Những vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại - Pdf 24

Đề cơng
Lời mở đầu
Phần I- những vấn đề cơ bản về hoạt động của
các ngân hàng thơng mại
I- Khái niệm, đặc trng, vai trò chức năng của các ngân
hàng thơng mại
1. Khái niệm.
2. Đặc trng của ngân hàng thơng mại Việt Nam theo Luật các
tổ chức tín dụng
3. Vai trò chức năng của ngân hàng thơng mại.
II- Hoạt động tín dụng
III- Thực trạng về hoạt động tín dụng của ngân hàng th-
ơng mại Việt Nam hiện nay.
1. Những vấn đề chung.
2.Thực trạng.
3. Những nguyên nhân dẫn đến chất lợng tín dụng giảm
4. Những chỉ tiêu đánh giá rủi ro.
5. Những chỉ tiêu đánh giá chất lợng tín dụng
Phần II - Một số giải pháp nâng cao chất lợng tín dụng
ở các ngân hàng thơng mại Việt Nam hiện nay.
Lời mở đầu
Mấy năm gần đây, hoạt động trong ngân hàng thơng mại (NHTM)
không ngừng thực hiện khẩu hiệu "chấn chỉnh hoạt động tín dụng ngân
hàng". Tại sao phải chấn chỉnh, chấn chỉnh nh thế nào, bằng biện pháp
nào? đó là những câu hỏi lớn mà các nhà lãnh đạo, phân tích kinh tế đang
xem xét. Hiểu theo nghĩa đơn giản: là để nâng cao chất lợng tín dụng thì
phải chấn chỉnh lại, xem xét lại công tác tín dụng từ khâu chấp hành
nguyên tắc cho vay, kiểm tra trớc, trong và sau khi cho vay, công tác thu nợ
cả gốc và lãi; cái gì làm đúng thì phát huy, cái gì làm cha đúng thì phải uốn
nắn lại. Khi đã gọi là chấn chỉnh hoạt động tín dụng thì chúng ta liên tởng
ngay hoạt động tín dụng đang có những vấn đề không bình thờng. Đúng là

lợng tiền trong lu thông, là kênh huy động, điều phối chính để đảm bảo
nhiệm vụ đầu t cho quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hoá. Đặc biệt
trong điều kiện hiện nay ở nớc ta, thị trờng vốn còn sơ khai, thị trờng
chứng khoán cha hoạt động có hiệu quả, các doanh nghiệp hoạt động chủ
yếu bằng vốn vay thì hoạt động của ngân hàng đang hàng ngày, hàng giờ
tác động đến đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội của nớc ta. Có thể nói: hoạt
động ngân hàng nói chung, và ở nớc ta nói riêng, phản ánh một cách tập
trung và chính xác, nhanh nhạy nhất toàn bộ các hoạt động sản xuất, kinh
doanh của nền kinh tế xã hội của nớc ta hay nói cách khác đó là "biểu kế"
của nền kinh tế quốc dân.
3
Năm 1991, thực hiện pháp lệnh về ngân hàng, ngân hàng Việt Nam
tách ra thành hai hệ thống: ngân hàng Nhà nớc và ngân hàng thơng mại.
Mỗi hệ thống thực hiện những chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Nhng
đồng thời phụ thuộc lẫn nhau đóng góp tích cực hơn vào quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Ngân hàng Nhà nớc đóng vai
trò định hớng và hoạt động quản lý tiền tệ. Ngân hàng thơng mại thực hiện
chức năng kinh doanh: đợc coi nh một doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt,
kinh doanh tiền tệ. NHTM hoạt động ngày càng đa dạng và có hiệu quả đáp
ứng hơn nữa nhu cầu đầu t cho nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh những mặt
đợc còn tồn tại một số mặt cha đợc trong hoạt động của NHTM nhất là hoạt
động tín dụng.
2. Đặc trng của ngân hàng thơng mại Việt Nam theo Luật các tổ
chức tín dụng.
Theo Luật các tổ chức tín dụng thì NHTM Việt Nam phát triển với
những đặc trng cơ bản sau:
- Thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng (huy động vốn, cho vay
và thanh toán) và các hoạt động kinh doanh dịch vụ có liên quan.
- Thực hiện huy động vốn và cấp tín dụng ngắn hạn là chủ yếu, tức là
duy trì qui mô sản xuất kinh doanh đã có của khách hàng. Với đòi hỏi

trởng kinh tế. Thông qua tập trung vốn, NHTM cho doanh nghiệp vay để
có vốn tăng qui mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị , áp
dụng tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy sản xuất phát triển.
c. Với t cách là một hệ thống, các NHTM tham gia quá trình "tạo tiền"
làm thu hẹp hay mở rộng hệ số của các phơng tiện thanh toán, tạo cân đối
hay làm mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, làm giảm nhẹ hay
gây áp lực với hàng hoá, giá cả ....
d. Đằng sau hoạt động NHTM diễn ra quá trình tích tụ và tập trung
vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
II- Hoạt động tín dụng.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tín dụng. Nhng tóm
lại, dù có nhiều định nghĩa khác nhau thì bản chất của nó là quan hệ vay m-
ợn dựa trên nguyên tắc hoàn trả lại nhau.
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và những căn cứ khác nhau mà
phân loại tín dụng thành: tín dụng thơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng
tiêu dùng, tín dụng cho thuê tài sản.... Trong bài này chúng đề cập đến tín
dụng ngân hàng.
Chức năng của tín dụng là:
5
- Tín dụng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng. Thông
qua tín dụng, các doanh nghiệp nhận vốn để tiến hành sản xuất kinh
doanh, tăng trởng kinh tế.
- Là công cụ bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận. Thực hiện điều hoà vốn
giữa các ngành, các vùng.
- Làm cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trở
nên năng động, mềm dẻo và linh hoạt.
- Là công cụ tăng vòng quay của vốn và giảm tiền mặt trong lu thông.
Hoạt động chính của ngân hàng là cấp tín dụng cho khách hàng. Hay
hiểu theo nghĩa đơn giản là việc sử dụng tiền vào mục đích đầu t và cho vay
thu lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động tín dụng trong NHTM bao gồm rất

Từ khi tách hệ thống ngân hàng thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nớc
thực hiện chức năng quản lý và hệ thống ngân hàng thơng mại thực hiện
chức năng kinh doanh. Do có sự phân công và phối hợp giữa hai hệ thống
này, giúp cho vai trò của ngân hàng đợc thực hiện, đóng góp tích cực hiệu
quả vào phát triển kinh tế - xã hội của nớc ta nhất là giai đoạn đang quá độ
và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Điều này thể
hiện qua tốc độ tăng trởng nhanh (trung bình 8,2-8,5%/năm, tốc độ phát
triển của các ngành nghề, tạo công ăn việc làm, góp phần tích cực vào
chính sách xã hội nh xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ vốn cho nông dân phát
triển kinh tế .Và một điều đáng nói nữa là: trong khi các nớc khác chịu
ảnh hởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, thì nớc ta
không những chỉ có ảnh hởng chút ít,lại còn giữ vững đợc sự ổn định của
tiền tệ, giữ vững mức độ tăng trởng cao nhất Đông Nam á, và cao hơn
nhiều nớc trên thế giới. Nhng chúng ta không thể phủ nhận rằng hoạt động
của ngân hàng vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện, do vậy vẫn còn tồn
tại một số vấn đề mà cần có sự điều chỉnh và đổi mới để phát huy hơn nữa
những kết quả đã đạt đợc,nhất là trong lĩnh vực hoạt động tín dụng ngân
hàng.
Hoạt động tín dụng cũng là một hình thức kinh doanh nhng rất đặc
biệt, nó khác với ngành nghề kinh doanh khác. Nó hoạt động theo phơng
châm "đivay để cho vay", từ đó thu lợi nhuận từ hoạt động cho vay là chủ
yếu. Đi vay thì phải trả, ngoài gốc còn có lãi. Thế nên nếu ngân hàng, tổ
chức tín dụng thực hiện quản lý cho vay không tốt hoặc là không cho vay
đợc hoặc là cho vay nhng gặp những rủi ro nh không đòi đợc nợ thì sẽ bị
thiệt hại, làm giảm kinh doanh thậm chí có thể phá sản, điều này cũng
7
ảnh hởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh của nền kinh tế quốc dân.Đó
là những rủi ro đòi hỏi các NHTM phải khắc phục, ngăn chặn đồng thời tìm
đợc hớng đi và biện pháp hữu hiệu.
Trong quá trình đổi mới, chúng ta còn vấp phải nhiều, điều này thể

đến việc áp dụng các biện pháp để xử lý nợ quá hạn. Tuy vậy, hiện nay
8
theo kết luận của Thống đốc NHNN tại hội nghị giám đốc NHNN tháng 7
năm 1998: "Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp tăng cờng thu hồi nợ quá
hạn và nâng cao chất lợng tín dụng, nhng tình hình nợ quá hạn vẫn cao, ch-
a đợc khắc phục và còn tiếp tục gia tăng".
Tín dụng với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hiện tại mỗi NHTM quốc doanh đợc cấp 1.100 tỷ đồng vốn điều lệ
(70 triệu USD) và giới hạn an toàn nguồn vốn huy động khoảng 30.000 tỷ
đồng (2 tỷ USD). Nh vậy quy mô hoạt động của ngân hàng quá nhỏ để mở
rộng đầu t và hội nhập quốc tế. Với vai trò là trung gian tài chính cung cấp
nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đã đạt đợc những hiệu quả
đáng kể thì những tồn tại trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Có thể nói nợ quá hạn là tồn tại cơ bản nhất, nếu không nhanh chóng
khắc phục sẽ đe doạ trực tiếp đến sự lành mạnh và an toàn của hệ thống
ngân hàng cũng nh tình hình kinh tế - xã hội. Qua số liệu thống kê, nhiều
doanh nghiệp Nhà nớc có trị giá taì sản còn lại chỉ bằng 61% nguyên giá
tài sản cố định, còn vốn lu động do Nhà nớc cấp cho các doanh nghiệp Nhà
nớc chỉ mới đạt khoảng 20% so với yêu cầu sản xuất kinh doanh nhng thực
tế chỉ đạt đợc 10% so với định mức. Chính vì vậy để hoạt động sản xuất
kinh doanh, các doanh nghiệp Nhà nớc phải đi vay ngân hàng với số lợng
lớn, tỷ trọng vốn đi vay chiếm 80 - 90% vốn tự có, thậm chí còn gấp 3-4
lần vốn tự có. Vay nhiều thì phải trả nhiều, vì thế có ngời nói phải giả lãi
vay cho ngân hàng nhiều là nguyên nhân trực tiếp gây thua lỗ. Điều này dễ
hiểu, tiền ngân hàng cho vay là tiền ngân hàng đi vay của dân, có ngân
hàng 70-80% nguồn vốn cho vay là tiền gửi tiết kiệm của dân. Còn lại là
tiền có nguồn gốc vay từ nớc ngoài hay tiền tạm vay từ tiền nhàn rỗi của
các tổ chức khác. Họ có biết đâu, các khoản vay này ngân hàng phải trả cả
gốc lẫn lãi không đợc khất hoãn. Vậy thì đó có phải là nguyên nhân trực
tiếp không. Trên thực tế, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ do bộ máy quản

trình độ công nghệ, trình độ quản lý, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
hiện nay đang quá ít vốn và thực tế cho biết không ít trờng hợp doanh
nghiệp ngoaì quốc doanh hoàn toàn không có vốn để hoạt động kinh
doanh, nhiều doanh nghiệp ra đời bằng" vốn ảo" vì vậy hoạt động sản xuất
của các DNNQD chủ yếu bằng vốn vay hoặc vốn chiếm dụng .
Thực trạng tài chính của các doanh nghiệp nh trên đã nảy sinh tình
trạng tỷ lệ vay vốn của các doanh nghiệp cao hơn gấp nhiều lần so với vốn
tự có. Mà hoạt động tín dụng bắt đầu từ sản xuất kinh doanh gắn bó với
việc chu chuyển đồng vốn và quá trình sản xuất, lu thông hàng hoá phục
vụ cho đời sống của nhân dân. Hay nói cách khác, hoạt động tín dụng bắt
đầu từ nội dung hoạt động của các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất lu thông.
Có "cầu" thì mới có "cung". Cầu đúng đắn, chính đáng thì cung mới bảo
đảm và phát huy tác dụng. Các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã làm cho rủi
10
ro trong tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Để nâng cao chất lợng tín
dụng thì việc chấn chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế. Hay cụ thể hơn là bắt đầu từ chấn chỉnh chế độ tài
chính của các doanh nghiệp, cho dù ngân hàng có đề ra kiểm soát trớc,
trong và sau khi cho vay nhng thực tế ngân hàng làm sao kiểm soát nổi?
Bởi lẽ hoạt động kinh tế tài chính muôn hình vạn trạng, hơn nữa doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh với ngân hàng lại là bình đẳng, thậm chí
khách hàng còn là thợng đế của ngân hàng. Khi có sự kiểm soát thì sự việc
đã diễn ra rồi. Trên thực tế, khoảng cách giữa ngời cho vay và khách hàng
còn xa, không có nghiệp vụ tín dụng gắn liền với mối quan hệ tiếp xúc th-
ờng xuyên giữa ngân hàng và khách hàng. Vấn đề thông tin và nắm bắt
tình hình biến đổi kinh tế-xã hội tác động đến khách hàng còn chậm,
không đầy đủ và xử lý cha triệt để.
Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ngân hàng có sẵn sàng tiếp thêm vốn
cho doanh nghiệp để "vợt cạn" không? đây là câu hỏi mà ngân hàng cần
cân nhắc kỹ lỡng. Nếu tiếp thêm vốn thì lỡ mất hết thì sao. Nếu không tiếp

đó (ở đây có sự khác biệt giữa sở hữu về mặt pháp lý và sở hữu thực tế
quyền sử dụng).
Trong trờng hợp thế chấp kho hàng, ngân hàng không thể thể lấy
hàng hoá trong kho đa về ngân hàng đợc. Trờng hợp này cần uỷ thác cho
ngời thứ ba trông coi kho và quản lý tài sản đó. Đây là một khâu sơ hở dẫn
đến rủi ro cho ngân hàng do khách hàng và cán bọ tín dụng ngân hàng gây
nên. Điển hình là vụ án gần đây nhất: Epco - Minh Phụng.
Đây là vụ án lớn nhất từ trớc đến nay bao gồm 77 bị cáo trong đó
còn 18 cán bộ ngân hàng, gây tổng thiệt hại hơn 4.300 tỷ đồng. ở đây
chúng đã sử dụng thủ đoạn. Cách luật để vay vốn ngân hàng. Ngoài việc
thành lập nhiều Công ty "ma" nhỏ để vay vốn ngân hàng cho chúng sử
dụng thì chúng còn sử dụng thủ đoạn nhập khẩu hàng hoá thông qua pháp
nhân của cá DNNN có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá
nh: Ngũ cốc, Công ty xuất nhập khẩu Đất Việt... các DNNN nhập khẩu
hàng hoá ở nớc ngoài về đều có bảo lãnh của ngân hàng. Song các doanh
nghiệp lại đem lô hàng đó thế chấp cho ngân hàng bảo lãnh (ngân hàng
nhận thế chấp tài sản của mình). Khi hàng đợc nhập về Việt Nam, các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Nhà nớc đem bán trên thị trờng hoặc
phân phối các đại lý ở phía Nam. Theo qui định của Chính phủ và Bộ thơng
mại, mà bán lòng vòng cho Công ty Minh Phụng, thậm chí bán cả hàng thế
chấp mà không cần xin ý kiến của ngân hàng.
Việc Công ty xuất nhập Ngũ cốc và các Công ty khác trong vụ án
Epco- Minh Phụng tự ý bán hàng thế chấp đã vi phạm cam kết trong hợp
đồng.Hàng chỉ đợc xuất khỏi kho khi có sự đồng ý hoặc lệnh giải chấp của
ngân hàng. Bất chấp những cam kết trong hợp đồng, lợi dụng ngân hàng
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status