TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
KHOA NGÂN HÀNG
BÀI TIỂU LUẬN
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn Phạm Dương Phương Thảo
Lớp Ngân Hàng 9 – K34
Phạn Thị Hiền 108207409
Phạm Thị Thảo Nguyên 108207425
Đặng Thị Minh Kiên 108207416
Võ Thị Thanh Trúc 108207543
THỰC TRẠNG
TRÁI PHIẾU CHUYỂN
ĐỔI
VIỆT NAM
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
Võ Phương Thúy Anh 108207101
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 2
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................................................................................................5
.................................................................................................................................................................................5
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................................6
CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM & PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI............................................................8
1.1.Khái niệm trái phiếu chuyển đổi.........................................................................................................................8
1.1.1. Trái phiếu doanh nghiệp.............................................................................................................................8
1.1.2. Cổ phiếu......................................................................................................................................................8
1.1.3. Trái phiếu chuyển đổi.................................................................................................................................8
1.2.Đặc điểm trái phiếu chuyển đổi..........................................................................................................................9
1.2.1. Giá trị trái phiếu chuyển đổi .....................................................................................................................11
4.2. Giải pháp trên thị trường thứ cấp. ............................................................................................................... 48
4.3. Giải pháp đối với doanh nghiệp. .................................................................................................................. 49
4.4. Giải pháp trước mắt ................................................................................................................................... 50
4.2.Đối với trái phiếu chuyển đổi thì cần bổ sung thêm những biện pháp..............................................................53
4.5. Giải pháp cho nhà đầu tư ............................................................................................................................ 53
4.6. Giải pháp cho doanh nghiệp ........................................................................................................................ 53
LỜI KẾT...................................................................................................................................................................56
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 4
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
CÁC TỪ VIẾT TẮT
TP : Trái phiếu
CP : Cổ phiếu
TPCĐ : Trái phiếu chuyển đổi
TTCK : Thị trường chứng khoán
HĐQT : Hội đồng quản trị
ĐHCĐ : Đại hội cổ đông
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NĐT : Nhà đầu tư
TPDN : Trái phiếu doanh nghiệp
DN : Doanh nghiệp
CTCP : Công ty cổ phần
Thuế TNDN : Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế TNCN : Thuế thu nhập cá nhân
CK : Chứng khoán
TMCP : Thương mại cổ phần
UBCKNN : Ủy ban chứng khoán Nhà nước
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 5
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
cánh" cho TTCK , bởi phát hành cổ phiếu mới khiến thị trường bội thực nguồn cung, khi mà
cầu chưa gia tăng do thiếu vắng dòng tiền mới, trong khi hầu hết DN đều có nhu cầu huy động
vốn cho các dự án đầu tư trung và dài hạn.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 6
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, nhóm chúng em đã thực hiện đề tài “ Thực trạng trái
phiếu chuyển đổi Việt Nam”.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 7
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM &
PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI
1.1. Khái niệm trái phiếu chuyển đổi
1.1.1. Trái phiếu doanh nghiệp
TPDN là loại trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm huy động vốn trung dài
hạn cho đầu tư phát triển.
Về bản chất, TPDN chính là giấy xác nhận nợ của doanh nghiệp phát hành, trong đó doanh
nghiệp phát hành trái phiếu là người đi vay còn người mua trái phiếu (trái chủ) chính là
người cho vay. TPDN chính là sự chứng nhận về mặt pháp lý, ghi nhận sự liên hệ giữa quyền
của chủ nợ đối với doanh nghiệp và những nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp phải thực hiện.
Thông thường, TPDN được trả lãi theo thời hạn một năm hoặc nửa năm một lần. Trong
trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, các trái chủ được quyền ưu tiên
thanh toán trước các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
1.1.2. Cổ phiếu
Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là
cổ phần, người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu
một hoặc một số cổ phần của công ty gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành
cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ
đông đối với một công ty cổ phần.
Theo luật Doanh nghiệp năm 2005 thì cổ phiếu có thể là chứng chỉ (tờ cổ phiếu) hoặc bút toán
ghi sổ. Trong trường hợp bút toán ghi sổ thì những thông tin về cổ phiếu được ghi trong sổ
thường niên, vì nếu chuyển đổi, giá thị trường của số cổ phiếu sẽ thấp hơn 1 triệu đồng.
1.2. Đặc điểm trái phiếu chuyển đổi
TPCĐ là trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu thường vào một thời điểm được xác định
trước trong tương lai. Loại trái phiếu này có đặc điểm là lãi suất cố định và tương đối thấp so
với các loại trái phiếu khác, song TPCĐ hứa hẹn đem lại cho NĐT lợi nhuận lớn hơn khi
chuyển đổi thành loại cổ phiếu thường của công ty và đây cũng à điểm hấp dẫn của TPCĐ.
Về bản chất kinh tế, TPCĐ được coi là một sản phẩm lồng ghép giữa TPDN và quyền mua cổ
phiếu do chính DN phát hành.
Quyền mua cổ phiếu cho phép người nắm giữ có quyền mà
không có nghĩa vụ mua cổ phiếu tại một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định
trước.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 9
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi là nhằm huy động thêm vốn vào những thời điểm
chưa thích hợp cho việc phát hành cổ phiếu thường. Việc phát hành chứng khoán có thể
chuyển đổi cũng có thể nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn cho đợt phát hành, nhất là khi
thị trường trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đang xuống giá.
Sự khác biệt của TPCĐ so với trái phiếu thường đó là quyền chuyển đổi sang cổ phiếu theo
một tỷ lệ cố định trong tương lai của trái chủ. Do đó, TPCĐ thường có giá trị hơn trái phiếu
thông thường.
Ngoài ra, vì TPCĐ có thể làm "pha loãng" vốn nên các cổ đông sẽ có quyền ưu tiên mua TPCĐ
được phát hành mới với giá ưu tiên thấp hơn giá trị thị trường của trái phiếu đó.
Khi TPCĐ mới được phát hành, các cổ đông hiện hữu sẽ nhận được giấy chứng nhận quyền ưu
tiên mua trái phiếu này. Người nắm giữ quyền có thể bán lại quyền này nếu họ không sử dụng
chúng để mua TPCĐ.
Tuy nhiên NĐT cần lưu ý một điều là, nếu công ty phải ngưng hoạt động bởi những tình huống
như sát nhập, hợp nhất hay giải thể thì những người nắm giữ TPCĐ sẽ bị mất đặc quyền
chuyển đổi này.
Đôi khi các công ty đặt ra những điều kiện để khuyến khích sự chuyển đổi của trái phiếu, mặc
Giá trị của trái phiếu chuyển đổi = Giá trị của trái phiếu + Giá trị của quyền chuyển đổi
(quyền mua cổ phiếu).
Giá trị của trái phiếu
Được hiểu là giá trị hiện tại của các dòng tiền thanh toán gốc (mệnh giá) và lãi trái phiếu trong
suốt kỳ hạn của trái phiếu. Lãi suất thị trường hay biên độ rủi ro tín dụng tăng đều làm tăng tỷ
lệ chiết khấu và do đó làm giảm giá trị của trái phiếu (dễ dàng chứng minh được điều này qua
công thức tính giá trị hiện tại). Do đó, trên thị trường thứ cấp, giá trị của trái phiếu biến động
phụ thuộc vào các nhân tố này cũng như quan hệ cung cầu.
Giá trị quyền mua cổ phiếu
Phụ thuộc trước hết vào giá cổ phiếu. Khi giá cổ phiếu tăng thì quyền mua càng có giá trị và
ngược lại. Phần chênh lệch giữa giá cổ phiếu hiện hành và giá chuyển đổi được gọi là giá trị
nội tại của quyền mua. Khi giá trị nội tại này lớn hơn 0 thì lúc đó quyền mua đang có lãi và
ngược lại, giá trị nội tại nhỏ hơn 0 thì lúc đó quyền mua không có giá trị. Giá trị của quyền
mua còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như:
• Thời hạn thực hiện quyền: Thời hạn này càng dài thì quyền càng có giá trị và ngược
lại. Điều này là do khi thời hạn còn dài thì cơ hội tăng giá cổ phiếu cao hơn, làm tăng
giá trị nội tại của quyền mua.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 11
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
• Mức độ biến động thường xuyên của giá cổ phiếu: Giá cổ phiếu có mức độ biến
động mạnh thì cơ hội tăng giá (và giảm giá) càng cao, do đó giá trị quyền mua càng cao
và ngược lại.
• Lãi suất trên thị trường: Lãi suất càng giảm thì giá trị quyền mua càng cao do giá của
cổ phiếu sẽ tăng (lãi suất và chứng khoán có quan hệ nghịch).
1.2.2. Tỷ lệ chuyển đổi
Để có thể chuyển đổi được thì cần phải có tỷ lệ chuyển đổi. Tỷ lệ chuyển đổi cho biết mỗi trái
phiếu có thể chuyển đổi được thành bao nhiêu cổ phiếu. Tỷ lệ chuyển đổi được thể hiện dưới
dạng tỷ số hoặc là mức giá chuyển đổi, và nó được xác định trong các hợp đồng mua trái phiếu
cùng với các điều kiện và điều khoản khác.
Ví dụ : Tỷ lệ chuyển đổi 45:1 có nghĩa là mỗi trái phiếu sẽ đổi được 45 cổ phiếu. Hoặc nó
với cả DN phát hành và NĐT - có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của
TPCĐ tại thị trường Việt Nam.
1.3. Phân loại trái phiếu chuyển đổi
- Trái phiếu chuyển đổi có thể thu hồi trước hạn
Lãi suất giảm có thể dẫn đến việc trái phiếu được thu hồi trước hạn do công ty phát hành muốn
thay khoản nợ của mình bằng một khoản vay khác với lãi suất thấp hơn.
- Trái phiếu chuyển đổi theo điều khoản của quỹ thanh toán nợ
Điều khoản này cho phép công ty phát hành trái phiếu thu hồi trước hạn một số trái phiếu nhất
định mỗi năm.
- Trái phiếu chuyển đổi có tỷ lệ chuyển đổi khác nhau
Đối với trái phiếu này số cổ phần thường mà trái phiếu có thể đổi được khác nhau theo từng
thời điểm trong thời hạn trái phiếu.
- Trái phiếu chuyển đổi có lãi suất liên quan với lợi tức cổ phần thường
Khi lãi suất được điều chỉnh, lãi suất trái phiếu tính trung bình hàng năm sẽ luôn cao hơn lợi
tức cổ phần thường.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 13
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
CHƯƠNG 2. ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA TRÁI
PHIẾU CHUYỂN ĐỔI
2.1. Đối với doanh nghiệp phát hành
2.1.1. Ưu điểm
- Chi phí phát hành và lãi suất phải trả thấp hơn so với phát hành trái phiếu thông thường
cũng như so với lãi suất ngân hàng và điều này đồng nghĩa với việc giảm rủi ro đối với tổ
chức phát hành.
- Tăng vốn cổ phần trong tương lai khi chuyển từ trái phiếu nợ thành vốn cổ phần.
- Giá cổ phiếu thường không bị sụt giảm do tránh được tình trạng tăng số lượng cổ phiếu
một cách nhanh chóng trên thị trường.
- Trước khi trái phiếu được chuyển đổi sẽ không làm giảm thu nhập của các cổ đông
hiện hữu so với phát hành cổ phiếu.
- Dễ dàng hơn trong việc huy động vốn do tính hấp dẫn của việc có thể chuyển đổi từ trái
giải thể thì những người nắm giữ TPCĐ sẽ bị mất đặc quyền chuyển đổi.
- Khi tổ chức phát hành (DN) tách cổ phiếu, hoặc thông qua các hành động khác dẫn tới
sự gia tăng khối lượng cổ phiếu lưu hành, làm giảm giá cổ phiếu thì lợi ích của người
nắm giữ trái phiếu khi đến hạn chuyển đổi sẽ bị ảnh hưởng xấu.
2.3. Những điều lưu ý khi mua trái phiếu chuyển đổi
Nói một cách chung nhất thì TPCĐ là một dạng chứng khoán phát hành cho các NĐT mong
muốn được hưởng lợi từ một công ty mà họ chưa hiểu rõ lắm. Bằng việc đầu tư vào các TPCĐ,
họ có thể hạn chế được rủi ro khi giá cổ phiếu giảm nhưng ngược lại, họ sẽ thiệt chút ít khi giá
cổ phiếu tăng cao.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 15
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU
CHUYỂN ĐỔI Ở VIỆT NAM
3.1. Thực trạng thị trường trái phiếu chuyển đổi
3.1.1. Thực trạng chung thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Quy mô nhỏ, thanh khoản thấp
Bất cập thứ nhất, hiện thị trường trái phiếu Việt Nam có quy mô quá nhỏ. Chủ yếu TPCP đang
''thống lĩnh'' thị trường, trong khi TPDN phát hành rất hạn chế. Tính thanh khoản của các loại
trái phiếu còn thấp.
Hệ thống các nhà đầu tư chưa phát triển
Bất cập thứ hai là hệ thống các NĐT chưa phát triển, nhất là các NĐT tổ chức. Hiện chúng ta
chưa thiết lập được hệ thống các nhà tạo lập thị trường; các thể chế trên thị trường chưa hoàn
chỉnh. Nhiều định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư tương hỗ, quỹ đầu tư mạo hiểm,
công ty định mức tín nhiệm... chưa được thành lập.
Thị trường trái phiếu vẫn chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư
Có rất nhiều nguyên nhân khiến các NĐT ít quan tâm đến loại chứng khoán này. Lý do là giao
dịch trái phiếu đòi hỏi một lượng vốn lớn, chỉ thích hợp với các NĐT có tổ chức, trong khi thị
trường trái phiếu hiện nay có rất ít các NĐT có tổ chức.
Hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh
Khung pháp luật mới được hình thành bước đầu; một số lĩnh vực vẫn chưa có hệ thống văn bản
chuyển đổi rất ưu đãi, thông thường TPCĐ có giá bằng mệnh giá. Điều này có nghĩa là
quyền mua cổ phiếu có giá trị nội tại (intrinsic value) rất lớn cộng thêm tỷ lệ lãi suất trả
cho trái phiếu không thấp hơn nhiều so với lãi suất huy động của DN, nhìn sơ qua sẽ thấy
đầu tư vào TPCĐ là rất có lợi. Tuy nhiên nếu với thời hạn chuyển đổi dài sẽ làm cho giá
cổ phiếu bị pha loãng do DN “toàn quyền” tăng vốn liên tục, trong khi đó nguồn cung vào
thị trường ngày càng tăng mạnh làm giảm giá cổ phiếu. Do đó giá trị nội tại của quyền
mua cứ thế mà “teo” dần sau mỗi quyết định tăng vốn pha loãng cổ phiếu của DN.
- Thứ ba, TPCĐ hầu hết có thời hạn chuyển đổi rất ngắn. Nếu như các TPCĐ quốc tế có
thời hạn 5-10 năm thì các TPCĐ của Việt Nam thường có thời hạn chuyển đổi thực tế rất
ngắn, thường là dưới 1 năm.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 17
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
Đặc thù của TPCĐ ở Việt Nam như vậy, đã làm phát sinh một số rắc rối cho chủ thể phát hành
và NĐT.
3.2. Thuế thu nhập đối với trái phiếu chuyển đổi ở Việt Nam
Tiền lãi trái phiếu phải trả của DN phát hành về bản chất là tương tự như việc thanh toán lãi
tiền vay và do đó sẽ được khấu trừ thuế. Việc các DN trong nước phát hành TPCĐ không còn
là chủ đề nóng hổi, do thị trường trái phiếu Việt Nam chứng kiến rất nhiều DN phát hành trái
phiếu loại này nhằm huy động vốn.
Đây được xem là một kênh huy động vốn để mở rộng sản xuất - kinh doanh của các DN Việt
Nam.
3.2.1. Thuế đối với trái phiếu chuyển đổi
Câu hỏi về thuế đầu tiên mà DN phát hành trái phiếu thường đặt ra là liệu lãi trái phiếu (như ví
dụ trên là 70.000 đồng) có được khấu trừ thuế TNDN hay không?
Điều 6.3 Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006 nêu rõ: “Trái phiếu là loại
chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ
của tổ chức phát hành”. TPCĐ đáp ứng được quy định này.
Do vậy, tiền lãi trái phiếu phải trả của DN phát hành về bản chất là tương tự như việc thanh
toán lãi tiền vay và do đó sẽ được khấu trừ thuế (tất nhiên, cần phải thỏa mãn các điều kiện về
lãi tiền vay nêu trong Thông tư 130/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 26/12/2009 về thuế
Lưu ý rằng, những cá nhân cư trú này phải hoàn tất các thủ tục đăng ký phương pháp nộp thuế
trên với cơ quan thuế địa phương. Tuy nhiên, những cá nhân này vẫn phải tạm thời nộp thuế
TNCN ở mức 0,1% trên giá chuyển nhượng theo từng giao dịch và cuối năm sẽ thực hiện
quyết toán thuế theo quy định.
Khi các đối tượng không cư trú thực hiện chuyển nhượng trái phiếu tại thị trường chứng khoán
nước ngoài sẽ không phải nộp thuế thu nhập tại Việt Nam. Công văn của một số cục thuế địa
phương và của Bộ Tài chính cũng đã khẳng định là không đánh thuế đối với những chuyển
nhượng thực hiện ngoài Việt Nam.
Theo Bộ Tài chính, cơ sở để Việt Nam không đánh thuế đối với giao dịch chuyển nhượng TP ở
nước ngoài là dựa trên các quy định của Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã
ký.
Do vậy, đối với những nước không có Hiệp định Tránh đánh thuế với Việt Nam thì vẫn có
những rủi ro về thuế. NĐT tại những nước này cần tìm hiểu và xác nhận thêm với Bộ Tài chính
Việt Nam để tránh những nghĩa vụ về thuế không đáng có.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 19
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
3.2.4. Thuế áp dụng đối với việc chuyển đổi trái phiếu
Luật thuế hiện hành của Việt Nam không quy định cụ thể về thuế áp dụng đối với việc chuyển
đổi trái phiếu thành cổ phiếu, việc đánh thuế thu nhập khi chuyển TPCĐ thành cổ phiếu. Tuy
nhiên, theo quy định chung, nếu có thu nhập phát sinh thì sẽ phải chịu thuế thu nhập.
Khi chuyển đổi, DN không phải trả lãi trái phiếu cho NĐT và do vậy không có chi phí khấu trừ
thuế TNDN.
Nói tóm lại, luật thuế Việt Nam đang dần hoàn thiện để bắt kịp những thay đổi trên thị trường
tài chính nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng. Như đã đề cập, bài viết này nhằm đưa ra
một số ý kiến cá nhân về ảnh hưởng của thuế thu nhập đối với TPCĐ, giúp DN phát hành và
nhà đầu tư hiểu rõ hơn những ảnh hưởng của thuế tại Việt Nam, từ đó có những quyết định
kinh doanh hoặc đầu tư một cách hợp lý hơn.
3.3. Ứng dụng trái phiếu chuyển đổi vào Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của thị trường TPCĐ Việt Nam gắn liền với các mốc thời
điểm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến thị trường TPDN
đội (MB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn (SCB) và Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam (Vietcombank).
Mấp mé xuất hiện trái phiếu chuyển đổi – VIETCOMBANK
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 21
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM
Tháng 12 năm 2005, Vietcombank phát hành thành công 1.365 tỷ đồng TPCĐ với lãi suất bình
quân 6%/ năm. Đây được đánh giá là một mặt hàng rất lợi cho ngân hàng này khi lãi suất trúng
thầu (6%/năm), thấp hơn nhiều so với lãi suất trên thị trường vào khoảng 8-10%.
Tháng 7 năm 2006, số TPCĐ này được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM. Mục
tiêu của đợt phát hành TPCĐ này chủ yếu nhằm tăng cường nguồn vốn cấp 2 để đáp ứng tỷ lệ
an toàn vốn (CAR) theo Quyết định 457/2005 của NHNN.
Trong khi trên thế giới, DN chỉ được phép phát hành TPCĐ sau khi phát hành cổ phiếu để làm
cơ sở xác định tỷ lệ chuyển đổi thì Vietcombank đã làm được điều ngược lại. Rất có thể áp lực
tăng vốn đáp ứng các tỷ lệ an toàn trong khi chưa thể tiến hành cổ phần hóa đã giúp
Vietcombank thực hiện được điều “kỳ diệu” này. Trong thực tế trước đây Vietcombank đã có
những cách thức khác như Bộ Tài chính phát hành trái phiếu đặc biệt tăng vốn nhưng bản chất
chỉ là một tờ giấy trao cho Vietcombank.
Chính vì điều này mà TPCĐ Vietcombank không có tỷ lệ chuyển đổi cố định trước. Hơn nữa
thời hạn chuyển đổi cũng không được xác định cụ thể. Do đó, NĐT không thể xác định được
giá trị nội tại hay giá trị thời gian của quyền mua.
Theo quy định của Vietcombank, NĐT sẽ được phép dùng tiền gốc và lãi lũy kế của TPCĐ để
mua cổ phiếu Vietcombank theo giá trúng thầu bình quân thực tế khi tiến hành IPO. Như vậy,
theo lý thuyết, nếu coi giá bình quân thực tế IPO là giá hiện hành có thể mua bán cổ phiếu trên
thị trường thì giá trị nội tại tại thời điểm chuyển đổi trái phiếu là zero.
Trong trường hợp giá cổ phiếu của Vietcombank ngay sau IPO cao hơn giá đấu thầu bình quân,
giá trị nội tại của quyền mua chính là phần chênh lệch phải trả để mua cổ phiếu. Tất nhiên
không loại trừ trường hợp giá sẽ giảm sau IPO như Bảo Việt. Lúc đó quyền mua sẽ có giá trị
bằng không và trái chủ hoàn toàn có quyền không thực hiện quyền chuyển đổi.
Như vậy về mặt khoa học, giá trị quyền mua TPCĐ của Vietcombank không thể xác định
được.
hành TPCĐ, vốn điều lệ của SCB tăng thêm 770 tỷ đồng và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ
tăng thêm 315 tỷ đồng.
Ông Phạm Anh Dũng, Tổng Giám đốc SCB, cho biết nguồn vốn huy động trong đợt phát hành
TPCĐ năm 2006 được dùng để trang bị cơ sở vật chất, hiện đại hóa ngân hàng, đào tạo nhân sự
và phát triển mạng lưới… Riêng vốn điều lệ dự trữ bổ sung tăng thêm từ phương án phát hành
dự kiến phân phối vào đầu năm 2008, trong đó 85% dành cho cổ đông hiện hữu bằng CP (theo
tỷ lệ cổ phần đang nắm giữ) và 15% sẽ thưởng cho một số đối tượng giúp SCB phát triển.
Đây được xem như một bước đệm thí điểm trong quá trình tăng năng lực tài chính của các
ngân hàng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB)
Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) vừa chính thức được cấp Giấy chứng nhận chào bán TPCĐ
ra công chúng. Theo đó trong năm 2007, MB sẽ phát hành tổng cộng 1 triệu TPCĐ có mệnh
giá 1 triệu đồng/TP với lãi suất 8%/năm được trả sau và trả định kỳ hàng năm. Việc phát hành
chia làm 2 đợt: đợt 1 sẽ phát hành 420.000 tráo phiếu; đợt 2 580.000 trái phiếu.
Đợt phát hành thứ nhất, trái phiếu MB sẽ được chào bán cho các cổ đông hiện hữu với tỷ lệ
40% tổng số cổ phần sở hữu tính đến ngày 25/5/2007. Trong trường hợp trái phiếu không được
cổ đông đăng ký mua hết thì số còn lại sẽ được Hội đồng quản trị bán cho các đối tượng khác
theo các điều kiện không ưu đãi hơn các điều kiện đã chào bán cho cổ đông.
TPCĐ phát hành của MB lần này được đánh giá là hấp dẫn khi thời hạn chuyển đổi chỉ là hai
năm. Tại thời điểm chuyển đổi, toàn bộ số trái phiếu này được chuyển đổi thành cổ phần theo
tỷ lệ 1:1, có nghĩa là 1 trái phiếu mệnh giá 1 triệu đồng được chuyển đổi thành cổ phần có tổng
mệnh giá 1 triệu đồng. Việc phát hành 1 triệu trái phiếu này là nhằm thực hiện lộ trình tăng vốn
điều lệ lên 7.300 tỷ đồng vào năm 2010.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB)
Nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh chuẩn bị cho tiến
trình hội nhập và lộ trình phát triển từ nay đến năm 2010, Ngân hàng Á Châu (ACB) đã đệ
trình Đại hội cổ đông và NHNN phương án phát hành 3.000 tỉ đồng TPCĐ theo mệnh giá cho
các cổ đông hiện hữu.
GVHD: Phạm Dương Phương Thảo 24
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI VIỆT NAM