BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC THỦY SẢN
Phương pháp Nghiên cứu Khoa học
trong Nuôi trồng Thủy sản TS. HOÀNG TÙNG
BỘ MÔN KỸ THUẬT NUÔI HẢI SẢN
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
tôm Sú, cá da trơn (Basa, cá Tra), tôm Hùm bông, cá Mú … ñã ñưa Việt Nam trở thành một trong
10 quốc gia hàng ñầu trên thế giới về nuôi trồng thủy sản. Hiện nay, công tác ña dạng hoá ñối tượng
nuôi, qui hoạch và mở rộng vùng sản xuất ñang ñược tiến hành ở nhiều ñịa phương. Khả năng phát
triển nghề nuôi ñang ñược xem xét, thăm dò cho khá nhiều ñối tượng, có thể kể ra ñây như cua Bùn,
tôm Mũ Ni, ốc Hương, Tu hài, Sò Huyết, cá Giò, Hồng bạc, cá Dìa nâu, cá Hồng Mỹ, cá Thát lát, cá
Rô ñồng, cá Rô phi, cá Lăng, cá Niên …
Sự ña dạng của ñối tượng nuôi cộng với sự khác biệt về ñiều kiện tự nhiên giữa các vùng vì
thế ñòi hỏi người làm nuôi trồng thủy sản phải hiểu biết tường tận về ñặc ñiểm sinh học của ñối
tượng nuôi, các ñặc ñiểm của môi trường ñể có thể lựa chọn ñối tượng, xác ñịnh mùa vụ và xây
dựng qui trình kỹ thuật nuôi phù hợp. Những thông tin này chỉ có ñược thông qua hoạt ñộng tìm
hiểu tự nhiên, nghiên cứu khoa học và kế thừa các thành tựu khoa học chung của thế giới. Trong
những năm vừa qua, có thể thấy sự gia tăng sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam là kết quả
chủ yếu của việc mở rộng diện tích nuôi. Việc nghiên cứu ứng dụng hoặc xây dựng công nghệ nuôi
trồng thủy sản, tuy ñã có nhiều kết quả ñáng khích lệ, còn rất hạn chế ở qui mô. Tính cạnh tranh
trong sử dụng tài nguyên ñất, nước và các loại sản phẩm khác ngày càng cao với các ngành sản xuất
khác là áp lực mạnh mẽ ñòi hỏi nghề nuôi trồng thủy sản Việt Nam cần có những cải thiện về khoa
học công nghệ ñể gia tăng sản lượng trên một ñơn vị diện tích và hạn chế ñến mức tối ña các ảnh
hưởng xấu có thể lên môi trường. Yêu cầu nghiên cứu phát triển công nghệ nuôi trồng thủy sản vì
thế là rất cần thiết.
Tài liệu này ñược biên soạn nhằm phục vụ công tác ñào tạo Cao học chuyên ngành Nuôi trồng
thủy sản tại Trường ðại học Thủy sản. Qua 6 chương, các nội dung chính ñược giới thiệu bao gồm:
•
Nghiên cứu khoa học trong NTTS: giới thiệu các khái niệm cơ bản về khoa học, nghiên
cứu khoa học và phương pháp nghiên cứu khoa học; các yêu cầu và ñặc thù của nghiên
cứu khoa học trong lĩnh vực NTTS.
•
Phương pháp luận và tiến trình nghiên cứu: phân tích tiến trình thực hiện một nghiên
cứu khoa học nhấn mạnh ñến tầm quan trọng của việc xây dựng các giả thuyết nghiên
cứu và mô hình lý thuyết.
Trang
Chương 1: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
1.1 Yêu cầu phát triển NTTS và vai trò của nghiên cứu khoa học
1.2 Khái niệm về nghiên cứu khoa học
1.2.1 Khoa học
1.2.2 Nghiên cứu khoa học
1.2.3 Các yêu cầu của nghiên cứu khoa học
1.2.4 Phương pháp nghiên cứu khoa học
1.3 Nghiên cứu khoa học trong nuôi trồng thủy sản
1.3.1 Lĩnh vực nghiên cứu
1.3.2 ðặc thù của nghiên cứu khoa học trong NTTS
1
1
4
4
5
6
7
9
9
12
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận – khung logic
2.2 Các công ñoạn của tiến trình nghiên cứu
2.2.1 Quan sát
2.2.2 Xây dựng mô hình lý thuyết
2.2.3 Phán ñoán, giả thuyết
34
34
35
35
36
3.3.7 Hiệu lực thống kê
3.4 Phân tích thống kê thường dùng trong nghiên cứu NTTS
3.4.1 Các bài toán nghiên cứu trong NTTS
3.4.2 Các thông số thống kê mô tả và ý nghĩa của chúng
3.4.3 Phân tích tần suất
3.4.4 So sánh trung bình mẫu bằng kiểm ñịnh tham số
3.4.5 Phân tích phương sai
3.4.6 Phân tích tương quan
3.4.7 Phân tích hồi qui
3.5 Một số lưu ý khi xử lý số liệu
3.5.1 Kiểm tra số liệu
3.5.2 Chuyển dạng số liệu
3.5.3 Giả thuyết ñằng sau phép ño ñạc hoặc so sánh
3.5.4 Tính hợp lệ của kết luận
36
37
37
37
42
46
47
50
51
53
66
66
68
68
69
70
72
73
Chương 5: LẬP ðỀ CƯƠNG VÀ CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1 Các loại ñề cương và yêu cầu về nội dung
5.2 Nội dung của một báo cáo khoa học
77
77
78
5.2.1 Mở ñầu
5.2.2 Tổng luận
5.2.3 Phương pháp nghiên cứu
5.2.4 Kết quả nghiên cứu và Thảo luận
5.2.5 Kết luận và ñề xuất ý kiến
5.2.6 Tài liệu tham khảo
5.2.7 Phụ lục
5.2.8 Tóm tắt
5.3 Các nguyên tắc cần tuân thủ khi viết báo cáo
5.4 Phản biện một báo cáo khoa học
79
79
80
80
1.1 YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC – PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
Nhân loại ñã có những bước tiến lớn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mình. Cuộc
cách mạng xanh trong nông nghiệp là một bước ñột phá quan trọng, chứng minh sức mạnh của khoa
học, công nghệ trong việc thoả mãn nhu cầu ngày càng gia tăng của con người về lương thực, thực
phẩm. Việc kết hợp cơ khí hoá với sử dụng các dòng vật nuôi hoặc cây trồng ñược chọn giống di
truyền, phân hoá học và thuốc trừ sâu, phát triển hệ thống kênh mương thủy lợi và sản xuất thức ăn
công nghiệp cho gia cầm, gia súc qua cuộc cách mạng xanh trong những năm của thập kỷ 1970 ñã
giúp cho sản lượng lương thực, thực phẩm từ nông nghiệp tăng ñáng kể. Tuy nhiên, việc sản xuất
thêm lương thực thực phẩm không dừng lại ở ñây. Dân số thế giới phải mất rất nhiều nghìn năm
mới ñạt ñến con số 300 triệu sau công nguyên. Vậy mà chỉ trong có 2000 năm, ñã tăng lên ñến 20
lần - khoảng hơn 6 tỉ người. Theo dự ñoán của Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới sẽ là 9 tỉ vào năm
2050 và sản lượng lương thực, thực phẩm phải tăng gấp 3 lần mới ñủ ñảm bảo nhu cầu – vì hiện nay
niều nơi trên thế giới vẫn còn ñang thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng.
Hình 1.1. Tổng sản lượng thủy sản thế giới từ năm 1998 ñến 2003 (FAO 2004)
Sản phẩm thủy sản là nguồn protein quan trọng cho con người. Lượng thủy sản khai thác từ tự
nhiên trong vài thập kỷ gần ñây ñã có dấu hiệu ñạt ñến mức giới hạn (Hình 1.1). Năm 2003, tổng
1
Trung Quốc 24.580,0
27.767,3
6,3
2
Ấn ðộ 1.942,0
2.191,7
6,2
3
In-ñô-nê-xia 788,5
914,1
7,7
4
Nhật Bản 762,8
828,4
545,7
18,0
9
Việt Nam 510,6
518,5
0,8
10
Mỹ 456,0
497,3
4,4Các nước khác 4.177,5
4.550,2
4,4Tổng sản lượng 35.496,3
mạng xanh trong nông nghiệp lên môi trường và cân bằng sinh thái là bài học và kinh nghiệm cho
NTTS.
Trong thời gian tới, các hướng cần tập trung nghiên cứu phát triển trong NTTS bao gồm:
• Chủ ñộng trong sản xuất giống: sản lượng khai thác thủy sản có xu hướng chựng lại hoặc
giảm ở một số nơi trong thời gian gần ñây (Hình 1.1). Vì thế, nếu NTTS không chủ ñộng sản
xuất ñược con giống nhân tạo mà thu gom con giống từ tự nhiên (nhiều loài cá biển, tôm
Hùm, nhuyễn thể, …) có thể sẽ làm tình hình trở nên xấu hơn. Chủ ñộng sản xuất giống
ñồng nghĩa với ñẩy mạnh công tác gia hoá các ñối tượng nuôi. ðiều này cho phép kiểm soát
tốt hơn bệnh dịch và tạo ñiều kiện cho công tác di truyền chọn giống.
• Tìm kiếm các ñối tượng nuôi mới: NTTS so với nông nghiệp vẫn còn ñang trong thời kỳ
sơ khai. Vì thế cần phải tiếp tục tìm kiếm các ñối tượng nuôi có thể thoả mãn ñược yêu cầu
của nhân loại không chỉ ñơn thuần về thực phẩm mà còn ñể cung cấp dược liệu (ví dụ như
Sam và Bọt biển) hoặc nguyên liệu sản xuất (alginate, carageenan tách chiết từ rong biển).
Việc lựa chọn ñối tượng nuôi không nên chỉ ñơn thuần dựa vào giá trị kinh tế vì mục tiêu
của NTTS là cung cấp thêm thực phẩm cho con người. Các ñối tượng ñược tuyển chọn ñể
phát triển nuôi trồng trên diện rộng phải dễ sản xuất giống nhân tạo, ở bậc dinh dưỡng thấp
(ăn thực vật, ăn tạp) hoặc có nhu cầu ñạm ñộng vật thấp, tốc ñộ tăng trưởng nhanh, nuôi
ñược với mật ñộ cao. Các hạn chế về thị trường có thể ñược giải quyết với các chương trình
tiếp thị lớn.
• Ứng dụng di truyền chọn giống vào NTTS: ñể tạo ra giống mới có tốc ñộ tăng trưởng tốt,
khả năng thích ứng với ñiều kiện môi trường và kháng bệnh cao. Hiện tại mới chỉ có cá
Chép, cá Hồi và gần ñây là tôm He Chân trắng, cá Rô phi ñược chọn giống. Một ví dụ ñiển
hình cho hiệu quả của chọn giống là gà công nghiệp. Năm 1957, một con gà nuôi 45 ngày
chỉ cân nặng có 0,5 kg và tiêu thụ hết 3,0 kg thức ăn. Năm 1991, gà ñược chọn giống ñạt
1,78 kg sau 45 ngày nuôi và chỉ tiêu thụ có 2,3 kg thức ăn (Havenstein et al. 1994).
• Sản xuất thức ăn công nghiệp: hiểu biết về nhu cầu dinh dưỡng của các ñối tượng nuôi còn
rất hạn chế. Các công thức phối chế thức ăn chủ yếu ñược xây dựng dựa trên hiểu biết về
một vài ñối tượng nhưng lại ñược sử dụng cho rất nhiều ñối tượng khác nhau trong cùng
nhóm (Lucas & Southgate 2004). Các tiến bộ vượt bậc gần ñây trong lĩnh vực nghiên cứu và
tạo thiên nhiên ñể phục vụ cuộc sống của con người sẽ vô cùng hạn chế. Chẳng hạn cho ñến khi các
tiến bộ khoa học cho phép phát hiện các túi dầu mỏ nằm sâu trong lòng ñất thì loại vật chất này
chưa thể ñược coi là tài nguyên. Thế nhưng việc phát hiện các túi dầu không thôi cũng chưa ñủ ñể
con người có thể sử dụng nó. Người ta phải nghiên cứu, tìm hiểu và thử nghiệm các cách thức khai
thác (khoan, hút dầu thô ñưa lên mặt ñất) và chế biến dầu thô thành các sản phẩm hữu dụng như
xăng, dầu, các chất tổng hợp … (Miller 2004).
Như thế, khoa học về NTTS chính là những hiểu biết của con người về ñối tượng nuôi, môi
trường nuôi và các thành phần liên quan. Hiểu biết của con người về thủy sinh vật và môi trường
sống của chúng càng cao, khả năng khai thác các sinh vật làm thực phẩm, dược liệu, nguyên vật liệu
phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của nhân loại sẽ càng lớn. Lấy nghề nuôi tôm biển làm ví dụ. Ban
ñầu tôm ñược nuôi giữ trong các ñầm ven biển, ở vùng cửa sông với năng suất thấp, chỉ ñạt vài trăm
kg/ha/năm (Jory & Cabrera 2003). Tôm giống là tôm tự nhiên ñược thu theo con nước thủy triều và
người nuôi hầu như không cho tôm ăn. Qua nghiên cứu, người ta ngày càng hiểu thêm về ñặc ñiểm
sinh học sinh sản, nhu cầu dinh dưỡng và yêu cầu về môi trường sống của tôm. Các hiểu biết này
dẫn ñến sự hình thành công nghệ sản xuất con giống nhân tạo, sự ra ñời của thức ăn công nghiệp và
các công trình nuôi hiện ñại với các thiết bị có khả năng duy trì ñiều kiện môi trường ở mức thích
hợp cho tôm nuôi. Năng suất tôm nuôi thâm canh ñã ñạt hơn 10 tấn/ha/vụ (Lucas & Southgate
2003).
ðược coi là hệ thống tri thức chung của nhân loại, thông tin khoa học tồn tại dưới nhiều dạng
khác nhau: từ các ghi chép ñơn giản, mô tả sự vật hiện tượng ñến các nguyên lý rút ra trên cơ sở các
sự kiện ñã ñược thực nghiệm, ñến các qui luật, học thuyết ñược khái quát hoá bằng tư duy lý luận.
Các phương pháp nhận thức khoa học và qui trình sản xuất cũng là các thông tin khoa học. Phân
loại khoa học mang tính linh ñộng cao. Khoa học càng phát triển, nghiên cứu càng sâu thì nhất thiết
phải chia thành nhiều ngành nhỏ, gọi là qui luật phân hoá. Ngược lại, ñể giải quyết những vấn ñề
lớn, các chuyên ngành nhỏ ñược tập hợp lại ñể hình thành cách khoa học liên ngành, gọi là qui luật
tích hợp. Lịch sử khoa học cho thấy trước ñây, chỉ có một ngành khoa học duy nhất là triết học. Do
có khả năng giải thích các hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên và xã hội, Triết học ñã ñược coi là
khoa học của mọi khoa học. Nhưng ñến nay, khoa học ñã phân hoá thành rất nhiều ngành, lĩnh vực
khác nhau phục vụ yêu cầu tìm hiểu và phát triển của con người. Chỉ riêng về sinh học thôi ta cũng
có thể kể ra nhiều ngành khoa học như ñộng vật học, thực vật học, vi sinh vật học, sinh lý, sinh hoá,
cơ bản, nếu chỉ ñể hiểu biết về thiên nhiên, ñược gọi là NCKH cơ bản thuần tuý. Ngược lại,
nếu người nghiên cứu ñã có dự kiến về khả năng ứng dụng của thông tin tìm ñược thì nghiên
cứu của họ ñược gọi là NCKH cơ bản có ñịnh hướng. Chẳng hạn trong hiện nay người ta
ñang tập trung nghiên cứu rất nhiều về hiện tượng dị hình ở cá con trong sản xuất giống
thông qua các nghiên cứu mô tả, phân loại các dạng dị hình và xác ñịnh nguyên nhân, cơ
chế gây dị hình (Hendry et al. 2005). Nếu người làm nghiên cứu không hề biết ñây là một
trong những khó khăn của công ñoạn sản xuất giống trong NTTS hoặc ñối tượng nghiên cứu
là một loài không có giá trị kinh tế, nghiên cứu này có thể coi là NCKH cơ bản thuần tuý.
Nếu ñối tượng nghiên cứu là thuộc trên các ñối tượng có giá trị kinh tế thì ñây là nghiên
cứu cơ bản có ñịnh hướng. Các hiểu biết thu ñược sẽ ñược sử dụng ñể tạo ra các biện pháp
kỹ thuật nhằm giảm thiểu hoặc loại trừ hiện tượng này. Một trong những dạng dị hình là cá
bị vặn lưng với nguyên nhân có thể là do thiếu hụt dinh dưỡng (Kowalska et al. 2005) hoặc
ñiều kiện môi trường ương nuôi không thích hợp, e.g. nhiệt ñộ cao hoặc dòng chảy trong bể
ương lớn (Stickland et al. 2005; Nagano et al. 2005).
• NCKH ứng dụng: ứng dụng kết quả của NCKH cơ bản vào thực tiễn sản xuất hoặc ñời
sống xã hội. Sản phẩm của NCKH ứng dụng là các giải pháp kỹ thuật, công nghệ hoặc quản
lý. NCKH ứng dụng ít tốn kém và mang lại hiệu quả nhanh nếu thực hiện tốt. Chính vì thế
thích hợp với các nước ñang phát triển. Kết quả của các nghiên cứu về khu hệ vi sinh vật
trong bể ương nuôi ấu trùng tôm có thể ñược ứng dụng ñể chế tạo probiotics nhằm ổn ñịnh
môi trường ương, ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh. Nghiên cứu về nguyên
nhân của hiện tượng ăn thịt lẫn nhau ở các loài cá dữ ñược ứng dụng vào sản xuất bằng biện
pháp kỹ thuật ñịnh kỳ phân cỡ cá, hoặc nuôi với mật ñộ rất dày.
• NCKH triển khai: NCKH ứng dụng thường bị hạn chế về qui mô. Thử nghiệm dù rất thành
công có thể chỉ ñược triển khai ở qui mô thí nghiệm hay mới chỉ ở một ñịa ñiểm. Khi muốn
áp dụng vào sản xuất ñại trà hoặc tiến hành ở một ñịa phương khác, trong ñiều kiện khác
6
phải thông qua NCKH triển khai. Loại hình nghiên cứu này thường gắn liền với hoạt ñộng
chuyển giao, ñiều chỉnh công nghệ.
cứu phù hợp, thu thập số liệu và phân tích kết quả một cách khác quan. Tính tin cậy thể hiện
qua khả năng lặp lại của nghiên cứu. Có nghĩa là, người khác phải có khả năng thực hiện lại
ñược nghiên cứu và thu ñược kết quả tương tự nếu ñảm bảo ñúng các ñiều kiện nghiên cứu
ñã mô tả trong báo cáo ñề tài của bạn.
• Tính khách quan: mọi nhận xét, kết luận phải tuân thủ kết quả nghiên cứu và dựa trên các
lập luận khoa học. Kết quả nghiên cứu của mình nếu mẫu thuẫn với các tác giả khác cần
phải ñược giải thích, làm rõ nguyên nhân. Tuyệt ñối tránh những nhận ñịnh cảm tính hoặc
mâu thuẫn với kết quả của kiểm ñịnh thống kê ñã lựa chọn (trước khi thu số liệu) và thực
hiện. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, người nghiên cứu không nên ñể những nhận
ñịnh chủ quan của mình ảnh hưởng ñến việc thu thập và xử lý số liệu. Chẳng hạn như trước
khi tiến hành so sánh 3 loại thức ăn ñể nuôi cá ñã ñịnh trước loại thức ăn do cơ quan mình
phối chế phải là loại ñạt ñược hiệu quả cao nhất.
7
• Tính thông tin: thông tin thu ñược từ NCKH có thể chỉ có giá trị nhất thời. Người làm
nghiên cứu vì thế phải thường xuyên cập nhật thông tin trong lĩnh vực của mình ñể tránh lặp
lại một cách không cần thiết các nghiên cứu ñã ñược thực hiện và có ñầy ñủ thông tin hơn
về ñối tượng nghiên cứu, giúp cho việc xây dựng kế hoạch nghiên cứu và thảo luận kết quả
chính xác hơn. Mặt khác, thông tin thu ñược từ nghiên cứu phải ñược công bố càng sớm
càng tốt. Dung lượng thông tin trong các báo cáo khoa học phải cao và ñầy ñủ về ñề tài ñã
thực hiện ñể người ñọc có thể hiểu và ñánh giá chất lượng của nghiên cứu một cách dễ
dàng.
• Tính rủi ro: NCKH có thể thất bại. Trong thực tế NCKH số lượng các ñề tài nghiên cứu
thất bại lớn hơn rất nhiều so với số lượng các ñề tài nghiên cứu thành công. Mọi thất bại
trong NCKH ñều có giá trị nếu người làm nghiên cứu giải thích hoặc chí ít cũng phán ñoán
ñược nguyên nhân dẫn ñến thất bại hay lý do dẫn ñến phán ñoán sai của mình.
• Tính cá nhân: tư duy sáng tạo và vai trò dẫn dắt của một hoặc vài cá nhân trong các ñề tài,
chương trình nghiên cứu khoa học lớn rất quan trọng. Trong NCKH mọi ý kiến, phương án
hay của một cá nhân, bất luận vị trí công tác hay trình ñộ ñều ñược trân trọng. ðóng góp của
8
kiện tự nhiên. Vì thế lựa chọn thời ñiểm và ñịa ñiểm quan sát mang tính quyết ñịnh. Người nghiên
cứu cũng có thể thiết lập sự kiện ñể tiến hành quan sát. Vấn ñề là ở chỗ, ñiều kiện do người nghiên
cứu tự thiết lập có gần với ñiều kiện tự nhiên hay không? Quan sát là tiền ñề rất quan trọng cho các
nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo. Thực nghiệm hay thí nghiệm nhằm kiểm chứng các giả thuyết,
nghi vấn hình thành từ những quan sát ban ñầu. Nó ñi sâu tìm hiểu về nguyên nhân, cơ chế và mức
ñộ ảnh hưởng của của các hiện tượng tự nhiên. Thực nghiệm cho phép tách vấn ñề/hiện tượng
nghiên cứu thành các vấn ñề nhỏ, thay ñổi ñiều kiện nghiên cứu theo chủ ý của người làm nghiên
cứu và lặp lại ñược nhiều lần. Tuỳ thuộc vào vấn ñề nghiên cứu ñặt ra mà người nghiên cứu thiết
lập ñiều kiện phục vụ cho nghiên cứu của mình với sự hỗ trợ của thiết bị. Giá trị của thực nghiệm,
tuy nhiên, phụ thuộc rất nhiều vào mức ñộ tương ñồng giữa ñiều kiện thực nghiệm và ñiều kiện tự
nhiên. ða số các thí nghiệm ñều ñược thực hiện ở qui mô nhỏ và có ít yếu tố ñộng hơn là trong tự
nhiên.
Khi tiến hành tìm hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng công việc của một người làm nghiên cứu
khoa học là “phát hiện sự khác biệt giữa nhiều hiện tượng tương tự nhau và tìm ra những ñiểm
chung của nhiều sự kiện, hiện tượng khác nhau”. ðể làm ñược công việc này, người làm nghiên cứu
khoa học phải có khả năng phân tích, lập luận tốt. Diễn dịch và qui nạp là hai phép suy luận khoa
học ñược sử dụng. Suy luận diễn dịch là suy luận từ cái chung, cái ñã biết – ñã khẳng ñịnh ñến cái
riêng, phân tích cho những trường hợp cụ thể. Qui nạp lại ñi từ nhiều cái riêng khác nhau ñể lập
luận, ñi ñến những kết luận, nguyên lý chung. Trong nghiên cứu khoa học, hai phép suy luận này
ñược sử dụng nhuần nhuyễn và hỗ trợ cho nhau.
Bacon & Mill là những người ñi ñầu trong việc phát triển phương pháp nghiên cứu khoa học và
dựa hoàn toàn vào phép qui nạp - induction (Gower 2005). Theo phép này, người làm nghiên cứu
có thể kết luận giả thuyết hoặc học thuyết của mình ñưa ra là ñúng khi thu thập ñủ các bằng chứng
và không bị bất cứ quan sát nào phản bác giả thuyết của mình. Hạn chế rõ ràng nhất của cách tiếp
cận này là ở chỗ người ta không thể nào thu thập ñủ các quan sát, bằng chứng ủng hộ cho giả
thuyết/học thuyết của mình cả. Nghiên cứu khoa học hiện ñại sử dụng một phương pháp khác:
phương pháp diễn dịch (deduction). Tức là xây dựng các dự ñoán hoặc giải thích dựa trên cơ sở
SPSS chính là công cụ ñắc lực giúp cho người làm nghiên cứu khoa học thực hiện phương pháp do
mình lựa chọn.
Với từng ñề tài cụ thể, phương pháp nghiên cứu ñược qui ñịnh bởi mục tiêu và nội dung nghiên
cứu. Các phương pháp ñược lựa chọn phải chuẩn, khách quan, có ñộ chính xác cao và lặp lại ñược
và sẽ ñược bàn luận thêm trong Chương 3.
1.3 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
1.3.1 Lĩnh vực nghiên cứu
Nghiên cứu khoa học trong nuôi trồng thuỷ sản có thể ñược chia làm 4 mảng chính, bao gồm
các nghiên cứu về: ñối tượng nuôi, môi trường nuôi và khả năng ñiều khiển tương tác giữa môi
trường và ñối tượng nuôi (hay là các biện pháp kỹ thuật).
a. Nghiên cứu về ñối tượng nuôi
Là nghiên cứu cơ bản có ñịnh hướng, có thể ñược thực hiện trên các ñối tượng ñang ñược nuôi
phổ biến (ví dụ như cá Rô phi, cá Chép, tôm Sú, cá Ba sa) hoặc các ñối tượng tiềm năng (cá Bớp,
tôm Hùm, cá Nhiên). Các nghiên cứu thuộc dạng này tập trung tìm hiểu các ñặc ñiểm sinh học và
sinh thái học của ñối tượng, với ñịa chỉ ứng dụng ñã ñược xác ñịnh sẵn bởi người làm nghiên cứu.
Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học có thể tập trung vào ñặc ñiểm dinh dưỡng (ñể ñảm bảo dinh
dưỡng ñầy ñủ cho ñối tượng nuôi ở các giai ñoạn khác nhau), ñặc ñiểm sinh trưởng (ñể biết giai
ñoạn nào thích hợp nhất cho NTTS) hay sinh sản (làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật ñể sinh sản
nhân tạo con giống) hoặc tập tính sống (nhằm thiết kế công trình nuôi, xây dựng các biện pháp kỹ
thuật phù hợp với ñối tượng). Nghiên cứu về sinh thái học quan tâm ñến tương tác giữa sinh vật và
môi trường, thường tập trung vào việc xác ñịnh các giới hạn sinh thái và tương tác giữa sinh vật với
sinh vật (quan hệ vật dữ con mồi, vật chủ và tác nhân gây bệnh). Dựa trên các hiểu biết này, người
nghiên cứu khuyến nghị người nuôi và những người nghiên cứu khác tìm cách duy trì các yếu tố
môi trường trong khoảng thích hợp và có biện pháp can thiệp khi ñiều kiện môi trường diễn biến
theo chiều bất lợi cho ñối tượng nuôi.
Ta có thể thấy với bất kỳ một ñối tượng nuôi nào, khối lượng công việc phải thực hiện là rất
lớn. Các nghiên cứu về một ñối tượng vì thế phải ñược hoạch ñịnh và phân bổ trước (cho từng thời
kỳ, từng nhóm nghiên cứu, từng cá nhân) ñể ñảm bảo nghiên cứu này hỗ trợ, bổ sung cho nghiên
cứu kia mới có thể ñem lại hiệu quả cao. Nghiên cứu thiếu ñịnh hướng thường dẫn ñến hiện tượng
tính và dự báo tác ñộng môi trường của các hoạt ñộng kinh tế trong khu vực nghiên cứu.
Môi trường tự nhiên luôn luôn biến ñộng. Vì thế mà các nghiên cứu về môi trường phải ñược
tiến hành liên tục. Khi tiến hành các nghiên cứu về môi trường, người làm nghiên cứu trước khi
triển khai hoạt ñộng phải dành nhiều thời gian ñể quan sát, tìm hiểu về vùng nghiên cứu và thiết kế
thu mẫu thật cẩn thận (ñiểm thu, kích thước mẫu, tần suất thu – xem chương 4). Vội vàng triển khai
nghiên cứu, thiếu ñầu tư về thiết kế thu mẫu có thể làm giảm ñáng kể giá trị thông tin của cả một
chương trình nghiên cứu lớn, chưa nói ñến khả năng lãng phí công sức, tiền của trong một số trường
hợp. ðịa chỉ ứng dụng của các thông tin dự kiến sẽ thu thập, ñiều tra hay quan trắc phải ñược xác
ñịnh trước khi tiến hành nghiên cứu chứ không phải sau khi ñã thực hiện xong nghiên cứu.
Người làm nghiên cứu về NTTS phải tìm cách thu thập và sử dụng các nguồn thông tin có sẵn
từ quan trắc thường xuyên về khí tượng thủy văn, kết hợp với thông tin có ñược từ các nghiên cứu
về ñịa chất và ña dạng sinh học ñể giảm bớt khối lượng công việc ñiều tra của mình và có thể thảo
luận, kết luận về ñề tài của mình dựa trên hiểu biết tổng thể về khu vực nghiên cứu.
c. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp kỹ thuật nuôi
Thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng. Nó sử dụng các thông tin, hiểu biết thu ñược từ hai mảng
nghiên cứu trên nhằm thiết lập ñiều kiện phù hợp nhất (trong giới hạn hiểu biết và trình ñộ công
nghệ ñương thời). Việc lựa chọn các ñối tượng nuôi cho từng khu vực hoặc mùa vụ dựa trên các
hiểu biết về môi trường và ñặc ñiểm sinh học của ñối tượng chỉ mang tính tương ñối và ñược qui
ñịnh bởi các yếu tố mà khả năng can thiệp của con người lên chúng là rất hạn chế ở qui mô nuôi
thương phẩm (ví dụ như chế ñộ nhiệt, ñộ mặn, chế ñộ chiếu sáng). Ngay cả với những ñối tượng
phân bố tự nhiên trong vùng, khi ñưa chúng vào nuôi trong ao, bể, ñăng hay lồng ñều tạo ra những
thay ñổi về ñiều kiện sống mà không phải ñiều kiện nào, ở mức ñộ nào sinh vật cũng thích ứng
ñược. Vì thế người làm nghiên cứu phải tìm cách xây dựng các biện pháp kỹ thuật phù hợp, có thể
là về công trình nuôi, chế ñộ cho ăn, chăm sóc, quản lý, v.v. Chẳng hạn như cá Bớp có tập tính bơi
lội khỏe và liên tục vì thế lồng hay bể nuôi phải lớn và có dạng tròn. Bể ương nuôi ấu trùng tôm,
cua phải sơn màu tối ở mặt trong vì chúng hướng quang mạnh, có thể bị tổn thương khi va ñập vào
thành bể hoặc dồn tụ gần thành bể. Bào ngư, tôm Hùm, tôm Mũ ni ñều hoạt ñộng về ñêm vì thế
lượng cho ăn phải nhiều vào ban ñêm hoặc công trình nuôi phải ñược che chắn ñể giảm ñộ dài ngày,
11
Hồi, cá Thờn bơn. Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực này tập trung vào việc xác ñịnh nhu
cầu dinh dưỡng của ñối tượng ở các giai ñoạn phát triển khác nhau; tìm hiểu khả năng
tiêu hoá, hấp thụ và phân bổ năng lượng cho các hoạt ñộng sống của ñối tượng nuôi;
phối chế thức ăn; giàu hoá thức ăn; thiết lập khẩu phần ăn và chế ñộ cho ăn phù hợp cho
từng giai ñoạn một, nghiên cứu ñiều chỉnh chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm thông
qua loại thức ăn sử dụng và chế ñộ cho ăn.
(v) Bệnh thủy sản và quản lý sức khoẻ vật nuôi thủy sản: bệnh dịch xuất hiện trong tất cả
các hình thức NTTS và thường gây thiệt hại lớn về sản lượng (ví dụ như các bệnh do
virus gây ra trên tôm hoặc cá) hoặc giảm giá trị của sản phẩm nuôi (ví dụ như ký sinh
trùng hoặc vi khuẩn làm tổn thương da). Nghiên cứu phòng và trị bệnh là một phần
không thể thiếu ñược với bất cứ ñối tượng nuôi nào. Trọng tâm nghiên cứu có thể là ñặc
ñiểm dịch tễ của bệnh (mùa vụ xuất hiện, con ñường lây truyền, các yếu tố liên quan ñến
sự bùng phát của dịch bệnh, v.v.), xác ñịnh tác nhân gây bệnh, triệu chứng bệnh lý,
nghiên cứu chế tạo vaccine và hoá dược ñể phòng trị bệnh, nghiên cứu chế tạo probiotics
(hệ vi sinh vật có lợi) có khả năng ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh, nghiên
cứu các biện pháp tổng hợp nhằm nâng cao sức khoẻ của vật nuôi thủy sản, kết hợp với
chọn giống nghiên cứu tạo dòng sạch bệnh – kháng bệnh.
12
(vi) Quản lý môi trường trong NTTS: bao gồm cả môi trường trong hệ thống nuôi và môi
trường chung. Nghiên cứu thuộc lĩnh vực này tập trung vào việc cải thiện chất lượng
nước của môi trường nuôi thông qua việc thiết kế và cải tiến hệ thống; nghiên cứu các
biện pháp xử lý nước, tái sử dụng nước, xử lý chất thải của NTTS; nghiên cứu nuôi
trồng kết hợp các ñối tượng ñể tận dụng tài nguyên và tăng sức tải sinh thái của môi
trường; nghiên cứu kết hợp NTTS với các hệ thống canh tác hoặc hoạt ñộng kinh tế
khác; ñánh giá tác ñộng môi trường; tính toán sức tải sinh thái của môi trường; mô hình
hoá và dự báo các biến ñộng môi trường, v.v.
(vii) ðiều tra hiện trạng kỹ thuật: nhằm tổng kết một mô hình nuôi hoặc hiện trạng kỹ thuật
của một nghề nuôi tại một ñịa ñiểm xác ñịnh. ðiều tra hiện trạng kỹ thuật có thể tập
bản dù là có ñịnh hướng. Ở những nơi mà công tác quản lý khoa học ñể phát triển NTTS không dựa
trên một chiến lược lâu dài với lộ trình chi tiết, các nghiên cứu dạng này thường không ñược ủng
hộ. Vì thế, nghiên cứu khoa học sẽ ñược thực hiện nhiều theo kiểu “thử và sai” (trial and error) mà
thiếu hụt các nghiên cứu mang tính nền tảng, khó có thể tạo ñược ñột phá về công nghệ và thường
xuyên bị ñộng khi ñiều kiện sản xuất thay ñổi. Thứ hai, sự biến ñộng liên tục của thị trường có thể
dễ dàng làm mất ñịnh hướng của người làm nghiên cứu. Việc chuyển ñổi nhanh chóng ñối tượng
13
nuôi của người sản xuất có thể khiến cho các chương trình nghiên cứu, các ñề tài mới hôm qua ñang
ñược nhiều người quan tâm thực hiện, bỗng trở nên thừa thãi – không cần thiết (vì ứng dụng vào
ñâu nếu người sản xuất không còn nuôi ñối tượng này nữa). ðể có thể khắc phục ñược ñặc thù này,
hoạt ñộng nghiên cứu khoa học phải ñược cân nhắc cho phù hợp với chiến lược phát triển của quốc
gia và phải dựa trên một chương trình dài hạn với lộ trình thích hợp. Các nhà quản lý và người làm
nghiên cứu NTTS phải ñịnh hướng ñược cho thị trường và người nuôi chứ không phải chạy theo nó.
Các ñối tượng nghiên cứu của NTTS thường là các ñối tượng có giá trị kinh tế cao hoặc quí
hiếm. ðiều này ñảm bảo thông tin nghiên cứu có giá trị ñối với thực tiễn sản xuất và ñem lại hiệu
quả kinh tế cao. Tuy nhiên, phần lớn các ñối tượng này lại thuộc nhóm ăn thịt (carnivorous). Chúng
ñòi hỏi thức ăn với hàm lượng protein cao và có nguồn gốc từ ñộng vật (thường là bột cá với giá trị
dinh dưỡng cao). ðiều này làm ảnh hưởng ñến tiêu chí của NTTS là tạo thêm nguồn thực phẩm cho
nhân loại vì sự phát triển của nghề nuôi các ñối tượng này ñồng nghĩa với việc tăng cường hoạt
ñộng khai thác ñàn cá tự nhiên và làm mất ñi nguồn cung cấp protein cần thiết cho người nghèo.
Người làm nghiên cứu NTTS vì thế phải quan tâm nhiều hơn ñến các ñối tượng ở bậc dinh dưỡng
thấp, ăn thực vật (herbivorous), ăn tạp (omnivorous) hoặc ăn mùn xác hữu cơ (detritovorous) ñể có
thể chuyển protein thực vật thành protein ñộng vật hoặc tạo protein từ những nguồn con người
không sử dụng ñược (như mùn bã hữu cơ, sinh vật bậc thấp). Hơn nữa, các ñối tượng quí hiếm
thường khó nuôi, khó sản xuất con giống và ñòi hỏi chi phí sản xuất cao hơn trên một ñơn vị lợi
nhuận. Hiện nay có quan ñiểm cho rằng không nên ñầu tư nghiên cứu vào những ñối tượng như vậy
bởi ta có thể thay ñổi thị hiếu của thị trường nhưng khó có thể thay ñổi ñược ñặc ñiểm sinh học của
ñối tượng. Sự phát triển với qui mô toàn cầu của nghề nuôi cá Rô phi (Oreochromis spp.) và, ở mức
chất phục nghiên cứu cũng phải ña dạng nếu muốn nghiên cứu toàn diện về một ñối tượng. Nếu
người nghiên cứu chỉ quan tâm ñến một giai ñoạn nhất ñịnh cần xem xét kỹ khả năng thu thập vật
thí nghiệm và kinh phí tương ứng. Trong khá nhiều trường hợp, ñể có ñược ấu trùng cho thí
nghiệm, người nghiên cứu phải thu thập các cá thể bố mẹ, nuôi vỗ và dục ñẻ. Hoặc ñể có ñược các
cá thể ấu niên cho nghiên cứu của mình phải tiến hành ương nuôi ấu trùng, nuôi thức ăn tươi sống,
quản lý dịch bệnh … Chi phí và thời gian cho công tác chuẩn bị còn lớn hơn cả chi phí và thời gian
dành cho nghiên cứu. ðối với cán bộ nghiên cứu trẻ, ñây thực sự là cơ hội ñể trau dồi chuyên môn
và mở rộng hiểu biết của mình. Tuy nhiên, cũng cần thiết phải lường trước các khó khăn do ñặc thù
này gây ra ñể kế hoạch nghiên cứu có tính khả thi cao về thời gian và ñảm bảo có ñủ kinh phí ñể
thực hiện các hoạt ñộng cần thiết trong khâu chuẩn bị.
Sự khác biệt giữa qui mô sản xuất và qui mô thí nghiệm cũng là một trong những ñặc thù quan
trọng khi bàn ñến nghiên cứu trong NTTS. Các nghiên cứu mang tính chất thử nghiệm khó có thể
thực hiện với qui mô sản xuất do hạn chế về kinh phí (rất tốn kém) và khả năng kiểm soát của người
nghiên cứu. Yêu cầu của thiết kế thí nghiệm ñòi hỏi số lần lặp lại nhất ñịnh cho từng nghiệm thức
(xem chương 4). ðiều này thường chỉ có thể thực hiện ñược với số lượng sinh vật làm thí nghiệm ít
và hệ thống nuôi thí nghiệm ở qui mô nhỏ (thể tích từ vài lít ñến vài chục m
3
). Khi mục tiêu của
nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến hoặc yếu tố, thiết kế thí nghiệm ñòi hỏi ñiều kiện
của các nghiệm thức phải giống nhau ngoại trừ yếu tố nghiên cứu. Thí nghiệm trong ñiều kiện sản
xuất thực tế khó ñáp ứng ñược yêu cầu này hơn là thí nghiệm ở qui mô nhỏ. Người làm nghiên cứu
vì thế không nên vội vàng kết luận các phát hiện của mình có thể ứng dụng ngay vào thực tiễn nếu
thực hiện nghiên cứu ở qui mô nhỏ, trong phòng thí nghiệm mà cần thiết phải qua một nghiên cứu
triển khai (từ qui mô nhỏ sang qui mô sản xuất). Tương tự như thế, nếu triển khai nghiên cứu ở qui
mô sản xuất không nên ñi quá xa trong việc ñưa ra các kết luận về mối quan hệ giữa các yếu tố,
hoặc xác ñịnh yếu tố nào ảnh hưởng ñến biến nghiên cứu (ví dụ như tốc ñộ tăng trưởng, tỉ lệ dị
hình, nguyên nhân bùng phát dịch bệnh) một cách vội vàng khi chưa lặp lại nghiên cứu của mình
nhiều lần hoặc kiểm chứng các giả thuyết của mình (từ số liệu thu ñược) qua các thí nghiệm nhỏ có
thể kiểm soát ñược. Từ các phân tích trên có thể thấy rằng người làm nghiên cứu không nên ngần
ngại bởi những hạn chế của thí nghiệm qui mô nhỏ hay của thí nghiệm ở qui mô sản xuất. Các
Ví dụ như Archimet phát hiện ra qui tắc tính lực ñẩy của nước trong khi tắm. Newton phát hiện ra
ñịnh luật vạn vật hấp dẫn khi quan sát trái táo rơi. Cơ chế thứ hai - Agorithm hay còn gọi là thuật
toán ñòi hỏi người nghiên cứu tuân thủ các bước ñi theo trình tự logic hợp lý và rất cần thiết khi
phát triển, xây dựng các kỹ thuật. Trong khi ñó cơ chế thứ ba - Heuristics lại tập trung chủ yếu vào
việc xây dựng và kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu. Nói cách khác, quá trình nghiên cứu khoa học
ñược thực hiện bằng cách ñề xuất và kiểm chứng giả thuyết về một sự kiện, hiện tượng quan sát
ñược gọi là sáng tạo theo cơ chế Heuristics. Thực chất thì cơ chế sáng tạo trực giác có ñược chính là
nhờ quá trình tích luỹ kinh nghiệm, kiến thức và trăn trở không ngừng với nhiều giả thuyết khác
nhau. ðể rồi ñến một thời ñiểm nhất ñịnh, sự tích luỹ ñầy ñủ về lượng sẽ làm nảy sinh biến ñổi về
chất. Người làm nghiên cứu khoa học tìm ra ñược câu trả lời cho những câu hỏi thường trực ở trong
ñầu.
Hình 2.1: Tiến trình nghiên cứu khoa học (phỏng theo Underwood 2005)
Nghiên cứu khoa học nhất thiết phải tiến hành theo một trình tự (Hình 2.1). Quan sát các hoạt
ñộng của người làm nghiên cứu khoa học, cụ thể là trong lĩnh vực sinh học – NTTS, ta có thể thấy
người làm nghiên cứu tất bật thu thập thông tin, viết ñề cương nghiên cứu, làm thí nghiệm hoặc tiến
hành ñiều tra, ño ñạc, thu thập, ghi chép số liệu, xử lý số liệu và viết báo cáo. Tất cả những hoạt
ñúng
này. Ẩn sau những hoạt ñộng cụ thể vừa liệt kê trên, một nghiên cứu viên giỏi phải phải xây dựng
cho mình một mô hình lý thuyết (tức là những lập luận, suy ñoán khoa học ñể giải thích một hiện
tượng quan sát ñược) và tiến hành kiểm chứng tính hợp lệ của mô hình ñó. Các thông tin thu thập
ñược trong quá trình quan sát hiện tượng, kết hợp với những hiểu biết ñã ñược xác lập sẽ giúp cho
người làm nghiên cứu ñặt ra các giả thuyết ñể giải thích mô hình lý thuyết ñã xây dựng và tiến hành
kiểm chứng những giả thuyết này. Những hoạt ñộng tiếp theo như viết ñề cương nghiên cứu (e.g. bố
trí thí nghiệm), ño ñạc thu thập các thông số cần thiết, xử lý số liệu và diễn giải kết quả ñể ñi ñến
kết luận chỉ tập trung vào một mục ñích duy nhất là kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu. Tuỳ theo kết
quả (giả thuyết ñưa ra sai hay không sai) mà mô hình lý thuyết sẽ ñược ñiều chỉnh, phát triển hoặc
loại bỏ. Các giả thuyết mới sẽ hình thành và tiếp tục ñược kiểm chứng. Tiến trình nghiên cứu này là
một vòng xoay không có ñiểm dừng. Các giả thuyết và mô hình lý thuyết ñặt ra ngày càng phức tạp
hơn và giải thích rõ ràng hơn hiện tượng quan sát ñược. Hiểu biết về một hiện tượng nhất ñịnh trong
NTTS sẽ giúp cho người nghiên cứu có thể can thiệp, kiểm soát hiện tượng ñể cải thiện năng suất
nuôi hoặc ña dạng hoá ñối tượng hoặc gia tăng sản lượng, giảm thiểu tác ñộng môi trường của
NTTS.
Phương pháp luận vì thế chính là tính logic trong việc lựa chọn cách tiếp cận vấn ñề và tổ chức
các công ñoạn của ñề tài nghiên cứu theo hướng tiếp cận ñã lựa chọn. Người làm nghiên cứu nếu
không xây dựng ñược cho mình một khung logic chặt chẽ khi thực hiện nghiên cứu khoa học sẽ khó
nêu các lý lẽ xác ñáng bảo vệ cho cách thức triển khai nghiên cứu của mình và làm cho các hiện
tượng sinh học, vốn ñã phức tạp, trở nên rắc rối hơn (Peters 1991). Từ một hiện tượng quan sát
ñược, ví dụ tôm Sú nuôi trong ao thường hao hụt nhiều ở tháng nuôi thứ 2, người làm nghiên cứu có
thể ñưa ra nhiều phán ñoán (gọi là mô hình lý thuyết) về nguyên nhân dẫn ñến hiện tượng này: thời
ñiểm tác nhân gây bệnh xuất hiện trùng với tháng nuôi thứ 2, chất lượng môi trường nuôi giảm từ
tháng thứ 2 hoặc chế ñộ dinh dưỡng không phù hợp, v.v Vấn ñề quan trọng ñầu tiên là ñánh giá
tính hợp lệ của các phán ñoán ñể loại bỏ dần các phán ñoán sai, chừa lại một phán ñoán hợp lý nhất
(chưa chắc ñã ñúng hoàn toàn) ñể tiến hành kiểm chứng. Thêm vào ñó, các nghiên cứu trong NTTS
hay sinh học thường có phạm vi nghiên cứu không lớn. Người làm nghiên cứu vì thế phải tìm cách
thể hiện cho người xét duyệt ñề cương nghiên cứu và người ñọc thấy ñề tài mình ñang thực hiện là
một bước ñi logic trong cả một chuỗi logic các ñề tài sẽ thực hiện ñể giải quyết một vấn ñề lớn do
thực tiễn hoặc khoa học ñặt ra (Underwood 2005).
một cách cụ thể trình tự logic này với ñầy ñủ các cơ sở lý luận xác ñáng, có tính thuyết phục cao.
Một khi ñã thoả mãn ñược ñiều kiện tiên quyết này thì các công việc tiếp theo như triển khai ñề tài,
công bố kết quả, áp dụng kết quả vào thực tiễn sản xuất sẽ dễ dàng (Underwood 2005).
Như vậy, người làm nghiên cứu có nhiệm vụ vẽ lên một bức tranh toàn cảnh mà trong ñó vị trí
của ñề tài mình sẽ hoặc ñã thực hiện và mối liên quan với các thành phần khác ñược xác ñịnh một
cách cụ thể. Mục ñích cụ thể của nghiên cứu phải ñược xác ñịnh và thành công của ñề tài sẽ giúp
ñạt ñược các mục ñích lớn hơn. Nghiên cứu khoa học nếu chỉ thu thập số liệu và phân tích - diễn
giải các số liệu thu ñược với tầm nhìn bó buộc trong phạm vi ñề tài nghiên cứu thường ít có ñóng
góp ñáng kể cho khoa học và thực tiễn sản xuất. Người học làm nghiên cứu vì thế cần phải tập
nghĩ, tập lý luận, suy luận, tập phân tích ñể ñi ñến kết luận logic hơn là chỉ chú trọng vào việc học
các kỹ thuật, vận hành thiết bị ñể thu thập số liệu.
Ngay cả khi ñược giao một ñề tài nghiên cứu mà phương pháp nghiên cứu ñã ñược xây dựng
(do chủ nhiệm chương trình) thì nhiệm vụ ñầu tiên của người nghiên cứu phải thực hiện là tìm hiểu:
xuất phát từ ñâu mà ñề tài nghiên cứu ñược xác ñịnh? câu hỏi nghiên cứu hay giả thuyết nghiên cứu
là gì? tại sao nghiên cứu các nội dung nay mà không phải là nội dung khác? các thông tin sẽ thu
thập và các thức xử lý các thông tin ñó liệu có giúp trả lời ñược câu hỏi nghiên cứu hay kiểm chứng
ñược giả thuyết nghiên cứu ñặt ra không? Các hiểu biết này sẽ giúp cho người làm nghiên cứu chủ
ñộng trong nghiên cứu. Nhờ ñó ñịnh hướng ñược quan sát của mình trong quá trình triển khai ñề
tài, xử lý tình huống tốt, bám sát ñược giả thuyết nghiên cứu hay mô hình lý thuyết ñã ñược xây
dựng khi phân tích kết quả và ñưa ra kết luận và có thể giúp chủ nhiệm chương trình ñiều chỉnh
hoặc hoàn thiện phương pháp nghiên cứu.
Khi tham khảo ñề cương nghiên cứu hoặc các báo cáo khoa học ta có thể gặp sơ ñồ khối nội
dung nghiên cứu. Sơ ñồ này không thay thế ñược phương pháp luận (hay còn gọi là khung logic)
vừa ñề cập bên trên. Mặc dù quan trọng, nó chỉ là một phần trong khung logic ñó. Sơ ñồ khối nội
dung nghiên cứu thể hiện: các nội dung nghiên cứu mà ñề tài sẽ (khi viết ñề cương) hoặc ñã thực
hiện (khi viết báo cáo khoa học), mối quan hệ giữa các nội dung này hay tính bổ trợ qua lại giữa
chúng ñể ñạt ñược mục ñích nghiên cứu và trình tự tiến hành các hoạt ñộng này. Ở ñây có hai ñiểm
cần phải lưu ý. Thứ nhất, mục ñích của việc lập sơ ñồ chính là ñể ñơn giản hoá, khái quát hoá vấn
ñề. Người ñọc vì thế sẽ dễ dàng nắm bắt ñược ý tưởng và cách thức triển khai ñề tài của người
nghiên cứu. Sơ ñồ khối nội dung nghiên cứu không phải là nơi ñể thể hiện tất cả các chi tiết của ñề
Kết quả nghiên cứu của một thí nghiệm so sánh tốc ñộ tăng trưởng của postlarvae tôm Sú từ
các lần ñẻ khác nhau của một con tôm mẹ mô tả postlarvae ñược ương nuôi trong bể xi măng
có gây nuôi tảo Chaetoceros với giống lấy từ nguồn nước tự nhiên. Hậu ấu trùng tôm từ mỗi
lần ñẻ (cách nhau 72 h) ñược ương trong bốn bể có thể tích 1.000 L. Thức ăn là Artemia
nauplii kết hợp với thức ăn tổng hợp. Bệnh phát sáng xuất hiện trong 16/20 bể sau 7-10 ngày
nuôi. Tỉ lệ chết của tôm là từ 81-93%. Khi ñọc kết quả phân tích thành phần thực vật phù du
trong 20 bể này (một phần của ñề tài nghiên cứu), bạn phát hiện trong cả 4 bể tôm không bị
bệnh ñều có sự hiện diện của loài tảo A. Bạn chợt nảy sinh một phỏng ñoán: liệu ñây có phải là “hiện tượng” về mối
quan hệ ñối kháng giữa loài tảo A và vi khuẩn gây bệnh phát sáng không? ðiều này có khả năng vì nhiều loài sinh
vật có khả năng tổng hợp và bài tiết ñộc tố giúp chúng ñối phó với ñịch hại hoặc cạnh tranh với các sinh vật khác.
Tuy nhiên, cần phải quan sát nhiều hơn trước khi ñi ñến khẳng ñịnh. Có thể ñây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà
thôi. ðã có tác giả nào thông báo về ñộc tố của loài tảo A chưa? Trong thí nghiệm vừa rồi, loài tảo A có ở trong các
bể tôm bị bệnh không? Mật ñộ của loài tảo A có phải là yếu tố quyết ñịnh không? Sự khác biệt về thời gian giữa các
ñợt ương có ñồng nghĩa với khác biệt về nguồn nước người nghiên cứu ñã sử dụng không? Nguồn thức ăn có giống
nhau không? v.v. Nói cách khác, bạn sẽ phải thu thập thêm rất nhiều thông tin trước khi khẳng ñịnh ñây là một hiện
tượng thực sự và cần phải nghiên cứu (vì nếu ñúng như vậy người nuôi tôm có thể có cách khống chế bệnh phát
sáng). Có những thông tin bạn có thể tìm thấy ngay trong báo cáo khoa học này (sự hiện diện của tảo A trong các
bể, nguồn thức ăn, nguồn nước). Có những thông tin bạn không thể tìm ñược (ví dụ như mật ñộ của tảo A do người
nghiên cứu ñã không ño ñạc thông số này) và cần phải tổ chức quan sát. Nếu hiện tượng này xuất hiện nhiều lần
(trong cả 4/5 ñợt ương), ở nhiều nơi (người khác cũng quan sát ñược như vậy) thì ñây là một hiện tượng thực sự và
cần ñược nghiên cứu, tìm hiểu cơ chế ñể kiểm soát tốt hơn bệnh phát sáng ở hậu ấu trùng tôm Sú. Có những hiện tượng ñòi hỏi quan sát phải tiến hành trong nhiều năm, ví dụ như hiện tượng tôm
Hùm Bông con (Panulirus ornatus) ñột nhiên xuất hiện dày ñặc ở khu vực Phú Yên vào năm 2002.
Hiện tượng này không xuất hiện trong những năm 1998-2001 trước ñó, cũng không lặp lại vào năm 19
không rõ ràng, mục ñích của việc thu thập từng thông tin chưa ñược xác ñịnh kéo theo các khó khăn
không tránh khỏi về sau trong việc xử lý số liệu và trình bày kết quả. Số liệu phải ñược thu thập, xử
lý và trình bày ñể có thể giải ñáp ñược câu hỏi nghiên cứu hoặc kiểm chứng ñược giả thuyết nghiên
cứu và góp phần phát triển mô hình lý thuyết mà tác giả hoặc nhiều người nghiên cứu khác ñang
xây dựng. Một báo cáo khoa học ñược coi như chưa ñạt yêu cầu khi ñọc xong phần Mở ñầu người
ñọc vẫn chưa hiểu hoặc hiểu rất mơ hồ lý do tác giả lựa chọn ñề tài và mục tiêu của từng nội dung
nghiên cứu.
Quan sát tốt là tiền ñề rất quan trọng cho việc xây dựng các giả thuyết, mô hình lý thuyết, cung
cấp các thông tin quan trọng ñể xây dựng phương pháp nghiên cứu và giúp suy luận kết quả thu
ñược chính xác hơn. Một người làm nghiên cứu giỏi trước hết phải có óc quan sát và khả năng liên
kết các sự kiện với tư duy logic. Các khả năng này sẽ giúp cho người làm nghiên cứu phát hiện
nhanh, chính xác vấn ñề cần nghiên cứu và hạn chế ñược khả năng ñưa ra các phán ñoán sai. Kết
quả của quan sát tốt là khả năng xác ñịnh ñược ñề tài nghiên cứu, giúp hình thành cơ sở của các giả
thuyết và xây dựng phương pháp nghiên cứu.
Với những thông tin, mô tả thu thập ñược và lý luận phát triển trong quá trình thu thập, người
nghiên cứu sẽ trả lời ñược dễ dàng các câu hỏi “tại sao lại lựa chọn vấn ñề này ñể nghiên cứu?”,
“nghiên cứu vấn ñề này sẽ giúp gì cho thực tiễn sản xuất?”, “giúp gì cho khoa học?”. Bước tiếp theo
là xây dựng mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu giúp làm sáng tỏ hoặc phát triển mô
hình này.