nghiệp và tác nhân ô nhiễm phân tán do các
cơ sở công nghiệp nhỏ và tiểu thủ công đều trực tiếp hoặc gián tiếp thải nước vào
các dòng chảy kênh rạch.
Nhìn chung, đất ở vùng ngoại vi thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh chưa bị ô nhiễm KLN. Sự ô nhiễm KLN mang tính chất cục bộ, xảy ra ở
những khu công nghiệp tập trung hoặc những nơi gia công kim loại mà việc xử lý

hoá học có chứa Cu trong quá trình trồng rau.
Bảng 2.11. Hàm lượng một số kim loại nặng trong các sản phẩm dùng làm
phân bón trong nông nghiệp
Đơn vị: ppm
20
Kim
loại
Phân
Phốtpho
Phân
Nitơ
Đá vôi
Bùn
cống thải
Phân
chuồng
Nước
tưới
Thuốc
BVTV
As < 1- 120 2 -120 0,1 - 24 2 - 30 < 1 - 25 < 10 3 - 30
Bi - - - < 1- 1000 - - -
Cd 0,1 - 190 <0,1-9 <0,05-
0,1
2 - 3000 <0,1 - 0,8 20,05 -
Hg 0,01 - 2 0,3 - 3 - < 1 - 56 20,01-0,2 - 0,6 - 6
Pb 4 - 1000 2 -120 20 -1250 2 - 1000 0,1 - 16 < 20 11- 26
Sb < 1 - 10 - - 2 - 44
<0,1 - 0,5
- -

2.2.3. Ô nhiễm KLN do chất thải làng nghề
Hiện nay, ở Việt Nam vấn đề ô nhiễm môi trường đất và nước xảy ra khá
nghiêm trọng ở các làng nghề tái chế kim loại. Theo nghiên cứu của các nhà khoa
học thì hàm lượng các KLN trong nước thải của các làng nghề tái chế kim loại
hầu hết đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần và đều thải trực tiếp vào môi
trường mà không qua xử lý.
Khi nghiên cứu về môi trường đất ở làng nghề cô đúc nhôm, đồng Văn
Môn - Yên Phong - Bắc Ninh, tác giả Phạm Quang Hà cùng cộng sự (2000)[24]
cho thấy hàm lượng KLN khá cao: Trung bình hàm lượng Cd là 1,0 mg/kg (dao
động từ 0,3 - 3,1 mg/kg), Cu là 41,1 mg/kg (dao động từ 20,0 - 216,7 mg/kg), Pb
là 39,7 mg/kg (dao động từ 20,1 - 143,1 mg/kg) và Zn là 100,3 mg/kg (dao động
từ 33,7 - 886,4 mg/kg). Kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng 2.12.
Bảng 2.12. Hàm lượng các kim loại nặng trong đất ở Văn Môn
Đơn vị: mg/kg
Chỉ tiêu
Mức độ
Cu
Pb Zn Cd
Trung bình của xã 41,1 39,7 100,3 1,0
Độ lệch chuẩn 40,7 24,2 176,5 0,6
Tối thiểu 20,0 20,1 33,7 0,3
Tối đa 216,7 143,1 886,4 3,1
Ngưỡng độc (CCME - 1997) 63,0 70,0 200,0 1,4
22
Trung bình toàn huyện 27,9 27,8 85,0 0,6
Theo tác giả Lê Đức và Lê Văn Khoa (2001)[18] một số mẫu đất ở làng
nghề tái chế chì Chỉ Đạo - Văn Lâm - Hưng Yên có hàm lượng Cu: 43,68 - 69,68
mg/kg; Pb: 147,06 - 661,2 mg/kg; Zn: 23,6 - 42,3 mg/kg (thuộc loại đất có hàm
lượng Zn di động cao). Trong số 9 mẫu nước phân tích Pb có 7 mẫu vượt quá
TCCP dùng cho nước sinh hoạt (0,05 mg/l) từ 0,07 ppm đến 10,83 ppm chiếm

1.6. Đề xuất một số biện pháp khắc phục ô nhiễm Pb, Cu, Zn, trong đất và
nước.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Điều tra số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu tại các phòng ban chuyên môn của
huyện Việt Yên và khu công nghiệp Đình Trám.
2.2. Lấy mẫu đất và lấy mẫu nước
- Lấy mẫu đất mặt của đất sản xuất nông nghiệp có độ sâu khoảng
0 – 20 cm, theo tiêu chuẩn TCVN 5297 - 1995.
- Lấy mẫu nước theo tiêu chuẩn TCVN 5944 – 1995 và tiêu chuẩn TCVN
5996 – 1995.
25

Trích đoạn nhiễm do nước thải Nguồn gốc chất thải rắn Một số thụng tin chung về mẫu phõn tớch Xử lý chất thải nguy hại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status