HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
PHM TH THANH MAI
quản lý nhà nớc nhằm phát triển
các dịch vụ cơ bản đối với ngời nghèo
trên địa bàn thành phố hà nội
LUN N TIN S KINH T
H NI - 2014
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
PHM TH THANH MAI
quản lý nhà nớc nhằm phát triển
các dịch vụ cơ bản đối với ngời nghèo
trên địa bàn thành phố hà nội
Chuyờn ngnh : Qun lý kinh t
Mó s : 62 34 01 01
LUN N TIN S KINH T
Ng i h ng d n khoa h c: PGS, TS NGUYN HU THNG
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phạm Thị Thanh Mai
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN 7
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về đói nghèo và quản lý nhà nước nhằm phát
triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên thế giới và ở Việt Nam 7
DANH MC CÁC CÔNG TRÌNH CA TÁC GI Ã CÔNG B LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC 161
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH
An sinh xã hội
BRI
Ngân hàng nhân dân Inđônêxia
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CSXH
Chính sách xã hội
CTMTQG
Chương trình mục tiêu quốc gia
DVVL
Dịch vụ việc làm
DVXH
Dịch vụ xã hội
HĐND
Hội đồng nhân dân
KTXH
Kinh tế - xã hội
KCHT
Kết cấu hạ tầng
NGO
Tổ chức phi chính phủ
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTG
Bảng 3.8: Trình độ văn hóa của người dân Hà Nội qua điều tra 84
Bảng 3.9: Trình độ tay nghề của người nghèo ở Hà Nội qua điều tra 85
Bảng 3.10: Số lao động xuất khẩu của thành phố Hà Nội 87
Bảng 3.11: Số liệu lao động việc làm của Hà Nội giai đoạn 2000-2010 89
Bảng 3.12: Mạng lưới tín dụng và dư nợ tín dụng của Ngân hàng Chính
sách xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2000-2010 93
Bảng 3.13: Một số văn bản của thành phố về tín dụng cho người nghèo
giai đoạn 2008 - 2011 99
Bảng 3.14: Dư nợ tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội Hà Nội cho
người nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội (tính đến 31/12/
2012) 102
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cơ hội tìm việc làm của người nghèo Hà Nội. 28
Hình 3.1: Tỷ lệ nghèo theo từng chiều thiếu hụt của thành phố Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh 74
Hình 3.2: Cơ cấu độ tuổi được nhận hỗ trợ dịch vụ việc làm 90
Hình 3.3: Tỷ lệ các tổ chức, cá nhân cho người nghèo Hà Nội vay tiền 91
Hình 3.4: Mô hình phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về cung
cấp dịch vụ cơ bản nhằm xóa đói giảm nghèo 95
Hình 3.5: Mô hình tổ chức Ban chỉ đạo trợ giúp người nghèo Hà Nội 96
Hình 3.6: Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dịch vụ tín dụng 107
Hình 3.7: Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dịch vụ việc làm 112
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo luôn là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, đặc
biệt đối với đang phát triển như Việt Nam. Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một
chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta và đang được thực hiện từ nhiều năm
nay. Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN được phê duyệt tháng
vụ khác nhau cho người nghèo Hà Nội như: cho vay lãi suất ưu đãi thông qua
quỹ tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH), xây dựng chính sách ưu
tiên đối tượng thuộc hộ nghèo trong xuất khẩu lao động, đào tạo nghề, khuyến
khích doanh nghiệp nhận lao động địa phương thuộc hộ nghèo vào làm việc…
Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2012 vừa được Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội (TBXH) công bố cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo của Hà
Nội còn 1,52% và Hà Nội thuộc một trong năm tỉnh, thành phố có số hộ nghèo
thấp nhất cả nước.
Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận nêu trên, trên bình diện tổng thể,
quản lý nhà nước (QLNN) đối với XĐGN nói chung và đối với một số dịch vụ
cho người nghèo nói riêng vẫn còn những hạn chế nhất định, như: QLNN đối với
dịch vụ việc làm (DVVL) tại các trung tâm giới thiệu việc làm hay đào tạo nghề
cho người nghèo chưa sâu sát; việc hoạch định chính sách tài chính cho người
nghèo vẫn còn chắp vá, manh mún, chưa có tính đột phá; công tác kiểm tra, kiểm
soát dịch vụ tài chính cho người nghèo còn lỏng lẻo, việc cấp phát trợ cấp cho
người nghèo ở một số nơi chưa kịp thời…
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cùng
với sự tác động của thiên tai, nhiều rủi ro bất trắc có thể xẩy ra, tình trạng phân
hóa giàu nghèo tăng lên, tình trạng tái nghèo có nguy cơ gia tăng. Để giảm
nghèo một cách bền vững, việc cung cấp các dịch vụ cho người nghèo một cách
có hiệu quả có ý nghĩa lớn. Do vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm các giải pháp
3
hoàn thiện QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên
địa bàn thành phố Hà Nội có ý nghĩa thiết thực, cấp bách. Đó là lý do chủ yếu
của việc lựa chọn đề tài: “Quả n lý nhà nư ớ c nhằ m phát triể n các dị ch vụ cơ
bả n đố i vớ i ngư ờ i nghèo trên đị a bàn thành phố Hà Nộ i” làm luận án tiến sĩ
kinh tế, chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn có liên quan, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN nhằm phát
dụng bao hàm cả phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp; phương pháp
định tính, định lượng và phối hợp.
Việc sử dụng phương pháp diễn dịch nhằm hình thành khung lý thuyết về
QLNN đối với một số dịch vụ cho người nghèo, dựa trên cách tiếp cận đói nghèo
đa chiều, cách thức XĐGN chủ yếu là cung cấp một số dịch vụ cơ bản cho người
nghèo (được luận chứng), với giả định về tính hiệu quả của việc cung cấp một số
dịch vụ cho người nghèo từ phía Nhà nước, nội dung và phương thức QLNN đối
với các dịch vụ này. Trên cơ sở đó để rút ra những kết luận cần thiết, những kiến
nghị về QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo nói
chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng.
Phương pháp quy nạp được sử dụng trên cơ sở các dữ liệu thực tế về đói
nghèo, XĐGN cũng như hiện trạng QLNN đối với các dịch vụ cho người nghèo
(chủ yếu trên địa bàn Hà Nội) để khái quát hoá (quy nạp), rút ra những nhận
định, kết luận về QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người
nghèo, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện, đổi mới.
Việc nghiên cứu đề tài đòi hỏi sử dụng cả phương pháp định tính, định
lượng và phối hợp cả hai phương pháp đó. Theo đó, phương pháp định tính được
sử dụng trong việc mô tả, đưa ra các khái niệm, đặc điểm của đói nghèo đô thị,
phương thức XĐGN ở đô thị, nội dung và phương thức QLNN nhằm phát triển
các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo đô thị nói chung và thành phố Hà Nội
nói riêng. Phương pháp định tính cho chúng ta biết như thế nào và tại sao:
QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo và tại sao?
5
Phương pháp định lượng được sử dụng để xem xét, đánh giá sự biến động về
đói nghèo, XĐGN, những chuyển động trong QLNN nhằm phát triển các dịch vụ
cơ bản đối với người nghèo ở Hà Nội cũng như lượng hoá một số vấn đề nghiên
cứu có liên quan.
Để kiểm định một số luận điểm theo phương pháp định tính và lượng hoá
một số chỉ tiêu về đói nghèo, XĐGN và QLNN đối với một số dịch vụ cho người
nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả đã tiến hành điều tra theo mẫu
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CU V ÓI NGHÈO VÀ QUN
LÝ NHÀ NC NHM PHÁT TRIN CÁC DCH V C BN I VI NGI
NGHÈO TRÊN TH GII VÀ VIT NAM
Đói nghèo là hiện tượng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và XĐGN
được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và nhiều nhà khoa học quan tâm đặc
biệt. Do vậy, đã có không ít nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan
đến đề tài. Dưới đây sẽ hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc
tế có liên quan đến đề tài luận án.
1.1.1. Các nghiên cu v ói nghèo, dch v c bn i vi ngi nghèo
và vai trò ca chính ph trong vic gii quyt vn ói nghèo trên th gii
Để góp phần XĐGN ở từng nước và trên toàn cầu, nhiều tổ chức và cá
nhân đã tiến hành các nghiên cứu về đói nghèo, các phương thức XĐGN. Trong
số đó, phải kể đến một số nghiên cứu điển hình, được coi như là “kim chỉ Nam”
trong xây dựng khuôn khổ hành động giải quyết đói nghèo của nhiều quốc gia
trên thế giới như các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (NHTG).
Một nghiên cứu mang tính toàn cầu về đói nghèo của NHTG “Đánh giá
tình trạng nghèo trên thế giới”, được coi là một trong các nghiên cứu khá sớm,
có tính toàn diện và hệ thống về vấn đề đói nghèo. Báo cáo của NHTG đưa ra
quan niệm người nghèo: “Một người được gọi là nghèo khi không có việc làm,
không có đủ tiền để mua lương thực thực phẩm để có thể duy trì được cuộc sống
của mình, không có tiền để cho con đi học và cũng không đủ tiền để chữa bệnh
khi ốm đau” [60, tr.19]. Trong báo cáo này, các thước đo về đói nghèo (chủ yếu
là đói nghèo về thu nhập) được xác định. Điểm nổi bật trong báo cáo này chính
là việc phát hiện và tổng kết các nguyên nhân của đói nghèo, trong đó đặc biệt là
sự hạn chế trong tiếp cận các nguồn lực (như vốn, đất đai) cho sản xuất. Từ đó,
nhóm nghiên cứu đề xuất với chính phủ các nước là cần chú trọng đến các chính
9
chính sách XĐGN cần làm là phải tạo điều kiện để người nghèo có được năng
lực thực hiện các chức năng cần thiết, đi từ những thứ rất cơ bản như đủ dinh
dưỡng, có sức khoẻ tốt, tránh được nguy cơ tử vong sớm… đến những nhu cầu
cao hơn như được tôn trọng, được tham gia vào đời sống xã hội, có tiếng nói và
quyền lực. Trường phái này khác cơ bản so với các trường phái trên ở chỗ nó
chú trọng đến việc tạo cơ hội để phát huy năng lực của người nghèo.
Năm 2000, NHTG thực hiện một nghiên cứu khác về đói nghèo trên phạm
vi toàn cầu “Báo cáo tình hình phát triển thế giới: tấn công đói nghèo” [63].
Trong đó, NHTG khẳng định bản chất của đói nghèo là đa chiều: Một là, sự khốn
cùng về vật chất, được đo lường theo thu nhập hoặc tiêu dùng hay nói cách khác
khía cạnh đầu tiên của đói nghèo là đói nghèo theo thu nhập; hai là, sự hưởng
thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế; ba là, nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi
ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu
nhập hoặc về sức khoẻ; cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực
của người nghèo.
Với phát hiện đói nghèo là đa chiều, các khía cạnh đó có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau nên NHTG đề xuất chiến lược tấn công đói nghèo với ba trụ cột
chính đó là tạo cơ hội, trao quyền và thiết lập mạng lưới an sinh xã hội (ASXH),
đồng thời, khuyến cáo các quốc gia 3 điểm: Một, cần có chính sách cụ thể để hỗ
trợ người nghèo có được các nguồn lực cần thiết như đất đai, vốn cho sản xuất
kinh doanh, tạo thu nhập để thoát đói nghèo về vật chất; hai, cần trợ giúp đặc
biệt từ chính phủ về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch cho người nghèo; ba, phát
triển mạng lưới ASXH để giúp người nghèo chống đỡ với những rủi ro, giảm
thiểu tổn thương và cần tạo cơ hội nhiều hơn để người nghèo tham gia hiệu quả
vào các hoạt động ở địa phương.
Như vậy, qua các khuyến cáo của NHTG có thể thấy để XĐGN, có nhiều
dịch vụ cần được cung ứng đến người nghèo, đặc biệt là dịch vụ tín dụng, dịch
vụ đào tạo nghề, tạo việc làm và các dịch vụ xã hội (DVXH) khác như giáo
dục,y tế, cung cấp nước sạch, nhà ở, dịch vụ bảo hiểm
11
dục, y tế và bảo hiểm xã hội) cho người nghèo, ý nghĩa của quỹ hỗ trợ cung cấp
các dịch vụ cơ bản. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất quy trình quản lý
và phát triển quỹ hỗ trợ dịch vụ cơ bản đối với người nghèo đô thị tại thành phố
Hyderabad (Ấn Độ).
1.1.2. Các nghiên cu v dch v c bn cho ngi nghèo và qun lý nhà
nc nhm phát trin các dch v c bn i vi ngi nghèo Vit Nam
Năm 1995, lần đầu tiên, một nghiên cứu về đói nghèo trên phạm vi cả
nước được NHTG thực hiện với tiêu đề “Đánh giá đói nghèo và chiến lược”
[67]. Điểm nổi bật của báo cáo này chính là tổng hợp được các quan niệm khác
nhau về đói nghèo và đặc điểm của người nghèo ở Việt Nam. Thông qua đánh
giá thực trạng đói nghèo của Việt Nam, nghiên cứu này đã chỉ ra các nguyên
nhân gây ra đói nghèo: “ do thiếu các nguồn lực sản xuất kinh doanh như vốn,
đất đai; do trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định; do bệnh tật và
sức khỏe kém; do sự cách biệt về địa lý như hệ thống đường giao thông chưa
phát triển” [67, tr.6-12]. Các phát hiện về nguyên nhân đói nghèo đã là cơ sở
quan trọng để các nhà hoạch định chính sách Việt Nam xây dựng chiến lược tấn
công đói nghèo. Báo cáo chỉ rõ, để XĐGN, nếu chỉ chú trọng vào các chính sách
tăng trưởng kinh tế thì chưa đủ, mà cần phải có các chính sách tác động trực tiếp
đến người nghèo như tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các nguồn lực sản xuất.
Trong Báo cáo “Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” [108] do UNDP thực
hiện năm 1995, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra các nguyên nhân gây ra đói nghèo ở
Việt Nam, đồng thời khẳng định: “Để giải quyết đói nghèo cần tăng khả năng
tiếp cận các nguồn lực cơ bản như đất đai, vốn ưu đãi cho người nghèo. Đặc biệt,
hỗ trợ về giáo dục và y tế để giải quyết được tình trạng trình độ học vấn thấp
cũng như sức khỏe yếu kém của người nghèo” [108, tr.34]. Cùng với các nghiên
cứu của NHTG, nghiên cứu của UNDP tập trung vào nhận diện người nghèo và
nguyên nhân đói nghèo của Việt Nam, làm cơ sở để cho Chính phủ ban hành
chương trình XĐGN với các nhóm giải pháp tập trung vào cải thiện thu nhập cho
người nghèo và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế.
13
tiếp tạo cơ hội cho người nghèo như chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo,
chính sách tạo việc làm cho người nghèo ” [121, tr.36-37]. Cũng trong nghiên
cứu này, tác giả đã khẳng định sự thành công của các chính sách hỗ trợ trực tiếp
cho người nghèo phụ thuộc rất nhiều vào tổ chức thực hiện các chính sách, đòi
hỏi các cấp chính quyền địa phương phải thực sự vào cuộc và coi đây là nhiệm
vụ chính trị quan trọng của mình.
Một số nghiên cứu gần đây như “Tiếp tục cải cách và đổi mới khu vực tổ
chức sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ giáo dục và y tế ở Việt Nam” [2] của
tác giả Nguyễn Thi Tuệ Anh (2010); các công trình nghiên cứu “Phát triển dạy
nghề, tạo việc làm và hòa nhập cộng đồng cho các đối tượng yếu thế giai đoạn
2006-2015” và “Hoàn thiện chế độ, cơ chế tài chính trợ cấp tại cộng đồng cho
đối tượng xã hội” của Bộ Lao động TBXH [9] thực hiện năm 2007.
Một nghiên cứu được UNDP thực hiện năm 2011 về “Dịch vụ xã hội phát
triển con người” [17] Các nhà nghiên cứu đã phân tích khoảng cách trong tiếp
cận các dịch vụ y tế và giáo dục ở cấp địa phương và giữa các nhóm KTXH.
Việc cung cấp các DVXH và các cơ chế tài chính và quản lý trong cung ứng
DVXH hiện nay đã ảnh hưởng như thế nào đến việc tiếp cận và chất lượng của
các dịch vụ y tế và giáo dục là một nội dung chính được các nhà nghiên cứu giải
quyết trong báo cáo này. Trong đó, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra rằng cơ chế
tài chính, cung cấp dịch vụ và quản lý các DVXH ở Việt Nam dường như đều
đang đóng góp làm sâu sắc hơn tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận các
DVXH. Công tác QLNN đối với các dịch vụ y tế và giáo dục cũng bị ảnh hưởng
đáng kể từ cơ chế phân cấp về tài chính và quản lý cho tổ chức cung cấp dịch vụ.
Nhóm nghiên cứu đã đề xuất các cơ chế, chính sách cụ thể và phương thức tổ
chức thực hiện các chính sách đó để giải quyết được vấn đề đói nghèo cho các
đối tượng khác nhau.
Một số nghiên cứu tập trung vào dịch vụ tín dụng cho người nghèo. Với
quan điểm cho rằng tín dụng có vai trò lớn trong công cuộc XĐGN ở Việt Nam,
tác giả Đào Văn Hùng với công trình “Các giải pháp tín dụng đối với người
15
vào tình trạng thất nghiệp. Hay có những trường hợp nghèo vì chưa biết cách
làm ăn hoặc chưa có vốn để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh khi không
còn sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, quá trình đô thị hóa cũng dẫn đến tình
trạng các hộ nghèo gặp khó khăn về nước sinh hoạt. Từ đó, tác giả đề xuất một
số giải pháp nhằm giải quyết việc làm, khắc phục hạn chế trong sử dụng vốn tín
dụng, cung cấp nước sạch, hỗ trợ về giáo dục, y tế cho các hộ nghèo. Hướng giải
quyết này có nhiều điểm đồng nhất với tác giả Bùi Thu Thủy, trong nghiên cứu
“Thực trạng XĐGN ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, kinh nghiệm và giải
pháp” [99] năm 2008. Tuy nhiên, mỗi giải pháp có khác biệt về cách thức thực hiện
do xuất phát từ đặc thù riêng của từng địa phương.
Để làm rõ tình trạng đói nghèo và tìm giải pháp thúc đẩy XĐGN, được sự
tài trợ của UNDP, năm 2010, UBND thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh tiến hành nghiên cứu “Đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh” [16]. Đây là một nghiên cứu về đói nghèo ở Hà Nội với việc sử dụng
hai cách tiếp cận là cách truyền thống sử dụng thu nhập và chuẩn nghèo thu nhập
làm công cụ và cách tiếp cận mới đánh giá nghèo đa chiều (bao gồm cả kinh tế
và các chiều xã hội). Kết quả nghiên cứu cho thấy ở khu vực đô thị hiện nay, đói
nghèo về kinh tế không còn là vấn đề bức xúc nữa mà mối quan tâm sẽ ngày
càng tăng lên đối với mức độ và tính bình đẳng trong tiếp cận các DVXH cơ
bản” như giáo dục, y tế, nhà ở, việc làm, hệ thống ASXH [16, tr.100]. Một khó
khăn lớn của người nghèo là vay vốn của Ngân hàng CSXH (chỉ có 1,5% hộ
nghèo vay được vốn của Ngân hàng này); phần lớn họ phải vay vốn phi chính
thức từ bạn bè, người thân (10,9%) [16, tr.145]. Ngoài ra, đặc điểm chung ở hai
thành phố này là “ba chiều đóng góp nhiều nhất cho chỉ số nghèo đa chiều là
thiếu hụt tiếp cận hệ thống ASXH, thiếu hụt tiếp cận dịch vụ nhà ở (điện, nước,
thoát nước, rác thải, ) và thiếu hụt về chất lượng và diện tích nhà ở” [16,
tr.116]. Kết quả nghiên cứu này cho thấy, nếu nhìn nhận một cách thực tế thì
“giảm nghèo dựa trên tiêu chí kinh tế (thu nhập, chi tiêu) tỏ ra không phù hợp” mà
“cách tiếp cận đa chiều có vẻ phù hợp hơn, theo đó đời sống của dân cư cần được
17
Văn Hoa (2007) chỉ ra sự bất cập trong đào tạo nghề: đào tạo không gắn với nhu
cầu thực tế, thiếu sự gắn kết, chia sẻ trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo và doanh
nghiệp; tình hình đào tạo ra không bố trí được việc làm, trong khi doanh nghiệp
lại thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực
Tác giả Nguyễn Tiệp (2005) trong cuốn “Nguồn nhân lực nông thôn ngoại
thành trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội” [102], chỉ rõ tình
trạng yếu kém của nguồn nhân lực, nhất là về chất lượng. Tác giả đề xuất các
phương án đào tạo nghề cho những địa bàn ngoại thành phù hợp với hoàn cảnh,
yêu cầu và khả năng của các địa phương.
Về vấn đề nhà ở cho những người có thu nhập thấp, công trình nghiên cứu
“Thực trạng và giải pháp giải quyết nhà ở cho người thu nhập thấp ở Hà Nội”
[69] do tác giả Hoàng Xuân Nghĩa (2007) làm chủ nhiệm chỉ ra bức tranh nhà ở
ngày càng nan giải và bức xúc đối với người nghèo trên địa bàn Hà Nội. Tác giả
chỉ ra rằng để giải quyết căn cơ, bền vững nhà ở cho người thu nhập thấp trên địa
bàn, cần nắm vững xu hướng đô thị hoá và quy luật thị trường, đồng thời vận
dụng tốt các cơ chế, chính sách ưu đãi và hỗ trợ tích cực của Nhà nước, thực
hiện Chương trình bao cấp nhà ở có mục tiêu cho người thu nhập thấp. Ngoài
ra, cần có giải pháp và mô hình nhà ở khả thi trong thực tế.
Ngoài ra, còn có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu khác đề
cập đến các vấn đề như: dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, nước sạch, vệ sinh môi
trường, trên địa bàn Hà Nội cũng được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên
cứu trong thời gian qua.
1.3. ÁNH GIÁ CHUNG V CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CU LIÊN
QUAN N TÀI LUN ÁN
1.3.1. Các kt qu t c t các nghiên cu liên quan n tài
lun án
Từ các công trình nghiên cứu đã phân tích ở trên, có thể rút ra một số kết
quả, kết luận khoa học có thể kế thừa khi nghiên cứu đề tài luận án:
18