SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
A. Lời mở đầu
Trong thời gian thực tế tại công ty cổ phần kinh doanh dịch vụ và thương mại
Nam Phương, em đã có cơ hội được tiếp cận và liên hệ giữa kiến thức lý luận đã
được học ở Nhà trường với thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh sinh động và đa
dạng. Đồng thời, với môi trường làm việc trong công ty đã giúp cho em làm quen với
phong cách làm việc của người cán bộ, người quản lý trong tương lai.
Trong quá trình thực tế tại công ty, em được tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và bộ máy kế toán, tổ chức kế toán tại
công ty. Điều đó đã giúp em rất nhiều trong việc củng cố và mở mang hơn cho em
những kiến thức đã được học tại trường mà em chưa có điều kiện để được áp dụng
thực hành.
Sau một thời gian ngắn thực tế tại công ty cổ phần kinh doanh dịch vụ và thương
mại Nam Phương em đã có những nhận thức ban đầu về công ty để tổng hợp và viết
báo cáo thực tế. Bài báo cáo này ngoài phần mở đầu và phần kế luận gồm 3 phần
chính sau:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh
nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại công ty cổ
phần kinh doanh dịch vụ và thương mại Nam Phương
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất tại công ty cổ phần kinh doanh dịch vụ và thương mại Nam Phương
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên báo cáo không thể tránh khỏi những
thiếu sót vì vậy em mong nhận được ý kiến đóng góp từ các thầy cô giáo để em có
thể rút ra kinh nghiệm cho việc viết chuyên đề tiếp theo được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Kim Anh đã giúp em
hoàn thành chuyên đề thực tập này.
1
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
B. Nội dung
Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh
hay không cần thiết. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp các nhà
quản lý còn phải quan tâm đến tính xã hội của chi phí, tức là chi phí cá biệt của các
doanh nghiệp phải đảm bảo ở mức độ trung bình của xã hội và được xã hội chấp
nhận, có như vậy các nhà quản lý doanh nghiệp mới có thể đưa ra được những quyết
định hợp lý trong từng thời kỳ cụ thể để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Chi phí của doanh nghiệp luôn mang tính hai mặt, một mặt chi phí có tính
khách quan, nó thể hiện sự chuyển dịch các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, tính
vào giá trị sử dụng được tạo ra, đây là sự chuyển dịch mang tính khách quan không lệ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Mặt khác, hao phí về các yếu tố trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lại mang tính chủ quan nó phụ thuộc vào
phương pháp tính, trình độ quản lý và yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu về chi phí, cần phải xem xét và phân biệt được sự khác nhau
giữa chi phí và chi tiêu của doanh nghiệp. Chi tiêu là sự chi ra, sự giảm đi thuần túy
của vốn bằng tiền không kể các khoản đó dùng vào việc gì và dùng như thế nào.
Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp (
chi mua sắm vật tư, hàng hóa…), chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh ( chi cho
sản xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý…) và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ
( chi phí vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo…).
Như vậy, chi tiêu và chi phí là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ
mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có
chi phí. Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản
hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này. Chi phí
3
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
và chi tiêu không những khác nhau về lương mà còn khác nhau về thời điểm phát
sinh, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí ( chi mua
nguyên vật liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng ) và có những khoản tính vào chi
phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu ( chi phí trích trước ). Sở dĩ có sự khác biệt
giữa chi tiêu và chi phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận động và
Để thuận lợi cho công tác quản lý và kế toán, cần thiết phải tiến hành phân loại chi
phí. Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác nhau của quản lý, chi phí sản xuất
kinh doanh cũng được phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Mỗi cách phân loại
có tác dụng khác nhau cho quá trình quản lý và kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh
ở các góc độ khác nhau. Vì thế, các cách phân loại chi phí đều tồn tại, bổ sung cho
nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá
thành sản phẩm.
1.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố.( theo nội dung kinh tế)
Theo cách phân loại này người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung và tính
chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở
đâu và có tác dụng như thế nào. Các chi phí được chia làm 5 nhóm yếu tố sau:
Yếu tố chi phí nguyên, nhiên liệu, vật liệu: Phản ánh toàn bộ giá trị nguyên,
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng
cụ… sử dụng vào sản xuất, kinh doanh ( trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế
liệu thu hồi ).
Yếu tố chi phí tiền lương ( phụ cấp lương ) và các khoản trích theo tiền
lương: Phản ánh tổng số tiền lương ( phụ cấp lương ), các khoản có tính chất tiền
lương và các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí
công đoàn trích theo tỷ lệ ( % ) quy định trên tiền lương ( phụ cấp lương ) phải trả
cho công nhân viên.
5
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao phải trích
của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mau
ngoài dùng vào sản xuất, kinh doanh như: chi phí tiền điện, nước, điện thoại…
Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Phân loại chi phí theo yếu tố có tác dụng cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng
từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng chi
phí luân chuyển nội bộ trong doanh nghiệp. Xác định được phương pháp và trình tự
tính giá thành của sản phẩm sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp…
1.1.2.3. Phân loại theo khoản mục chi phí.
Theo chế độ kế toán hiện hành, các chi phí trong doanh nghiệp được chia
thành 5 khoản mục sau đây:
Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ chi phí nguyên,
vật liệu chính, phụ, nhiên liệu… dùng trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản phẩm hay
thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ chi phí về tiền lương
phụ cấp lương, các khoản có tính chất tiền lương, các khoản trích theo tiền lương
( bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn ) phải trả
cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện công tác
lao vụ, dịch vụ.
Khoản mục chi phí sản xuất chung: Gồm toàn bộ các chi phí phát sinh trong
phạm vi phân xưởng hoặc tổ đội sản xuất ( trừ các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và
chi phí nhân công trực tiếp ) như: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí nguyên vật
7
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
liệu, công cụ, dụng cụ dùng trong phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch
vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác…
Khoản mục chi phí bán hàng: Gồm toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan
đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như: Chi phí nhân viên bán hàng, chi phí
nguyên vật liệu, bao bì dùng trong bán hàng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ
mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác…
Khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp: Gồm toàn bộ các chi phí phát sinh
liên quan đến quản lý hành chính, điều hành toàn doanh nghiệp như: Chi phí nhân
viên quản lý, chi phí nguyên vật liệu, đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao TSCĐ,
chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác…
Ngoài các cách phân loại trên đây, chi phí sản xuất kinh doanh còn được phân
loại theo nhiều cách khác nhau như: phân loại theo quan hệ của chi phí với khối
cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản
xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với
điều kiện của doanh nghiệp.
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm của sản phẩm,
khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá
thành cho phù hợp.
Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ
ràng trách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan, đặc biệt bộ
phận kế toán các yếu tố chi phí.
9
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế
toán phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán, đảm bảo đáp ứng được
yêu cầu thu nhận – xử lý – hệ thống hóa thông tin về chi phí.
Tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, cung cấp những
thông tin cần thiết về chi phí, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra được các
quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
1.3 Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản
xuất.
1.3.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
1.3.1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều địa
điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm, lao vụ khác
nhau. Các nhà quản trị doanh nghiệp biết được các chi phí phát sinh ở đâu, dùng vào
việc sản xuất sản phẩm nào… Chính vì vậy chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh
trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo một phạm vi, giới hạn nhất định. Đó chính là
đôí tượng kế toán chi phí sản xuất.
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phí
sản xuất theo các phạm vi và giới hạn đó. Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất
là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất. Thực chất của việc xác
tập hợp các loại chi phí có liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã
xác định, tức là đối với các loại chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng nào có thể
xác định được trực tiếp cho đối tượng đó, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối
tượng tập hợp chi phí cụ thể đã xác định sẽ được tập hợp và quy nạp trực tiếp cho đối
tượng đó.
11
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Phương pháp này yêu cầu phải tổ chức công tác kế toán một cách cụ thể, tỉ
mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán….
theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, có như vậy mới đảm bảo các chi
phí phát sin tập hợp đúng theo các đối tượng một cách chính xác, kịp thời và đầy đủ.
Phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí gián tiếp: phương pháp này được sử
dụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, đó là các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều
đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi
phí này cho từng đối tượng.
Theo phương pháp này, trước hết kế toán tiến hành tập hợp các chi phí phát
sinh có liên quan đến nhiều đối tượng theo địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí,
sau đó tiến hành phân bổ chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí theo các tiêu thức
thích hợp. Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải lựa chọn các tiêu thức
hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối tượng liên quan. Phân bổ chi
phí cho từng đối tượng theo công thức:
Tiêu thức dùng để phân bổ được lựa chọn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ
thể và theo đặc thù của từng doanh nghiệp. Tính chính xác, độ tin cậy của thông tin
về chi phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu thức phân bổ được lựa chọn.
Chi phí phân
bổ cho đối
tượng i
=
Tổng chi phí cần phân bổ
(2)
(4)
(5)
TK 152 TK 152
13
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Ghi chú:
1. Xuất kho nguyên vật liệu dùng trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm
2. Nhận nguyên vật liệu về không nhập kho, dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản
phẩm
3. NVL dùng không hết nhập lại kho
4. Kết chuyển chi phi NVL TT cho từng đối tượng tính giá thành
5. Kết chuyển chi phí NVL TT làm tăng giá vốn hàng hóa ( phần chi phí NVLTT
vượt mức bình thường ).
1.3.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp kế toán sử dụng TK 622 “ Chi phí nhân
công trực tiếp ”. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí,
kết cấu và nội dung của TK 622 như sau:
Bên nợ: Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực
hiện lao vụ, dịch vụ.
Bên có:
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành sản phẩm
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường.
Tài khoản 622 không có số dư cuối kỳ.
14
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Sơ đồ 1.3: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
1.3.2.3 Kế toán chi phí trả trước, chi phí phải trả .
- Kế toán chi phí trả trước.
Tài khoản 142: Chi phí trả trước ngắn hạn. Tài khoản này dùng để phản ánh
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Số dư Nợ: Các khoản chi phí trả trước thực tế đã phát sinh nhưng chưa phân bổ
vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Sơ đồ 1.4. Kế toán chi phí trả trước
Kế toán chi phí phải trả.
Để theo dõi các khoản chi phí phải trả, kế toán sử dụng tài khoản 335 “ chi phí
phải trả ”. Tài khoản này có kết cấu và nội dung như sau:
Bên nợ: Tập hợp các chi phí phải trả thực tế phát sinh.
Bên có: Các khoản chi phí phải trả được ghi nhận ( đã trích trước ) vào chi phí
trong kỳ theo kế hoạch.
Số dư có: Các chi phí phải trả đã tính vào chi phí kinh doanh nhưng thực tế chưa
phát sinh.
Sơ đồ 1.5: Kế toán chi phí phải trả
16
TK 111, 112, 153,
331, 2413
DĐK
Tập hợp chi phí trả trước thực tế
phát sinh (giá trị công cụ, dụng cụ
… xuất dùng có liên quan đến
nhiều năm tài chính, chi phí sửa
chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch
cần phân bổ cho nhiều năm tài
chính, tiền thuê phương tiện, mặt
bằng kinh doanh trả trước nhiều
năm. Chi phí đào tạo nhân viên,
chi phí nghiên cứu, chi phí
chuyển dịch địa điểm, chi phí
quảng cáo…
vào chi phí
TK 2413
TK 111, 112,
….
TK 335
TK 627
TK 641
TK 642
TK 635
TK 241
Chi phí sửa chữa
lớn
TSCĐ trong kế hoạch
thực tế phát sinh
Tiền thuê phương tiện
Lãi tiền vay dài hạn
mặt bằng kinh doanh đến hạn
trả đã trả
Kết chuyển khoản
Các chi phí phải trả
khác
thực tế phát sinh
Chênh lệch giữa chi
phí phải trả theo kế
hoạch lớn hơn chi phí
phải trả phát sinh
sản xuất chung
Chi phí
Chi phí
Chi phí
hồi và các khoản
bồi thường
TK 334, 338,
152, 214,…
TK 1381 ( THNSX)
TK 1388, 111…
Tập hợp CP chi ra trong
thời gian ngừng SX
ngoài kế hoạch
Thiệt hại thực về
ngừng sản xuất
GT bồi thường của
18
TK 632, 415…
tập thể, cá nhân gây
ra ngừng SX
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 “ Chi
phí sản xuất chung ”. Kết cấu và nội dung của tài khoản này như sau:
Bên nợ:
- Tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ.
Bên có:
- Các khoản giảm chi phí sản xuất chung ( nếu có ).
- Kết chuyển ( hay phân bổ ) chi phí sản xuất chung.
Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ và được mở 6 TK cấp 2 để tập hợp theo yếu tố
chi phí:
- TK 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng.
- TK 6272: Chi phí vật liệu.
- TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất.
- TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ.
20
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Để tập hợp chi phí sản xuất hoàn thành theo phương pháp kê khai thường
xuyên, kế toán sử dụng tài khoản 154 “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang ”. Tài
khoản này được mở chi tiết theo từng ngành sản xuất, từng nơi phát sinh chi phí hay
từng loại, nhóm sản phẩm, từng hoạt động lao vụ, dịch vụ…của từng bộ phận sản
xuất, kinh doanh chính hoặc phụ. Kết cấu và nội dung TK 154 như sau:
Bên nợ: Tổng hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ ( chi phí NVLTT, chi
phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung ) theo từng đối tương.
Bên có:
- Các khoản giảm chi phí sản xuất trong kỳ ( nếu có ).
- Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi phí sản xuất thực tế của sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.
Số dư nợ: chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang, chưa hoàn
thành.
Kế toán chi phí sản xuất đối với các doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo
phương pháp kê khai thường xuyên được khái quát theo sơ đồ 1.9
Sơ đồ 1.9: Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
21
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
TK 111, 112,
331
TK 152 TK 621 TK 154
TK 138,
152…
TK 133
TK 334, 338
TK 622
TK 152, 214,… TK 627
TK 133
CPNCTT cuối kỳ
Tập hợp
CPNCTT
22
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
1.3.3 Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, việc tổ chức kế toán các khoản mục chi phí
gần giống như phương pháp kê khai thường xuyên, được thực hiện trên các tài khoản:
- Tài khoản 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Tài khoản 622: Chi phí nhân công trực tiếp.
- Tài khoản 627: Chi phí sản xuất chung.
Toàn bộ quá trình tổng hợp chi phí sản xuất cuối kỳ, tính giá thành sản phẩm
được thực hiện trên tài khoản 631 “ Giá thành sản xuất ”.
Kết cấu và nội dung TK 631 “ Giá thành sản xuất ” như sau:
Bên nợ:
- Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ.
- Tổng hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Bên có:
- Các khoản giảm chi phí sản xuất.
- Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.
- Tổng giá thành thực tế sản phẩm sản xuất hoàn thành trong kỳ.
Tài khoản 631 không có số dư cuối kỳ.
23
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
Sơ đồ 1.10: Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
TK 611
TK 334, 338
TK 111, 214,…
TK 154
TK 621
K/C CPSX không được phân bổ
24
SVTH : NGUYỄN THỊ VÂN GVHD : ThS. VŨ THỊ KIM ANH
1.4 Sổ sách kế toán.
1.4.1 Hình thức nhật kí chung.
Nhật kí chung là hình thức kế toán đơn giản, thích hợp với mọi đơn vị hạch
toán, đặc biệt có nhiều thuận lợi khi ứng dụng máy tính trong xử lý thông tin kế toán
trên sổ. Đặc trưng cơ bản của hình thức sổ kế toán nhật kí chung :
- Số lượng sổ sách của hình thức gồm : Sổ nhật kí, sổ cái và các sổ chi tiết cần
thiết.
- Kết cấu nội dung của mỗi loại sổ trong hình thức này như sau :
* Sổ nhật kí :Sổ nhật kí của hình thức này thường có hai mục đích phản ánh :
Phản ánh chung cho mọi đối tượng gọi là sổ nhật kí chung, phản ánh riêng cho một
số đối tượng chủ yếu có mật độ phát sinh lớn và có tầm quan trọng, đối với hoạt động
của đơn vị cần có sự theo dõi riêng để cung cấp thông tin nhanh cho quản lý nội bộ
gọi là nhật kí đặc biệt, hay nhật biên hay có thể gọi là nhật kí tài khoản.
Nhật kí chung là sổ nhật kí chủ yếu quản lý toàn bộ số liệu kế toán của đơn vị
trong một niên độ kế toán, được sử dụng để phản ánh các nghiệp vụ phát sinh không
phân biệt của đối tượng nào, theo thứ tự thời gian và ghi kết chuyển vào số liệu của
các nhật kí đặc biệt để quản lý chung. Nhật kí chung có đặc điểm :
+ Nhật kí chung thường là sổ quyển không sử dụng sổ tờ rời.
+ Nhật kí chung mở chung cho các đối tượng.
+ chức năng nhật kí chung là hệ thống hóa số liệu kế toán theo thứ tự phát sinh
của nghiệp vụ.
+ Cơ sở ghi nhật kí chung là chứng từ gốc đã lập hợp pháp, hợp lệ.
+ Nhật kí chung ghi theo nguyên tắc ghi sổ kép.
1.4.2 Hình thức chứng từ ghi sổ.
25