MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU: 1
1.Lý do chọn đề tài: 1
2. Mục tiêu nghiên cứu: 2
3. Đối tượng nghiên cứu: 2
4.Phạm vi nghiên cứu: 2
5.Phương pháp nghiên cứu: 2
6. Kết cấu đề tài: 3
CHƯƠNG I: 5
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH 2 5
THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 5
1.1. Sự ra đời của công ty: 5
1.2.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 7
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty TNHH 2 thành viên trở lên trên thế
giới: 7
1.2.2.Lịch sử hình thành và phát triển công ty TNHH 2 thành viên trở lên ở Việt
Nam: 9
1.3.Khái niệm và đặc điểm của công ty TNHH 2 thành viên trở lên. 13
1.3.1.Khái niệm: 13
1.3.2.Đặc điểm: 14
1.3.2.1.Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có tư cách pháp nhân: 14
1.3.2.2. Công ty TNHH 2 thành viên trở lên chịu trách nhiệm hữu hạn: 14
1.3.2.3. Đặc điểm về vốn: 18
1.4. Ưu điểm và nhược điểm của công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 19
1.4.1. Ưu điểm: 19
1.4.2. Nhược điểm : 19
CHƯƠNG II: 21
VỐN TRONG CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 21
2.1. Khái niệm về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên : 21
43
CHƯƠNG III: 45
THỰC TRẠNG VỀ VỐN TRONG CÔNG TY 45
TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 45
3.1. Những tình huống tranh chấp về vốn, chia lợi nhuận, chuyển quyền sở hữu
tài sản góp vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên và hướng giải quyết: 45
3.1.1. Tình huống tranh chấp về vốn góp, chia lợi nhuận và hướng giải quyết trong
công ty TNHH 2 thành viên trở lên, bình luận và lưu ý: 45
3.1.1.1. Tình huống: 45
3.1.1.2. Giải quyết tình huống : 46
3.1.1.3. Bình luận và lưu ý: 48
3.1.2. Tình huống tranh chấp về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn, hướng giải
quyết trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên, bình luận và lưu ý: 49
3.1.2.1. Tình huống: 49
3.1.2.2. Giải quyết tình huống: 50
3.1.2.3. Bình luận và lưu ý: 53
3.1.3. Tình huống tranh chấp về tư cách thành viên góp vốn, chia lợi nhuận và
hướng giải quyết: 54
3.1.3.1. Tình huống: 54
3.1.3.2. Giải quyết tình huống : 55
3.2. Các giao dịch ảnh hưởng đến vốn công ty và một số vấn đề kiểm soát, bảo
đảm vốn công ty trong các giao dịch: 56
3.2.1. Công ty cho người có liên quan vay mượn: 58
3.2.2. Công ty đứng ra bảo lãnh, mua, bán tài sản với thành viên của công ty: 59
3.2.3. ký hợp đồng với các bên liên quan và gian lận trong việc chuyển nhượng tài
sản: 59
3.2.4. Một số vấn đề kiểm soát và bảo đảm vốn công ty trong các giao dịch trên:59
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về vốn trong công ty
TNHH 2 thành viên trở lên: 60
PHẦN KẾT LUẬN 64
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
1
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317) LỜI NÓI ĐẦU:
1.Lý do chọn đề tài:
Để đạt được mục tiêu kinh tế- xã hội đã đề ra là làm cho dân giàu nước
mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất tinh thần của nhân dân. Nhà
nước ta chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương
này đã được thực hiện từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Khi
Đảng và nhà nước đã thay đổi chính sách đối với nền kinh tế cá thể và kinh tế tư
bản tư nhân.
Từ đó nền kinh tế Việt Nam đã xuất hiện các doanh nghiệp mà chủ sở hữu
của chúng không phải là nhà nước, trong đó có loại hình công ty trách nhiệm hữu
hạn (TNHH ) và đây cũng là loại hình doanh nghiệp được lựa chọn nhiều nhất
trong hoạt động kinh tế. Công ty TNHH hiện nay được thành lập rất nhiều và
không ai có thể phủ nhận được vai trò kinh tế của nó đối với nhà nước.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào cũng
động công ty TNHH 2 thành viên trở lên có hiệu quả hơn. 3.Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những quy định của pháp luật về
vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên, thực trạng về vốn cũng như các
tranh chấp về vốn góp để hình thành công ty, để thấy được những vi phạm từ đó
rút ra những bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện.
4.Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này tập trung chủ yếu các văn bản pháp
luật Việt Nam về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên. Những quy định
trong luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009. Trong đề tài này, tác
giả trình bày khái quát chung về công ty TNHH 2 thành viên trở lên, lịch sử hình
thành và đặc điểm của loại hình công ty này.
5.Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
3
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
Để thực hiện một đề tài một cách rõ ràng, hoàn chỉnh và có khoa học, làm
cho người tiếp nhận nó có thể dễ dàng hiểu được nội dung của vấn đề. Ta phải
vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học và những nội dung lý
luận về luật học là nền tảng của việc nghiên cứu. Phương pháp phân tích luật viết
được sử dụng để tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến đối
tượng nghiên cứu, phương pháp chứng minh được sử dụng để đưa ra những vấn
đề dẫn chứng cụ thể, ngoài ra đề tài cũng sử dụng phương pháp giải thích, diễn
trường kinh doanh thuận lợi. Sau đó công ty ngày càng được phát triển, và mở
rộng trên thế giới.
Trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh diễn ra
ngày càng gay gắt do tác động mạnh mẽ của quy luật giá trị. Mục đích thu lợi
nhuận và ngày càng tăng lợi nhuận trong kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của
các nhà tư bản. Để tồn tại và phát triển, buộc các nhà tư bản phải tìm mọi cách
giảm chi phí sản xuất, nâng cao nâng suất lao động sao cho giá trị hàng hóa cá
biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức giá trị hàng hóa xã hội. Muốn vậy phải có
1 Nguyễn Thị Khế, Bùi Thị Khuyên, Luật kinh doanh (luật kinh tế) Nxb thống kê, năm 2002/ trang
183- 185.
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
6
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
vốn lớn để cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ. Điều này thường chỉ
những nhà tư bản lớn mới có thể thực hiện được. Còn các nhà tư bản nhỏ và vừa
chắc chắn gặp khó khăn hơn. Vì vậy họ có thể bị thua trong cạnh tranh với các
nhà tư bản lớn, nếu như họ “kinh doanh” một cách lẻ loi. Chính điều này đã dạy
cho họ trong quá trình cạnh tranh, từ đó họ đã hợp sức - liên minh với nhau thông
qua hình thức chung vốn để cùng kinh doanh. Hình thức liên kết này đã tạo ra
nền tảng cho công ty ra đời.
Trình độ khoa học ngày càng phát triển và ứng dụng nhanh chóng vào sản
xuất đã thúc đẩy nền kinh tế tư bản ngày càng phát triển, hiện đại và văn minh.
Những ngành, nghề mới, lĩnh vực kinh doanh mới, những sản phẩm mới xuất
hiện ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn, điều kiện thu lợi nhuận lớn hơn. Đây là
“mảnh đất” tốt lành cho các nhà tư bản thu lợi nhuận nhanh chóng. Nhưng có lẽ
các nhà tư bản lớn chớp thời cơ này nhanh chống hơn các nhà tư bản vừa và nhỏ.
Song các nhà tư bản vừa và nhỏ cũng không bao giờ chịu “lùi bước” và thờ ơ với
“mảnh đất tốt lành” đó. Họ đã liên minh với nhau, hùn vốn với nhau để đầu tư
vào các ngành nghề mới này để cùng kinh doanh thu lợi nhuận lớn. Sự hùn vốn
Thông thường, trong hoạt động kinh doanh các thương gia thành lập các
công ty, sau đó pháp luật mới thừa nhận và dần dần hoàn thiện các quy chế pháp
lý cho các công ty này. Nhưng với công ty TNHH thì lại khác hẳn: nó không phải
là sản phẩm của các thương gia mà là sản phẩm của các nhà làm luật, là kết quả
của các hoạt động lập pháp. Dù số lượng thành viên hạn chế, quy mô kinh doanh
nhỏ nhưng các thành viên này lại không muốn chịu trách nhiệm vô hạn như công
ty hợp doanh. Họ muốn có được một mô hình công ty hoàn toàn mới đáp ứng
được bốn yêu cầu: quy mô nhỏ, số lượng thành viên ít, quy chế pháp lý đơn giản
và chịu TNHH. Các nhà làm luật đã đáp ứng được nguyện vọng của các thương
gia bằng việc sáng tạo ra mô hình mới công ty TNHH. Công ty TNHH kết hợp
được nhiều ưu điểm về chế độ chịu TNHH của công ty đối vốn với ưu điểm quen
biết giữa các thành viên của các công ty đối nhân. Đồng thời khắc phục được
những nhược điểm về quy chế pháp lý phức tạp của công ty đối vốn và nhược
điểm của việc không chia rủi ro trong công ty đối nhân.
31.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty TNHH 2 thành viên trở lên
trên thế giới:
Khác với các loại hình công ty, công ty TNHH là sản phẩm của hoạt động
lập pháp theo sáng kiến của các nhà lập pháp Đức. Năm 1892, các nhà làm luật
2 Bùi Ngọc Cường, Nguyễn Viết Tý, Hoàng Thế Liên (đồng chủ biên) và cùng tập thể tác giả Nguyễn
Thị Khế, Nguyễn Minh Mẫn, Trần Ngọc Dũng, Nguyễn Khắc Định, Dương Đăng Huệ, giáo trình luật
kinh tế, trường đại học luật Hà Nội, Nxb tư pháp- 2004/ trang 208
3 Hồ Ngọc Cẩn (chủ biên), chuyên viên nghiên cứu kinh tế cao, ELVIS Trần- Đinh Hùng- Thiên Thiên,
Tìm hiểu Luật kinh tế (tư liệu mới nhất), Nxb tài chính, Hà Nội- 2003.
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
thức công ty TNHH rất phổ biến ở các nước. Ở Việt Nam, các nhà kinh doanh
cũng rất thích thành lập công ty TNHH. Từ khi có luật công ty đến nay số lượng
công ty TNHH được thành lập nhiều hơn hẳn công ty cổ phần. Ở Mỹ không có
luật công ty TNHH nhưng trong luật công ty có loại công ty không phát hành cổ
phiếu trong công chúng được gọi là close corporation, loại công ty này cũng
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
9
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
tương tự như công ty TNHH. Công ty có phát hành cổ phiếu trong công chúng
được gọi là public corporation, loại công ty này tương tự như công ty cổ phần
4
.
1.2.2.Lịch sử hình thành và phát triển công ty TNHH 2 thành viên trở lên ở
Việt Nam:
Sự phát triển của các doanh nghiệp phản ánh sự phát triển kinh tế, gắn
liền với sự phát triển kinh tế và chịu ảnh hưởng sâu sắc của sự phát triển kinh tế
nói chung đặc biệt là sự phát triển của môi trường kinh doanh, hình thức tổ chức
xã hội cũng như môi trường kinh tế vĩ mô. Điều này được minh chứng một cách
rõ nét trong khi nghiên cứu về sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở Việt
Nam.
Việt Nam là một nước nông nghiệp và người dân quê tha thiết với mảnh đất
tổ tiên, không bao giờ chịu bỏ làng mạc trừ những trường hợp bất đắc dĩ. Do đó,
nông nghiệp tuy là một nghề cực nhọc nhưng người dân quê vốn dĩ có đức tính
cần cù chịu khó nên nước ta vẫn có truyền thống là một nước chuyên về nông
nghiệp từ khi lập quốc cho đến thời cận đại từ quốc triều này qua quốc triều
khác, việc học chỉ chuyên về văn chương thi phú không đào luyện những người
kinh doanh. Cho nên thương mại, kinh doanh không được phát triển. Nền kinh tế
trong nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
5
.
Thời kỳ trước năm 1987: Sau thành công của cách mạng tháng Tám và
chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh xóa
bỏ mọi sự hạn chế của chế độ thực dân Pháp đối với các thủ tục đăng ký kinh
doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Chính phủ cũng đồng ý cho các công ty
ngoại quốc được tiếp tục tiến hành các hoạt động kinh doanh như trước. Đây là
lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Thời kỳ này, các chủ doanh nghiệp cũng đóng góp nhiều công sức và tài
sản cho cuộc kháng chiến. Điểm khác biệt lớn nhất trong thời kỳ này là các loại
hình doanh nghiệp từ chỗ chịu sự điều chỉnh của luật nước Pháp sang chịu sự
điều chỉnh của luật nước Việt Nam độc lập.
Sau năm 1954: tình hình chính trị xã hội Việt Nam có những biến động to
lớn. Mặc dù giành được độc lập nhưng bị chia cắt thành hai miền hoàn toàn khác
nhau. Các loại hình doanh nghiệp có nhiều biến động lớn.
Từ năm 1979 đến năm 1986, trên lãnh thổ nước Việt Nam thống nhất, các
loại hình doanh nghiệp có nguồn gốc sở hữu ngoài nhà nước và tập thể không
được phép tồn tại, chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh và các cơ sở sản xuất sở
hữu tập thể và các hợp tác xã. Tính đến năm 1986 ở Việt Nam có khoảng 10 000
doanh nghiệp quốc doanh, một con số rất nhỏ so với dân số 65 triệu người.
Thời kỳ từ năm 1987 đến nay: Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng và
5 Giáo trình luật thương mại Phần 2 của Dương Kim Thế Nguyên/ trang 15-16.
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
11
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã
công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế cá thể và tự doanh trong cơ cấu
nền kinh tế quốc dân bên cạnh kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã. Các hoạt
động kinh tế của các thành phần kinh tế này thực hiện dưới 3 hình thức: hộ cá
12
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
công ty và doanh nghiệp tư nhân ban hành trước đây không còn thích hợp với nội
dung tương ứng của một số luật khác có liên quan, đặc biệt là luật khuyến khích
đầu tư trong nước, Bộ luật dân sự, luật thương mại Điều đó đòi hỏi một sự sửa
đổi về hai đạo luật này và đi tới một đạo luật chung thống nhất điều chỉnh các
loại hình công ty và doanh nghiệp tư nhân theo hướng mở rộng thêm các loại
hình công ty khác, đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh Điều này sẽ tăng
cường tính linh hoạt cho các nhà đầu tư trong việc lựa chọn hình thức và cơ hội
đầu tư phù hợp nhất với khả năng của họ và tăng cường vai trò quản lý của nhà
nước, giám sát bằng pháp luật đối với doanh nghiệp, thực hiện cải cách thủ tục
hành chính.
Ngày 12/06/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua toàn văn
luật doanh nghiệp với 10 chương và 124 điều. Luật doanh nghiệp quy định về
việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp:
công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, các
doanh nghiệp được chuyển đổi thành công ty TNHH, công ty cổ phần từ doanh
nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã
hội
6
. Trong quá trình thực hiện thì luật doanh nghiệp 1999 đã có những hạn chế
và theo xu thế của thời đại thì luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời, có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/07/2006 đã tạo ra bước đột phá mới: trong công ty TNHH và có
quy định thêm về nhóm công ty.
Theo số liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 12 năm 2009, cả
nước có gần 350 000 doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên đến 1 389 000 tỷ đồng
( tương đương 84,1 tỷ USD ), trong đó 95% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
7
.
Gần đây nhất là Quốc hội đã thông qua luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ
doanh nghiệp 2005 được sửa đổi sổ sung 2009 cho rằng: “ Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh”
9
. Như vậy để xem xét một tổ chức nào đó có phải là công ty TNHH
2 thành viên trở lên hay không thì trước hết phải thỏa mãn các điều kiện: là một
tổ chức, mà tổ chức và có các đặc điểm nói trên này phải là một doanh nghiệp.
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên là một loại hình doanh nghiệp, tồn tại
và phát triển bởi sự góp vốn của các thành viên. Những người góp vốn là tổ
chức, cá nhân, số lượng không vượt quá 50 người gọi là thành viên của công ty
trong phần vốn góp của mình.
Theo điều 38 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009 thì công
ty TNHH 2 thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó:
a. Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá
năm mươi người
b. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
8 Khoản 1 điều 38 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009.
9 Khoàn 1 điều 4 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009.
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
14
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
c.Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các
điều 43, 44, 45, của luật doanh nghiêp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phiếu.
1.3.2.Đặc điểm:
10 Điều 84 của Bộ luật dân sự 2005.
11 Điểm b khoản 1 Điều 38 của luật doanh nghiệp 2005được sửa đổi bổ sung 2009.
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
15
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
hạn khi một người phải đền bù cho một sự thiệt hại họ đã gây ra cho người khác
bằng tất cả tài sản mà mình có ( trừ những vật dụng cần thiết cho nhu cầu cá
nhân, đồ thờ cúng mà pháp luật về kê kiên tài sản không cho kê biên). Chịu trách
nhiệm hữu hạn là chỉ phải dùng tài sản mà mình đã đem ra kinh doanh để bồi
thường nếu gây thiệt hại. Trong kinh doanh, một người chỉ dùng một số tiền hay
tài sản nào đó nằm trong khối tài sản của mình để góp vốn vào một cơ sở. Do đó,
họ có một phần tài sản đem ra kinh doanh, còn những phần khác vẫn để ở nhà.
Nếu vì một lý do gì đó phải bồi thường cho ai khi kinh doanh thì họ chỉ mất phần
tài sản đã đem ra kinh doanh mà thôi, tức là họ được hưởng một “trách nhiệm
hữu hạn” khi kinh doanh.
Đối với các cá nhân hay pháp nhân, chế độ “ trách nhiệm hữu hạn” là một
biện pháp kích thích mà luật pháp dành cho những ai bỏ vốn vào một công ty
TNHH hay công ty cổ phần. Bỏ vốn vào các loại công ty này thì được hưởng chế
độ “trách nhiệm hữu hạn”, bỏ vào loại hình khác thì không. Thí dụ như khi bỏ
vào một doanh nghiệp tư nhân. Y như nói lên: lên xe đạp thì phải đạp, còn lên xe
máy thì khỏi đạp.
Về phía công ty, nó không được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn, trái lại
bị trách nhiệm vô hạn, tức là nếu gây thiệt hại cho ai thì nó phải lấy tất cả tài sản
của mình có thể trả cho người kia. Thí dụ: 10 thành viên bỏ tất cả 1000 USD vào
một công ty TNHH 2 thành viên, mỗi người bỏ 100 USD. Đây là phần vốn họ
góp, và công ty có 1000 USD vốn. Với số vốn đó, công ty kia làm ăn lời lãi và
toàn bộ khối tài sản của nó một năm sau lên đến 1500 USD. Cuối năm thứ hai,
công ty mở rông kinh doanh, nhưng do thời thế, do tính toán sai, nó bị nợ lên tới
1500 USD. Để trả nợ có phải lấy toàn bộ tải sản để trả. Công ty bị mất tất cả số
1500 USD, vậy là nó chịu trách nhiệm vô hạn; nhưng các thành viên chỉ mất mỗi
nhuận sau thuế của công ty. Nếu rút số tiền kia ra, thành viên rời khỏi công ty.
Đấy là trường hợp thứ nhất, thành viên tự ý rút ra. Số tiền đã đầu tư không tạo
cho thành viên trách nhiệm gì.
Trong quá trình kinh doanh, công ty có khi bị thiếu vốn phải đi vay, cũng
có khi có tiền chưa dùng đến ngay, nó bèn cho người khác vay. Dù công ty đi vay
hay cho người khác vay thì thành viên cũng không hề can dự gì với công ty,
ngoài chuyện được nhận lợi nhuận hay không. Bây giờ, nếu công ty bị giải thể vì
một lý do gì đó, sau khi đã trả hết nợ cho các chủ nợ, công ty sẽ trả lại 10% số tài
sản nó còn lại cho thành viên. Tài sản này thường cao hơn con số thành viên đã
góp vào. Trước kia thành viên góp 100 USD nay nhận được 150 USD. Đó là
trường hợp thứ hai.
Chỉ trong trường hợp thứ ba, trách nhiệm hữu hạn của thành viên mới trở
nên hiện thực, tức là vấn đề trách nhiệm của thành viên được đặt ra. Thành viên
bỏ ra 100 USD vào công ty được 5 năm. Nay công ty không có tiền mặt để trả nợ
12 Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005 của Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn
Đình Cung, Nxb tri thức/ trang 72-73.
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
17
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
đúng hạn, nó bị chủ nợ đưa ra Tòa xin tuyên bố phá sản. Công ty bị thanh lý. Khi
ấy công ty thu nợ về và tài sản cuối cùng của nó là 2000 USD. Nó phải trả nợ cho
các chủ nợ trước theo những thỏa thuận được Tòa án giám sát trong thủ tục phá
sản doanh nghiệp. Sau khi đã trả hết cho các chủ nợ rồi, công ty còn 1000 USD.
Nó sẽ trả lại cho các thành viên theo tỷ lệ đã góp vốn. Thành viên nhận lại 100
USD. Nếu công ty còn lại 500 USD sau khi trả nợ, thành viên nhận được 50
USD. Nếu nó không còn đồng nào hết thì thành viên mất 100 USD đã góp cho nó
bao nhiêu thì nay mất hết số tiền ấy. Đấy là trách nhiệm của thành viên, nó thành
hiện thực. Tuy nhiên- như đã đề cập- thành viên không phải lấy tiền ở nhà ra để
trả nợ thay cho công ty. Đấy là ý nghĩa về “trách nhiệm” của thành viên, và thực
sản; còn nếu không đủ cho tất cả các chủ nợ thì những người này chia nhau theo
tỷ lệ; giá trị món nợ, trên tổng số tài sản còn lại, trên tổng số chủ nợ thường. Vậy
là, nếu số tài sản của công ty còn đủ thì họ đòi được trọn ven số tiền đã cho vay;
nếu tài sản không đủ thì họ chịu thiệt. Các thành viên công ty- như thành viên -
chỉ lấy lại tài sản theo phần của mình nếu tài sản của công ty hãy còn sau khi đã
trả hết nợ như đã đề cập
14
.
Các thể thức này được quy định chi tiết trong các luật khác nhau như: Bộ luật
dân sự, luật phá sản doanh nghiệp
Tóm lại, đặc điểm về giới hạn trách nhiệm: Giới hạn trách nhiệm của công
ty về mọi hoạt động của mình là tài sản riêng của công ty. Các thành viên của
công ty phải chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty và cũng được giới hạn
trong phạm vi vốn mà họ đã cam kết góp vào công ty. Điều này có nghĩa là ngay
cả khi thành viên đó chưa thực sự góp vốn vào công ty mà mới chỉ đăng ký thì
vẫn phải chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty.
1.3.2.3. Đặc điểm về vốn:
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có tài sản riêng. Tài sản riêng của
công ty là một khối thống nhất, tách biệt khỏi tài sản riêng của các thành viên và
được thể hiện bằng tiền thông qua khái niệm vốn. Vốn Điều lệ của công ty
TNHH 2 thành viên trở lên do các thành viên góp, có thể bằng tiền, hiện vật và
những tài sản khác mà pháp luật cho phép và được các thành viên khác chấp
nhận. Những hiện vật dùng để góp vốn phải được định giá. Mỗi thành viên có
một phần vốn góp và được ghi cụ thể và quy thành tỷ lệ phần trăm ( % ) trong
Điều lệ. Phần vốn góp của các thành viên trong công ty có thể không bằng nhau
và thể hiện tỷ lệ phần quyền, nghĩa vụ của các thành viên đó trong công ty. Khi
tham gia công ty, thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết.
Khi góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên được công ty cấp Giấy chứng nhận
phần vốn góp. Giấy chứng nhận phần vốn góp là chứng chỉ thể hiện phần quyền
doanh nghiệp tư nhân hay công ty TNHH 1 thành viên. Các định chế tài chính
cũng dễ cho vay tiền hơn.
Kỹ năng quản trị công ty TNHH 2 thành viên trở lên tốt hơn doanh nghiệp
tư nhân: Do có nhiều chủ sở hữu nên phát huy được sức mạnh tập thể đồng thời
có thể thuê mướn các quản trị gia điều hành công ty.
1.4.2. Nhược điểm :
Giới hạn tồn tại của công ty: công ty có thể bị giải thể khi có sự bất đồng
giữa các thành viên.
Khó khăn trong việc chuyển quyền sở hữu: việc bán lại phần vốn góp phải
được tuân thủ theo quy định chặt chẽ, và do vậy cản trở số người muốn tham gia
cũng như khối lượng vốn đầu tư.
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
20
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
Dễ xảy ra bất đồng: nếu một thành viên có ý kiến khác nó có thể dẫn đến
nguy cơ tan vỡ công ty. Mặt khác, các thành viên có thể mang các mục tiêu khác
nhau trong từng giai đoạn, điều này cũng dễ gây ra mâu thuẫn
Những thuận lợi và bất lợi của công ty TNHH 2 thành viên trở lên có
thể được tóm tắt bằng sơ đồ sau:
15
THUẬN LỢI BẤT LỢI
Trách nhiệm hữu hạn
Giới hạn tồn tại
Không được phát hành
C
ổ
phi
ế
u
Khả năng phát triển
Nguồn vốn dồi dào
Dễ bất đồng
Đề tài: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
21
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích SVTH: Nguyễn Văn Đô (5062317)
CHƯƠNG II:
VỐN TRONG CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 2.1. Khái niệm về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên :
2.1.1. Khái niệm về vốn:
Theo quan niệm truyền thống, có 4 khái niệm về vốn sau đây: vốn pháp
định, vốn Điều lệ, vốn thuộc chủ sở hữu, vốn kinh doanh.
Vốn Điều lệ: là số vốn do tất cả thành viên góp vào và được ghi vào Điều
lệ công ty. Luật doanh nghiệp còn quy định: “ Vốn có quyền biểu quyết” là phần
vốn góp, theo đó người sở hữu có quyền biểu quyết về những vấn đề được Hội
đồng thành viên quyết định, vốn này trên thực tế là nhầm bảo vệ lợi ích của các
thuộc sở hữu theo luật định, làm nản lòng và mất cơ hội kinh doanh đối với nhà
đầu tư đúng đắn muốn kinh doanh, theo đúng pháp luật, thậm chí họ đã lựa chọn
mô hình kinh doanh khác để kinh doanh.
- Quy định về vốn pháp định đã tạo điều kiện cho một bộ phận cán bộ nhà
nước sách nhiễu dân và kinh doanh, tạo điều kiện cho những hiện tượng cửa
quyền và tham nhũng phát triển; điều đó góp phần làm giảm lòng tin của nhân
dân và doanh nghiệp vào các chính sách của Đảng và nhà nước.
Việc bỏ quy định về vốn pháp định đối với hầu hết các quy định về ngành,
nghề kinh doanh mà chỉ giữ lại ở một số ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc
nghị định quy định không có nghĩa là buông lỏng vai trò quản lý nhà nước mà
chính là sự cụ thể hoá quyền tự do kinh doanh của công dân được quy định trong
Hiến pháp 1992, luật doanh nghiệp 1999 và luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi
bổ sung 2009.
Vốn thuộc chủ sở hữu: vốn thuộc chủ sở hữu gồm vốn Điều lệ, lợi nhuận
chưa chia, chênh lệch do tăng giá tài sản công ty…. Như vậy, vốn Điều lệ là vốn
chủ sở hữu ngay khi doanh nghiệp đăng ký thành lập và ngay khi doanh nghiệp
bắt đầu hoạt động đã xuất hiện chênh lệch giữa vốn Điều lệ và vốn chủ sở hữu.
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, vốn Điều lệ chỉ còn là cơ sở pháp lý
để phân chia quyền và lợi ích giữa các thành viên trong doanh nghiệp mà thôi và
vốn thuộc chủ sở hữu mới là một trong các điều kiện bảo đảm cho lợi ích của các
chủ nợ nói riêng và sự an toàn của hệ thống tài chính quốc gia nói chung.
Vốn kinh doanh: vốn kinh doanh gồm vốn của chủ sở hữu và vốn vay. Vốn
kinh doanh mới là vốn thực sự được sử dụng vào ngành, nghề kinh doanh của
16 Dương Kim Thế Nguyên – Giáo trình thương mại- Phần 2 . Pháp luật về kinh doanh- Tủ sách ĐHCT-
năm 2005 / trang 33.