I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, những thành tựu mới của khoa học công nghệ, đặc biệt
là của công nghệ thông tin (CNTT) đã tạo nên những biến đổi to lớn trong công cuộc
phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia, trong tất cả các lĩnh vực và trong cuộc sống
của mỗi con người. Ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học và CNTT cũng như những
yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH,
HĐH, hướng tới nền kinh tế tri thức ở nước ta đã được thể hiện qua nhiều văn bản của
Đảng và Nhà nước.
Đối với ngành giáo dục và đào tạo, năm học 2008-2009 cũng đã được Bộ Giáo
dục và Đào tạo xác định là: “Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin”.
CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT
là phương tiện để tiến tới một “xã hội học tập”. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu
“đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục - đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học,
ngành học. Coi CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương
pháp dạy học ở các môn”.
Mục đích của việc ứng dụng CNTT trong nhà trường là: sử dụng CNTT như
một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo các trường học nâng cao chất lượng quản
lí; giúp các thầy giáo, cô giáo nâng cao chất lượng dạy học; trang bị cho học sinh kiến
thức về CNTT, học sinh sử dụng máy vi tính như một công cụ nhằm nâng cao chất
lượng học tập; góp phần rèn luyện học sinh một số phẩm chất cần thiết của người lao
động trong thời kì CNH, HĐH.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của Bộ Giáo dục & Đào tạo, nhận thức sâu sắc
rằng, việc ứng dụng CNTT phục vụ cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác quản lí trường học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất trong
việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp QLGD, Trường Tiểu học Quỳnh
Hồng đã mạnh dạn đầu tư, ứng dụng và bước đầu đã mang lại những hiệu quả thiết
thực.
1
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CNTT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUỲNH HỒNG
(TÍNH TẠI THỜI ĐIỂM ĐẦU NĂM HỌC 2008-2009)
năm học “đẩy mạnh ứng dụng CNTT”, Trường Tiểu học Quỳnh Hồng đã từng bước tổ
chức triển khai việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lí, dạy học, giáo dục và bước
đầu đã mang lại những hiệu quả nhất định.
Trường đã triển khai một số giải pháp sau:
3.1. TUYỀN TRUYỀN, NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ TIN HỌC VÀ ỨNG
DỤNG CNTT CHO CÁN BỘ, GIÁO VIÊN:
- Để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục và công tác giảng dạy,
Trường Tiểu học Quỳnh Hồng đã tổ chức tuyên truyền về ích lợi và tác dụng của việc ứng
dụng CNTT trong hoạt động quản lí, dạy học và giáo dục cho cán bộ, giáo viên, học sinh.
- Phổ biến và quán triệt đầy đủ theo tinh thần, nội dung các văn bản chỉ đạo về CNTT
của Chính phủ và của ngành về ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học và QLGD.
- Thành lập Ban chỉ đạo và Tổ ứng dụng CNTT của trường do đồng chí Hiệu trưởng
làm trưởng ban và phân công trách nhiệm và công việc cụ thể cho từng thành viên.
3.2. XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC ỨNG DỤNG CNTT:
Đây là năm học đầu tiên Bộ GD&ĐT có chủ trương lớn về ứng dụng CNTT
trong trường học. Do vậy, hiện nay các cấp quản lý giáo dục, giáo viên thường băn
khoăn về vấn đề nên đưa CNTT vào nhà trường như thế nào. Tất nhiên, mục tiêu quan
trọng nhất của ứng dụng CNTT ở trường tiểu học là nâng cao chất lượng dạy học,
nâng cao chất lượng quản lý nhà trường.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tìm hiểu, học hỏi mô hình ứng dụng CNTT của một
số đơn vị, chúng tôi xây dựng mô hình ứng dụng CNTT cho Trường Tiểu học Quỳnh
Hồng như sau:
Trước tiên, cần khẳng định rằng mô hình này là mô hình nhà trường truyền
thống có tích hợp các yếu tố CNTT trong các hoạt động của nó.
3.2.1. Những yêu cầu về cơ sở vật chất và trang thiết bị:
3
Cơ sở vật chất và trang thiết bị là yếu tố hết sức quan trọng trong ứng dụng CNTT.
Để việc ứng dụng CNTT của nhà trường hoạt động tốt thì CSVC - kỉ thuật cần có:
- Mạng LAN: Giúp việc điều phối thông tin nội bộ và toàn bộ hoạt động quản lý của
trường.
- Có kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý và dạy học.
- Từng bước đầu tư, nâng cấp trang thiết bị CNTT.
- Triển khai công việc hàng tuần thông qua lịch làm việc, qua thời khoá biểu
(các giờ dạy có ứng dụng CNTT, kế hoạch sử dụng máy chiếu đa năng, phân công sử
dụng phòng máy của trường ). Các hoạt động được thể hiện trên trang WEB, thông
qua mạng LAN, hệ thống thư điện tử (Email nội bộ).
- Phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc ứng dụng CNTT.
3.2.4. Yêu cầu về hoạt động triển khai tích hợp CNTT trong giờ dạy học, đổi mới
phương pháp dạy học:
- Sử dụng phần mềm DH một cách thích hợp trong một hoặc nhiều môn học.
- Bảo đảm tỷ lệ thời lượng dạy học có ứng dụng CNTT từ 10% trở lên.
- Đảm bảo hiệu quả cao trong việc ứng dụng CNTT trong quản lí và DH, GD.
3.2.5. Các bước đi trong việc xây dựng nhà trường theo mô hình
Rõ ràng việc xây dựng trường theo mô hình trên sẽ cần tới thời gian, công sức
và cả sự kiên định và tâm huyết của người quản lý. Phương châm đặt ra là: từng bước
triển khai vững chắc, đồng bộ.
- Tiến hành từng bước: Trước tiên nên chú ý khâu ứng dụng CNTT trong quản lý.
Sau đó là ứng dụng CNTT trong dạy học, không bắt buộc phải ứng dụng CNTT ở tất cả
các môn, ở tất cả các lớp ngay.
- Chắc chắn: trong từng bước phải đảm bảo chất lượng của các hoạt động ứng dụng
CNTT trong dạy học. Không ứng dụng một cách xô bồ, hình thức.
- Đồng bộ: Tiến hành đồng bộ các biện pháp (nhân lực, vật lực, tài lực ): trang
bị phòng máy, kết nối Internet, tuyển chọn đặt mua phần mềm, tập huấn GV sử dụng
5
3.3. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG
QUẢN LÍ VÀ DẠY HỌC – GIÁO DỤC
3.3.1. Tăng cường các điều kiện về CSVC - Kỉ thuật:
3.3.1.1. Đối với nhà trường:
Phối hợp với Đài Viễn thông Quỳnh Lưu, Trung tâm Viettel để lắp đặt gói cước
internet ưu đãi cho nhà trường và các cán bộ quản lí.
học cho cán bộ, giáo viên.
- Nhà trường đã tiến hành mở lớp dạy tin học văn phòng (Word, Powerpoint,
Excel, ) cho toàn thể cán bộ giáo viên. Do điều kiện giáo viên phải dạy 2 buổi/ngày, nên
nhà trường bố trí lịch học vào các ngày thứ 7 hàng tuần và một số thời gian trong hè, nghỉ
giữa kì Ngoài ra giáo viên thực hành vào những buổi trống tiết và sau mỗi buổi dạy. Cán
bộ giảng dạy là giáo viên trong trường, với tinh thần là học tập lẫn nhau, người đã biết dạy
cho người chưa biết, người biết nhiều dạy cho người biết ít…
- Phối hợp với Tổ CNTT Phòng GD&ĐT Quỳnh Lưu mở lớp tập huấn sử dụng
Thư điện tử (Email) và cách khai thác tìm kiếm thông tin trên mạng internet cho cán bộ
giáo viên. Hiện tại nhà trường đã lập hộp thư điện tử cho tất cả giáo viên trong trường
theo tên miền của Phòng GD&ĐT là:
- Nhà trường cũng đã xây dựng và quán triệt quy chế sử dụng hộp thư điện tử
cho toàn thể cán bộ, giáo viên. Trước mắt yêu cầu các đồng chí trong Ban lãnh đạo, tổ
trưởng chuyên môn, văn phòng, trưởng các đoàn thể sử dụng thư điện tử trong việc
nộp báo cáo, nộp đề thi, lịch công tác và trong một số liên lạc, giao dịch khác với
Phòng GD&ĐT và cấp trên. Trao đổi và chia sẽ thông tin cho cán bộ, giáo viên.
- Ngoài ra nhà trường cũng đã tổ chức một số buổi tập huấn, hướng dẫn khai
thác và sử dụng các trang thiết bị dạy học hiện đại cho cán bộ, giáo viên, CNV như:
Sử dụng máy chiếu, máy camera, máy ảnh kỉ thuật số, máy photocppy, các thiết bị
nghe nhìn, giúp cho giáo viên tự tin và làm chủ với các trang thiết bị dạy học hiện
đại, ứng dụng tốt hơn vào công tác của mình.
Kết quả:
Đã tổ chức học tập được 25 buổi tin học văn phòng; 5 buổi tập huấn về sử dụng
thư điện tử, truy cập và khai thác thông tin trên mạng internet, cách tải và đưa tư lệu
lên thư viện và sử dụng một số phương tiện kỉ thuật hiện đại. Tổ chức được 04 buổi về
chuyên đề sử dụng giáo án điện tử.
7
Hiện nay đã có 25/35 đồng chí sử dụng thành thạo máy vi tính và biết sử dụng máy
vi tính để soạn giáo án. 100% cán bộ giáo viên biết gửi và nhận thư điện tử, biết cách truy
cập và khai thác thông tin trên mạng internet phục vụ cho các hoạt động dạy học, giáo dục.
riêng mình để chia sẻ những tài nguyên và kinh nghiệm giảng dạy với các đồng
nghiệp khác. Đây là một hình thức ứng dụng CNTT mới mẻ và hiệu quả trong việc
nâng cao chất lượng giảng dạy, phù hợp với xu thế chung của xã hội và nâng tầm giáo
viên để trở thành các giáo viên điện tử. Chính Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện
Nhân cũng đã từng chia sẻ: “Giáo viên phải có công nghệ thiết kế quy trình bài giảng
mới, phải thu hút học sinh vào bài học, phải có tư liệu cuộc sống bổ sung vào ngoài
sách giáo khoa. Tất cả thầy cô dạy một bộ môn cần lập một trang web để làm tư liệu”
(báo Tuổi trẻ ngày 17/11/2008).
Việc đưa website của nhà trường cũng như của các cá nhân thành viên vào sử
dụng đã mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác quản lí điều hành, công tác dạy và
học của nhà trường; tạo được sự đồng tình, hưởng ứng và cổ vũ mạnh mẽ của cán bộ,
giáo viên, học sinh và phụ huynh.
Địa chỉ website của trường: />Website của thầy Hoàng Phú:
3.3.4.3. Xây dựng sổ liên lạc điện tử cho PHHS:
Việc học tập của con em ngày càng được phụ huynh quan tâm. Tuy nhiên do điều
kiện về công việc, nên phụ huynh cũng ít có thời gian gần gủi thầy, cô giáo để nắm bắt về
tình hình học tập của con em mình. Khai thác những lợi thế của CNTT, vừa qua nhà
trường đã phối hợp với Tổ nghiệp vụ Đài Viễn thông Quỳnh Lưu tiến hành khảo sát các
điều kiện và nhu cầu của PHHS và đã tiến hành lập Sổ liên lạc điện tử (Email) cho hơn
60 học sinh trong toàn trường.
Mục đích của việp lập Sổ liên lạc điện tử:
+ Báo cáo tình hình học tập, rèn luyện của HS cho phụ huynh;
+ Trao đổi, phối hợp các biện pháp giáo dục học sinh giữa nhà trường với phụ
huynh, giữa giáo viên với phụ huynh…
Phụ huynh rất phấn khởi và ủng hộ chủ trương này của nhà trường một cách mạnh
mẽ. Kết quả học tập, rèn luyện của con em được cập nhật thường xuyên. Có những vấn đề
9
tế nhị cũng đã được nhà trường, giáo viên trao đổi một cách cụ thể và thỏa đáng. Nhiều
phụ huynh cũng đã gửi thư trao đổi, phản ảnh, hiến kế, bày tỏ tình cảm của phụ huynh với
việc chăm sóc, quan tâm dạy dỗ con em của mình với nhà trường.
trường và các Tổ trưởng cần theo dõi và có cách quản lý chuyên môn hợp lý (có thể
kiểm tra, thanh tra, dự giờ đột xuất, đối chất, so sánh, đối chiếu ) để loại trừ chứ
không nên cấm toàn bộ giáo viên soạn giảng bằng máy vi tính chỉ vì lý do sợ giáo
viên sao chép của nhau.
Do trình độ và kỉ năng sử dụng máy vi tính của giáo viên thời gian đầu chưa
nhiều, nên việc soạn bài trong máy vi tính đang ở mức động viên khuyến khích, sắp
tới thì đây là một yêu cầu bắt buộc.
3.3.5.2. Thiết kế bài soạn điện tử và tổ chức dạy thí điểm bằng giáo án điện tử ở
một số môn, bài:
Bài giảng điện tử và các trang thiết bị hiện đại có thể coi là những công cụ dạy
học đa năng vì nó có thể thay thế cho hầu hết các công cụ dạy học khác từ truyền
thống (tranh vẽ, bản đồ, mô hình, ) đến hiện đại (cassette, ti vi, đầu video ).
Việc sử dụng hình thức dạy học này bước đầu đã tạo nên một không khí học tập
và làm việc khác hẳn với cách học và cách giảng dạy truyền thống.
GAĐT không phải là phần mềm dạy học, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của
GV (đối tượng sử dụng là GV, không phải là HS). Chính vì vậy, việc truyền đạt kiến
thức vẫn dựa trên giao tiếp thầy - trò, chứ không phải giao tiếp máy - người. Mặt khác,
vì GV là người trực tiếp điều hành việc sử dụng GAĐT nên có thể khai thác tối đa được
những kiến thức cần chuyển tải, tuỳ thuộc vào trình độ của HS và phương pháp giảng
dạy của GV. Tuy nhiên, để thiết kế được một GAĐT, đòi hỏi người soạn phải có một
trình độ tin học nhất định. Cụ thể, người thầy cần phải:
- Biết sử dụng máy tính
- Biết cách truy cập Internet
- Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint, violet,
- Có khả năng sử dụng một phần mềm chỉnh sửa ảnh, làm các ảnh động, flash,
cắt ghép các file âm thanh…
- Biết cách sử dụng projector (máy chiếu)…
11
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng cần phải sử dụng đầy đủ các kỉ năng trên, mà
tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi môn học, bài học mà các yêu cầu được đặt ra khác
phần mềm học toán từ lớp 3 - lớp 5, các phần mềm vẽ trên máy tính và các trò chơi trí
tuệ cho học sinh.
Việc học tập tin học, giúp học sinh làm quen với một số kiến thức ban đầu về
CNTT như một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ tin học thường dùng, rèn
luyện một số kĩ năng sử dụng máy tính. Hình thành cho học sinh một số phẩm chất và
năng lực cần thiết của người lao động hiện đại như:
+ Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.
+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.
+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động
trong xã hội hiện đại.
+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học.
+ Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng CNTT trong học tập.
+ Có ý thức tìm hiểu ứng dựng CNTT trong các hoạt động xã hội.
3.3.5.7. Tổ chức cho học sinh thi giải toán qua mạng Internet (Violympic)
Năm học 2008 - 2009 là năm học có sự đổi mới và đột phá của ngành giáo dục và
đào tạo về "Ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học". Ngoài việc làm cho cán bộ quản
lý, giáo viên nắm vững và ứng dụng tốt CNTT trong dạy học, Bộ GD&ĐT đã phát động
cuộc thi giải toán qua mạng internet. ViOlympic là trang web có nội dung hay và sinh
động, có sức hấp dẫn rất lớn, thu hút được hàng triệu học sinh tham gia. Nội dung cuộc
thi mà trang web đưa ra vừa cũng cố lại cho học sinh những kiến thức cơ bản phù hợp với
chương trình đã và đang học từ mức độ từ dễ đến khó, vừa phù hợp với từng đối tượng
và khả năng của các em. Giao diện của trang web được thiết kế rất thân thiện, sinh động,
phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí của các em. Mỗi vòng thi phía trước là một cánh cửa
đầy bí ẩn, mới lạ nên càng kích thích sự tìm tòi, khám phá của các em.
Violympic không còn là sân chơi của riêng các em học sinh mà còn là sân chơi của
các thầy cô giáo, của các bậc phụ huynh. Trước sự hứng thú và say mê của các em, người
thầy không thể đứng ngoài cuộc. Nhiều thầy cô giáo đã đồng hành với các em, trợ giúp
13
các em trong một số bài toán khó, khuyến khích, động viên các em kiên trì, nhẫn nại để về
đích thắng lợi.
- Số máy phục vụ công tác quản lí và các bộ phận 3 6
- Số máy phục vụ công tác học tập 12 19
- Số phòng máy được nối mạng 0 1
14
- Số máy được nối mạng 1 25
- Trang web của trường 0 1
- Trang web cá nhân 0 1
b. Cán bộ, giáo viên
- Số CB, GV biết sử dụng thành thạo MVT 6 20
- Số GV biết sử dụng Internet, Email 4 25
- Số CB, GV có máy vi tính 6 22
- Số CB, GV nối mạng Internet 16
c. Phụ huynh học sinh
- Số gia đình học sinh có MVT 45 122
- Số gia đình học sinh có nối mạng Internet 21 69
- Số gia đình học sinh được lập Sổ liên lạc đ.tử 0 60
d. Chất lượng giáo dục:
- Học sinh đạt danh hiệu Học sinh Giỏi: 255 em; Tỉ lệ: 43,7 %
- Học sinh đạt danh hiệu Học sinh Tiên tiến: 129 em; Tỉ lệ: 21,3 %
- Học sinh giỏi huyện: 32 em
Trong đó: Giải Nhất: 04; Nhì: 06; Ba: 07; KK: 15.
- Học sinh giỏi thi giải toán qua mạng (Violympic):
+ Cấp huyện: 25 em (có 12 em đạt điểm tối đa 300/300)
+ Cấp tỉnh: 11 em (có 07 em đạt điểm tối đa 300/300)
+ Cấp Quốc gia: 06 em.
Trong đó: HCV: 03 em; HCB: 03 em; HCĐ: 01 em; Băng danh dự: 01 em).
e. Về nhận thức:
Việc ứng dụng CNTT trong nhà trường đã thực sự tạo chuyển biến về nhận
thức, góp phần thay đổi phong cách làm việc trong cán bộ, giáo viên, công nhân viên
và học sinh. CNTT thực sự là một phương tiện, là công cụ làm việc hữu ích để nâng
vận hành, quản lý nhà trường.
CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học
và là phương tiện để tiến tới “xã hội học tập”.
16
Vì vậy, cần khẳng định rằng việc ứng dụng CNTT vào trường học là một hướng
đi đúng và tất yếu.
4.2. Một số đề xuất, kiến nghị:
+ Cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức về Tin học và ứng dụng CNTT trong nhà
trường, nhằm giúp các cấp lãnh đạo, các lực lượng xã hội nhận thức được một cách đầy đủ ý
nghĩa và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả
GD&ĐT.
+ Phòng GD&ĐT cần có chủ trương và tạo điều kiện khuyến khích các nhà trường,
cha mẹ HS tạo mọi điều kiện để HS sớm có điều kiện tiếp cận với tin học và CNTT.
+ Đánh giá, xây dựng và nhân rộng các mô hình tốt, tổ chức các diễn đàn, hội thảo
để chia sẻ và phổ biến kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong việc quản lí nhà trường, hỗ trợ
dạy và học, tổ chức tốt các cuộc thi tài năng trẻ về tin học.
+ Tăng cường công tác tập huấn về ứng dụng CNTT: Bồi dưỡng biện pháp
quản lí nhà trường, quản lí việc giảng dạy tin học cho đội ngũ CBQL GD các cấp;
Thiết kế phần mềm dạy học, giáo án điện tử; sử dụng máy tính, máy chiếu phục vụ
công tác giảng dạy; tiến hành thường xuyên việc theo dõi, đánh giá để rút kinh nghiệm
để đưa ra các biện pháp chỉ đạo kịp thời.
+ Coi việc ứng dụng CNTT là một trong những tiêu chí đánh giá các trường học
cũng như đánh giá CBQL và giáo viên.
17