Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
PHẦN I
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
o0o
Song hành với quy luật phát triển của xã hội loài người, khi mà xã hội có
nhiều biến động thì cuộc sống mưu sinh của con người cũng thay đổi; nền kinh
tế thay đổi thì nhu cầu sống của con người cũng thay đổi theo để thích ứng và
sự nghiệp giáo dục cũng không thể nằm ngoài những quy luật đó. Trong những
năm qua nền giáo dục nước nhà có nhiều đổi thay nên hệ thống chương trình
sách giáo khoa cũng như nội dung giảng dạy đều có sự thay đổi, song song với
việc thay sách giáo khoa là việc đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp
với mục đích yêu cầu của chương trình mới như Luật Giáo dục 2005 đã ban
hành: Giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học ; môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh.”.Vậy vấn đề dạy học và giáo dục sao cho có hiệu quả nhằm đáp ứng với
mục tiêu mà Bộ giáo dục đã ban hành khi mà trong thời cuộc xã hội có nhiều
biến động như tình hình hiện nay( Cùng với sự phát triển kinh tế là sự bận rộn
kèm theo, đa phần phụ huynh chăm lo việc phát triển kinh tế gia đình mà sao
nhãng đến việc học tập của con em mình, song song với sự buông thả của gia
đình là hiện thực xã có nhiều vấn nạn không thể không ảnh hưởng đến sự tò
mò hiếu kỳ của trẻ, như các em xem quá nhiều phim ảnh, chơi các trò chơi điện
tử, đua đòi theo kẻ xấu, mà không có sự kiểm soát đúng mức của gia đình).
Hậu quả là các em học tập yếu đi, không hiểu bài, không nắm được kiến thức
bài học, dẫn đến hổng kiến thức – khó nắm bắt được kiến thức của bài học mới.
Trang 1
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
Điều này làm cho các em chán học, từ sự chán học dẫn đến các em dễ bị sa
ngã: trốn học, bỏ tiết học đi chơi, dẫn đến bỏ học là điều khó cứu vãn. Thế nên
đề tạo cho học sinh có thói quen tự học; tự tìm tòi để chiếm lĩnh tri thức mới
thiếu sự quan tâm đúng mực của gia đình . Đặc biệt là học sinh lớp 1A2
và lớp 2A4 mà tôi đã chủ nhiệm trong hai năm học vừa qua .
3) Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc các tài liệu về đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học.
- Điều tra tỉ lệ học sinh trước và sau khi nghiên cứu .
- Theo dõi sát tình hoạt động học tập hằng ngày của từng học sinh kịp thời
thông báo với phụ huynh học sinh để có biện pháp giáo dục kịp thời .
- Theo dõi sự tiến bộ của học sinh qua từng giai đoạn – làm cơ sở để đánh
giá xếp loại học sinh .
- Thu nhận những phản hồi của phụ huynh học sinh về tình hình học tập
của học sinh ở gia đình, những trao đổi của phụ huynh về vấn đề giáo dục để
có định hướng dạy dỗ các em một cách đúng đắn kịp thời .
- Gần gũi, động viên nhắc nhỡ những học sinh chưa ngoan, chưa vâng lời.
Tuyên dương, khích lệ đúng lúc; đúng chỗ đối với những học sinh làm tốt để
nêu gương.
Trang 3
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
- Ban cán sự lớp hỗ trợ cho giáo viên chủ nhiệm về công tác quản lý lớp và
giúp đỡ bạn trong học tập.
- Mọi thành viên trong gia đình học sinh cùng giáo viên dạy dỗ học sinh.
PHẦN III
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
o0o
A) NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
- Giúp học sinh có thói quen tự học ở mọi nơi mọi lúc .
- Tạo ra môi trường học tập mà mỗi học sinh chủ động trong hoạt động
học tập của mình một cách sáng tạo và đầy lòng tự tin.
- Hình thành môi trường học tập thân thiện,hòa nhập theo nhóm học sinh.
Cung cấp cho ban cán sự lớp các kĩ năng cơ bản ban đầu: Theo dõi, quản lý,
giám sát, báo cáo, giúp đỡ bạn học yếu, kĩ năng giao tiếp v,v .Thông qua
có thái độ kiên quyết) dẫn đến việc quan tâm đến việc học tập của con em còn
nhiều hạn chế. Ý thức học tập của học sinh ít nhiều bị ảnh hưởng trong trạng
thái buông thả của gia đình. Học sinh chưa chú trọng lắm đến việc học tập của
bản thân: Các em thường xuyên nghỉ học, bỏ tiết học đi chơi, ở lớp chưa chịu
Trang 5
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
khó tập trung nghe giảng, nói chuyện, đùa nghịch trong lớp học, đánh bạn vô lý
do, làm việc riêng, về nhà chưa học bài và làm bài theo yêu cầu,… Kết hợp
giáo dục giữa nhà trường – gia đình và giáo viên chủ nhiệm chưa sát sao nên
dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao là điều đáng tiếc .
2) Biện pháp nghiên cứu
a . Giúp cho phụ huynh thấy được vai trò và trách nhiệm của mình khi kiểm
tra bài cũ cho con em, chuẩn bị bài vở đồ dùng học tập cho học sinh trước khi
đến lớp.
b . Hướng dẫn cho phụ huynh học sinh cách thức kiểm tra bài bài học của
học sinh đã học ở lớp, cách chuẩn bị bài học cho buổi học kế tiếp ngày hôm
sau ( Mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia ).
c . Diễn giải cho bố mẹ các em thấy được cần có đầy đủ đồ dùng học tập là
cần thiết để giúp cho quá trình học tập thực hiện thuận tiện và hiệu quả học tập
mang tính khả quan hơn .
d . Hướng dẫn ban cán sự lớp ( Lớp trưởng, lớp phó, các tổ trưởng ) những
việc làm cần thiết để hỗ trợ giáo viên trong quá trình thực hiện như: Trong thời
gian sinh hoạt 15 phút đầu giờ, kiểm tra việc làm các bài tập ở nhà của các
bạn. Dò bài giúp bạn, xem bạn đã nắm được bài học ở nhà theo yêu cầu của cô
giáo chưa. Trong tiết học phát hiện các bạn nói chuyện riêng, làm việc riêng,
hăng say phát biểu xây dựng bài,… để đánh dấu vào ô đã quy định ở Sổ báo
bài . Báo cáo kịp thời với giáo viên chủ nhiệm những bạn cần nhắc nhỡ để
giáo viên ghi ý kiến của mình vào mục cần trao đổi với phụ huynh học sinh.
e. Gần gũi, động viên giúp đỡ học sinh còn yếu, chưa ngoan. Tuyên dương,
khích lệ học sinh thực hiện tốt các hoạt động của trường; lớp để ra; chăm
đều đạt học sinh giỏi cấp tỉnh với kết quả cao .
Qua nhiều năm thực hiện biện pháp trên, tôi nhận thấy việc thực thi của
mình còn có nhiều bất lợi: giáo viên phải mất nhiều thời gian đến từng gia đình
học sinh, mời phụ huynh đến lớp thì làm mất thời gian của phụ huynh, trong
khi bố mẹ các em cũng như bản thân người giáo viên còn phải đảm trách biết
bao nhiêu là công việc khác nữa. Thế rồi, tôi đã đi đến quyết định là cần làm
Sổ báo bài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình kết hợp giáo dục giữa
giáo viên và phụ huynh học sinh diễn ra thuận tiện và có hiệu quả hơn. Đó
cũng chính là kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình dạy học của mình.
Kinh nghiệm này tôi đã thực hiện có hiệu quả đó là thực thi ở lớp 1A2 và lớp
2A4 của mình .
* Đối với lớp 1A2 ( năm học 2009 – 2010)
Trước tình hình của lớp có nhiều bất lợi cho việc nâng cao chất lượng giáo
dục .Phần lớn gia đình của các em còn nhiều khó khăn về kinh tế, bố mẹ mãi lo
làm ăn mà hạn chế quan tâm việc học hành của con cái .
-Từ sự quan tâm lỏng lẻo của gia đình; các em thích đi học thì đi; không đi
học thì thôi nên các em cứ thế mà nghỉ học vô lý do, cứ đi học một ngày lại
nghỉ đến hai ba ngày ( như em Y Tin, em Y Sui , em Quốc Mạnh, em H Lê ,
em Y Yơng , em Y Pốk, em Y Viên , em H Thúy , em Y Tâng, em Y Vơn…
mặc dầu giáo viên đã nhiều lần đến nhà, mời phụ huynh đến lớp để trao đổi
về vấn đề giúp đỡ, mong phụ huynh quan tâm cho con đi học đều hơn .
- Bên cạnh vấn đề bỏ học vô lý do thì hiện tượng các em đi học muộn cũng
không kém mà một phần lớn là do sự chuẩn bị chưa chu đáo từ phía phụ
huynh, từ phải chờ ăn sáng ở nhà cho đến xong mới đi học, dẫn đến các em
Trang 8
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
thường xuyên đi học muộn khi mà lớp học đã vào học 1, 2 tiết ( như : em H Lê
, em H Duyên, em Y Yơng , em Y Pốk, em HThúy, em Y Tâng, em Y Vơn, em
Đông Nhân ,… thậm chí còn có phụ huynh theo con đến trường dỗ dành cho
con ăn ngoài cửa lớp trong khi lớp đang học.
để tìm ra giải pháp tối ưu nhằm giáo dục những học sinh còn học yếu; chưa
ngoan hoặc đến gia đình các em gặp trực tiếp phụ huynh, song những biện
pháp đã thực hiện đem lại hiệu quả chưa cao lại gây ra nhiều khó khăn bất lợi
cho giáo viên cũng như phụ huynh ( giáo viên phải dành thời gian để đi đến
từng gia đình các em, có khi gặp được phụ huynh; có khi lại không gặp được
phụ huynh, phụ huynh dành thời gian làm việc của mình để đến trường vv…) .
Từ những bất cập đã trải qua, vậy làm thế nào đây- sao cho thuận lợi cả
đôi bên giữa phụ huynh học sinh và giáo viên trong công tác phối hợp giáo dục
các em nên người. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều, thế là nhân buổi họp phụ huynh
học sinh (ngày 8 tháng 1 năm 2009). Tôi đã đề xuất, nói lên những ý kiến
những mong muốn của mình mong phụ huynh cùng hợp tác giáo dục các em.
Sau khi trao đổi bàn bạc với phụ huynh học sinh, cuối cùng đi đến thống nhất
và được 100% phụ huynh phấn khởi đông tình là: Cần tăng cường hợp tác
giáo dục giữa cha mẹ học sinh với cô giáo chủ nhiệm nhiều hơn nữa thông
qua “Sổ báo bài”, “ Sổ báo bài ” này với nội dung: hằng ngày học sinh mang
đến lớp để giáo viên theo dõi và ghi kết quả tình hình hoạt động học tập trong
ngày; nêu những nhận xét cần thiết sau đó học sinh lại mang về nhà cho phụ
huynh theo dõi và có ý kiến phản hồi, để giáo viên kịp thời có biện pháp giáo
dục thích hợp và ý kiến thống nhất quy định rõ ràng : trách nhiệm và việc làm
Trang 10
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
cụ thể của giáo viên , trách nhiệm và việc làm cụ thể của học sinh và trách
nhiệm và việc làm cụ thể của phụ huynh học sinh thông qua mẫu :
Nội dung: Hằng ngày giáo viên theo dõi quá trình chú ý học hay không
chú ý tập trung trong giờ học, làm bài tập đầy đủ hay không làm bài học bài
đầy đủ, đã ngoan hay chưa ngoan, thiếu đồ dùng học tập những gì, nêu ý kiến
trao đổi, thông báo những vấn đề liên quan, nhận xét ,…để ghi vào “ Sổ báo
bài ” của ngày hôm đó ( trong quá trình thực hiện giáo viên hướng dẫn ban cán
sự lớp hỗ trợ đắc lực như : kiểm tra bài cũ, hướng dẫn bạn học, kiểm tra đồ
4
5
* Chú ý học *Chưa chú ý học
*Học và làm bài đầy đủ * Học và làm bài chưa đầy đủ
* Ý kiến trao đổi giữa giáo viên và phụ
huynh. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phụ huynh đã kiểm tra
Ký tên
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
Bước đầu thực hiện không thể không tránh khỏi những khó khăn như: Học
sinh còn quên mang sổ báo bài. Các em chưa biết cách tự ghi mà giáo viên
hằng ngày phải hướng dẫn các em cách ghi bài học hôm sau đầy đủ. Về nhà lúc
đầu phụ huynh còn quên kiểm tra quên hướng dẫn con em học và quên chuẩn
bị bài cho học sinh nên giáo viên phải nhắc nhỡ các em về nhà nhờ bố mẹ kiểm
tra bài, hướng dẫn các em học và chuẩn bị bài; chuẩn bị đồ dùng học tập cho
các em, song sau rồi cũng quen dần phụ huynh và học sinh đều cũng nhận thức
ra rồi quen với công việc trao đổi qua “ Sổ báo bài ”.
Sau thời gian thực hiện hợp tác giáo dục thông qua Sổ báo bài thì hiệu
quả dạy và học cũng như nề nếp tác phong học tập của học sinh tiến bộ rõ rệt.
Các em đi học chuyên cần hơn. Hiện tượng đi học muộn chỉ còn không đáng
kể. Các em đã biết giữ gìn trường lớp sạch đẹp hơn. Biết nói những lời nói có
giáo dục – có ý thức hơn .Tác phong mặc áo quần; đội mũ nón, mang giày dép
gọn gàng sạch đẹp hơn. Hiện tượng quên đồ dùng giảm khá nhiều .
Đặc biệt là các em đã có sự chuẩn bị chu đáo của gia đình trước khi đến
lớp nên hiện tượng không học bài và không làm bài ở nhà cũng giảm đi nhiều ,
bù vào đó ở lớp các em cũng tập trung học tập và hăng say phát biểu xây dựng
bài mới, biết hợp tác với bạn trong hoạt động học tập mà dẫn đến chất lượng
dạy và học có nhiều khả quan - ưu việt hơn so với học kỳ1.
là điều rất cần thiết. Từ đó tạo lập cho các em có thói quen học tập đúng: Tích
cực tìm tòi, chủ động trong học tập, tự giác học, hăng say hứng thú học tập ,…
Nhờ vậy mà quá trình dạy và học diễn ra thuận tiện. Ở các em học sinh cá biệt
đều có nhiều tiến bộ như các em Y Khăn, Y Líp, em H Miền, em Y Thêm, em
Trang 14
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
Y K Rá,… từ thói quen thường xuyên nghỉ học vô lý do, trong tiết học thường
chạy ra ngoài để đùa nghịch, gây mất trật tự trong giờ học, ăn quà vặt; thích hát
thì hát; thích ngủ thì ngủ trong giờ học, không học và làm bài ở nhà.Vậy mà về
cuối học kì 1 các thói quen trên đã giảm dần, thế vào đó là các em dần ngoan
hơn và chăm học hơn.
C – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
o0o
*. Đối với lớp 1A2 ( năm học 2009 – 2010)
- So với trước khi nghiên cứu thì số học sinh vắng học ,học không có lý do
đã giảm đi nhiều mà phần lớn là nhờ có sự quan tâm của phụ huynh hơn so với
trước đây :
Ví dụ :
Học sinh vắng học tháng 11/2008 Học sinh vắng học tháng 2 /2009
12 em 7 em
Số học sinh đi học muộn cũng giảm đi đáng kể, đơn cử số học sinh đi học
muộn trên tuần của trước đây so với số học sinh học muộn trên tuần hiện nay
trung bình là :
Trước khi nghiên cứu Sau khi nghiên cứu
15 em / tuần 1 2 em / tuần- Về nền nếp tác phong, các em đã biết mặc áo quần gọn gàng sạch sẽ hơn, hết
hiện tượng ăn quà vặt trong giờ học, các em đã tự ý thức hơn trong các hoạt
động ở trường như việc xếp hàng ra vào lớp, việc xếp hàng và tập thể dục giữa
6 11 13 16 10 4
- Đặc biệt ở sự tiến bộ đáng kể của học sinh là kết quả chất lượng học tập
qua các môn học. Các em đã bước đầu biết đọc lưu loát các bài tập đọc, các bài
học ở các môn, các em đã biết tự nêu được các yêu cầu của đề bài, bước đầu
biết suy nghĩ trước những yêu cầu có vấn đề cần giải quyết, biết trả lời dược
những câu hỏi theo yêu cầu của bài học đặt ra ở tất cả các môn học như : Tự
nhiên – Xã hội , Đạo đức , Thủ công , … các em cũng đã biết tự tìm hiểu các
yêu cầu của bài toán và đã làm đúng ở mức độ cao hơn so với học kỳ 1. Kết
quả điểm thi hai môn Toán và Tiếng Việt cuối học kỳ 2 so với kết quả điểm
thi cuối học kỳ 1 là :
Môn Toán : Cuối học kỳ 1 Cuối học kỳ 2
Điểm Số học sinh Tỷ lệ% Số học sinh Tỷ lệ%
9 10 6 20,0% 17 56,7%
7 8 9 30,0% 7 23,3%
5 6 10 33,4% 5 16,6%
< 5 5 16,6% 1 3,4%
Môn Tiếng Việt
Cuối học kỳ 1 Cuối học kỳ 2
Điểm Số học sinh Tỷ lệ Số học sinh Tỷ lệ
9 10 8 26,7% 14 46,6%
7 8 7 23,3% 8 26,7%
5 6 11 36,7% 7 23,3%
< 5 4 13,3% 1 3,4 %
Qua hai bảng kết quả học tập môn Toán và môn Tiếng Việt so sánh trước và
sau khi nghiên cứu ta nhận thấy có kết quả rất khả quan khi vận dụng phương
Trang 17
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
án này, rõ nét là số học sinh khá – giỏi ở môn toán tăng 30,0%, học sinh yếu
kém giảm 13,2 % . Môn Tiếng Việt số học sinh khá giỏi tăng 23,3%, học sinh
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ
5 17,9% 11 39,3 % 10 35,7% 2 7,1%
Trang 18
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
Qua hai bảng số liệu trên, ta có số học sinh khá giỏi tăng 28,6 % và học sinh
yếu kém cũng giảm đi đáng kể là 14,3 %.
Từ ý tưởng của bản thân tôi, đã thực hiện vào hoạt động dạy và học ở hai
lớp 1A6 và 2A4 trong hai năm học vừa qua. Kết quả trước và sau nghiên cứu
đã minh chứng thực cho thấy cần tăng cường hơn nữa hoạt động phối hợp giáo
dục giữa giáo viên và phụ huynh học sinh – tạo lập môi trường giáo dục gia
đình là điều hết sức cần thiết nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy và học, là
tiền đề trang bị cho các em tính tự giác, tính chủ động sáng tạo trong học tập và
những thói quen tốt cho các em hiện tại cũng như cho các cấp học sau này .
Như vậy qua thời gian áp tăng cường kết hợp giáo dục giữa giáo viên chủ
nhiệm với phụ huynh học sinh thông qua Sổ báo bài ở hai lớp 1A2 và lớp 2 A4
chưa phải là dài lắm nhưng bước đầu cũng mang lại kết quả đầy khả thi, song
để tạo lập cho học sinh có thói quen tự học, tự tìm tòi, chủ động sáng tạo trong
học tập, tạo lập cho các em hình thành những thói quen hành vi đạo đức, tác
phong học sinh chuẩn mực là điều không thể đơn giản chút nào, mà đòi hỏi sự
nổ lực cao của phụ huynh học sinh và tấm lòng đầy nhiệt thành – tâm huyết
cao của người thầy, phải hằng ngày kề cận gần gũi với các em; theo dõi sát
từng việc làm trong học tập thái độ- cử chỉ của các em để kịp thời uốn nắn các
em theo hướng đúng ( đơn cử sáng hôm nay 25 / 3/ 2009 sau những ngày theo
thân mình, mà trên cả là sự kiên nhẫn, chịu khó, gần gũi với các em nghĩa là
Trang 20
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
không những vừa giảng dạy qua từng tiết học; bài học - truyền đạt những kiến
thức của bài dạy theo chương trình hiện hành mà còn cần nắm được những đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ ,và hiểu rằng lúc nào thì cần sự hỗ trợ của cha mẹ và
hỗ trợ như thế nào, thầy cô giáo cần nhắc nhở như thế nào mà không làm ảnh
hưởng đến tâm lý của các em. Tạo lập cho các em lúc nào cũng cảm thấy thoải
mái; tự tin trong học tập. Đó là chúng ta cần làm với quyết tâm cao .
- Ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch, động viên khuyến khích giáo viên
luôn tìm tòi, sáng tạo phát hiện ra nhiều phương án giáo dục có tính khả thi,
tạo điều kiện để giáo viên trong trường cùng trao đổi học hỏi lẫn nhau về kinh
nghiệm giảng dạy.
- Phòng giáo dục, nhà trường thường xuyên tổ chức chuyên đề về vấn đề tìm
hiểu tâm lý trẻ, tìm hiểu về những khó khăn của trẻ ở địa phương thường mắc
phải, về các vấn đề liên quan đến giáo dục và giảng dạy nhằm nâng cao hiệu
quả dạy và học ( như dự án hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tập
huấn dạy học theo công nghệ thông tin v,v …mà phòng giáo dục đã tập huấn
cho toàn thể giáo viên trong huyện nhà) trong quá trình học tập để tìm ra những
phương án giáo dục tối ưu nhất phổ biến rộng rãi cho giáo viên. Để từ đó giúp
họ có phương pháp dạy học tốt nhất theo phương châm “ Đổi mới phương
pháp dạy học” nhằm phát huy tối đa những khả năng ở học sinh như Luật
Giáo dục đã ban hành .
- Cần phải có những chuyên đề hỗ trợ, nâng cao chất lượng giờ dạy, kích
thích sự hứng thú học tập bộ môn cho giáo viên và học sinh bằng nhiều hình
thức giã ngoại, đèn chiếu VI DEO, tự làm đồ dùng dạy học có hiệu quả… và
triển khai các sáng kiến kinh nghiệm có giá trị của trường bạn đến với từng
giáo viên để tạo điều kiện cho từng giáo viên phát huy hơn nữa trong việc giúp
các em học tập.
Trang 21
cũng chỉ là bước đầu, để hoàn thành được mục tiêu, tôi còn phải học hỏi,
nghiên cứu, sáng tạo nhiều hơn nữa. Và rất mong thông qua đề tài này, tôi sẽ
nhận được nhiều ý kiến đóng góp của nhiều đồng nghiệp để cho những đề tài
nghiên cứu sau này được hoàn thiện hơn. Phương pháp bài viết có phần nào sai
sót, tôi rất mong nhận được sự thông cảm góp ý chân thành của quý đồng
nghiệp – tôi xin chân thành cảm ơn.
Đề tài sáng kiến này hoàn thành được là nhờ có Ban lãnh đạo nhà trường đã
cho phép và tạo điều kiện giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện nghiên
cứu, nhờ có toàn thể phụ huynh của hai lớp 1A2 và 2A4 đồng lòng phối hợp
thực hiện và nhân tố không kém phần quan trọng của quá trình nghiên cứu này
là ở sự nổ lực cố gắng với quyết tâm cao của các em học sinh. Tôi xin cảm ơn
Ban giám hiệu nhà trường, toàn thể phụ huynh học sinh cùng toàn thể các em
học sinh thân yêu của hai lớp 1A2 và 2A4 đã giúp cho tôi thành công trong quá
trình làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm này .
EaRal, ngày 10 tháng 0 4 năm 2010
Giáo viên thực hiện đề tài
Lê Thị Lộc
Trang 23
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
PHẦN VI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Sách giáo khoa các môn học thực hiện giảng dạy.
Trang 24
Đề tài:Tăng cường phối hợp giáo dục giữa giáo viên & gia đình thông qua Sổ báo bài
2) Sách hướng dẫn giảng dạy các bộ môn lớp 1, lớp 2
3) Báo giáo giục và thời đại.
4) Tập san giáo dục tiểu học.
5) Các tài liệu tham khảo về giảng dạy học sinh tiểu học
6) Lý luận dạy học.
14 15
Phần V : Kết luận
15 16
Trang 25