TÌM HIỂU VỀ TÂM LÍ HỌC HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐỂ PHÁT TRIỂN HỌC TẬP, GIAO TIẾP, NHÂN CÁCH VÀ ỨNG XỬ - Pdf 24

UBND QUẬN HOÀN KIẾM
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HOÀN KIẾM
ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU VỀ TÂM LÍ HỌC HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ ĐỂ PHÁT TRIỂN
HỌC TẬP, GIAO TIẾP, NHÂN CÁCH VÀ ỨNG XỬ
Họ và tên Học sinh : Lê Hoàng Hà
Lớp : 9H
Ngày sinh : 11-9-2000
Họ và tên GV hướng dẫn : Lê Thị Minh
Tổ Xã Hội
Số điện thoại : 0915462129Hà Nội – 2014
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần I.1. Mục tiêu nghiên cứu 3
Phần I.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
Phần I.3. Phương pháp nghiên cứu
II. TỔNG QUAN 3
1
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Phần II.1. Tóm lược về tâm lý học học sinh trung học cơ sở
(Khái niệm, giai đoạn và điều kiện)
1.1. Khái niệm tâm lý học 5
1.2. Vị trí và giai đoạn phát triển tâm lý học học sinh trung học cơ sở 5
1.3. Điều kiện phát triển tâm lý học học sinh trung học cơ sở 6
Phần II.2: Học tập, giao tiếp, nhân cách và ứng xử của học sinh trung học
cơ sở
2.1. Học tập 7

những người đang trực tiếp dạy dỗ thiếu niên – cần nắm được vị trí và ý nghĩa của
giai đoạn phát triển tâm lí đặc biệt này. Đồng thời, những khó khăn, thuận lợi cũng
là kim chỉ nam trong việc đào tạo nên những chủ nhân tương lai của đất nước.
Trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay, có rất nhiều trường hợp
học sinh với một số lượng lớn là học sinh cấp 2 rơi vào các hiện tượng như: quậy
phá, trầm cảm, thậm chí là tự tử. Đây là một trong những biểu hiện của hiện
tượng bất ổn tâm lí. Vậy nguyên nhân của nó là gì? Nó là trực tiếp bản thân hay
chịu tác động của những tác nhân nào? Học tập, cuộc sống và xã hội có tác động
không và tác động như thế nào? Và phải làm sao để học sinh trung học cơ sở có thể
vượt qua những hiện tượng như trên? Bản thân là học sinh trung học cơ sở, việc
tìm câu trả lời cho các câu hỏi nêu trên khiến em thực sự rất quan tâm – điều rất cần
thiết cho những học sinh như em. Việc nghiên cứu diễn biến tâm lí khá phức tạp của
lứa tuổi thiếu niên một mặt cung cấp cho những người quân tâm đến kiến thức tâm
3
lí cơ bản của lứa tuổi này, mặt khác cũng đề ra yêu cầu và thách thức trong việc
giáo dục và bồi dưỡng cho thế hệ trẻ.
Xuất phát từ những phân tích, lập luận và đặt vấn đề nói trên, cũng như xét
thấy tầm quan trong của lứa tuổi thiếu niên tại học đường, ở gia đình và trong xã hội,
em đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu về tâm lí học học sinh trung học cơ sở để phát
triển học tập, giao tiếp, nhân cách và ứng xử” làm Đề tài tham gia cuộc thi khoa
học kỹ thuật thành phố Hà Nội lần thứ tư (Năm học 2014-2015).
Phần I.1. Mục tiêu nghiên cứu:
1. Giải thích được nguyên nhân của những biến đổi tâm lí của lứa tuổi học sinh
trung học cơ sở cũng như các yếu tố tác động đến nó.
2. Chỉ ra các điều kiện phát triển tâm lí của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở.
3. Phân tích đặc điểm đời sống của học sinh trung học cơ sở (học tập, giao
tiếp, nhân cách và ứng xử).
4. Nêu được các biện pháp theo mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Phần I.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Học sinh trung học cơ sở trong phạm vi trường THCS Hoàn Kiếm

Như vậy, việc học tập ở trường trung học cơ sở là một bước ngoặc quan
trọng trong đời sống của thiếu niên. Trường trung học cơ sở là nơi học sinh
(thiếu niên) lĩnh hội những kiến thức qua các phân môn học; mỗi môn học gồm
những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối
sâu sắc. Điều đó đòi hỏi lứa tuổi thiếu niên phải có tính tự giác và tính làm việc
độc lập cao.
Nghiên cứu tuổi học sinh trung học cơ sở, chúng ta không thể không đề
cập đến những mặt trái của lứa tuổi này. Những hiện tượng đáng buồn đã và
đang xảy ra mà chưa có hồi kếtđã làm đau lòng người lớn, cha mẹ, các nhà giáo
và những người có lương tri trong xã hội. Nguyên nhân của những hiện tượng
ấy có thể là do rất nhiều yếu tố mà chủ yếu do khách quan đưa lại. Nếu không
có người tham vấn kịp thời để tháo gỡ thì thiếu niên sẽ rất dễ tìm đến hướng
giải quyết tiêu cực.
Như vậy, sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố: gia đình, nhà trường và xã
hội có thể là giải pháp tối ưu giúp tuổi học trò phát triển toàn diện theo hướng
có ích cho cộng đồng và nhà trường nói chung, cho gia đình và bản thân nói
riêng.
* Điểm mới, sáng tạo của đề tài: Căn cứ vào các số liệu qua khảo sát, phỏng
vấn đối với các bạn học sinh đang theo học trường trung học cơ sở để nêu lên thực
trạng, đưa ra các biện pháp có ý nghĩa thiết thực nhất; góp phần giúp các bạn vượt
qua các khó khăn từ phía gia đình, nhà trường và xã hội, giúp các bạn có trạng thái
tâm lý tốt nhất cho việc học tập tại học đường.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
5
Phần III.1. Tóm lược về tâm lý học học sinh trung học cơ sở
(Khái niệm, giai đoạn và điều kiện)
1.1. Khái niệm tâm lý học
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư tưởng
(cảm xúc, ý chí và hành động) của con người; ngoài ra tâm lý học cũng chú tâm đến
sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên

bạn được tham gia bàn bạc một số công việc của gia đình và đã biết quan tâm đến
việc xây dựng, bảo vệ uy tín của gia đình (45%). Những sự thay độ đó đã làm cho
các bạn ý thức được vị thế của mình trong gia đình và động viên, kích thích các bạn
hoạt động tích cực, độc lập, tự chủ. 15% các bạn không ở cùng cha mẹ do bố mẹ li
hôn, được người bảo trợ (ông, bà, cô, dì, chú, bác…) nuông chiều không phải làm
việc nhà.
* Nhà trường: Vào một môi trường dạy học mới, các bạn có thể bị tác động
bởi một (hoặc nhiều) trong các yếu tố sau đây: nhiều thầy cô với phương pháp
giảng dạy và yêu cầu khác nhau; nhiều bạn mới, kiến thức của 13 môn học đa dạng;
tự nghe viết các kiến thức trên lớp; phải tiến hành các hoạt động tư duy (so sánh, hệ
thống, phân loại ) Trái lại, các bạn được tham gia vào các hoạt động sinh hoạt
của nhà trường như văn nghệ, thể thao, các hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài
giờ lên lớp
Chính những điều đó đã đòi hỏi và thúc đẩy các bạn có thái độ tích cực, tính độc
lập hơn; hình thành và phát triển cách lập luận sâu sắc; vốn hiểu biết sẽ phong phú,
trừu tượng để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, kiến thức và ứng xử của mình.
Tuy nhiên, số các bạn học sinh có hoàn cảnh gia đình đặc biệt như cha mẹ li
hôn hoặc mồ côi… nên thời gian ngoài giờ đến trường các bạn lang thang trên
mạng, giao lưu kết bạn với các bạn ngoài lớp, trường; trong các giờ học thường hay
ngủ gật, thiếu tập trung, đi học muộn thậm chí bỏ tiết, không làm bài tập, không học
bài… Trong giao tiếp, những bạn học sinh này có những ngôn ngữ không phù hợp
với lứa tuổi.
*Xã hội:
Tại phường, quận của mình, các bạn được tham gia vào các hoạt động sinh
hoạt tập thể và được giao một số công việc trên nhiều lĩnh vực khác nhau như giúp
đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, tuyên truyền cổ động, góp phần giữ trật tự ổn định
khu phố mình sinh sống, tham gia vào các lớp văn hóa, Các hoạt động này là hoạt
động có tính tập thể, có ý nghĩa lớn lao. Thực hiện những công việc trên là một
trong những cách để các bạn khẳng định bản thân, mở rộng các mối quan hệ xã hội,
tăng kinh nghiệm sống và góp phần phát triển nhân cách. Tuy nhiên, chỉ có 30%

giữa giáo viên và học sinh “xa cách” hơn so với bậc tiểu học. Sự thay đổi này tạo ra
những khó khăn nhất định cho các bạn, nhưng nó cũng tạo điều kiện cho các
bạn tích lũy dần kinh nghiệm tự giác và hiểu người khác.
Thái độ tự học của học sinh trung học cơ sở cũng tăng lên rõ rệt. 50% tự nhận
xét rằng thái độ tự học của mình rất tốt. Số còn lại có lẽ do bị các yếu tố giải trí
8
cuốn hút, cảm thấy môn học rất nhàm chán hay các bạn dành thời gian tìm hiểu
những điều mình tò mò. Ở học sinh tiểu học, thái độ đối với môn học phụ thuộc vào
thái độ của các bạn đối với giáo viên và điểm số nhận được. Nhưng ở tuổi thiếu
niên, thái độ đối với môn học do nội dung môn học và sự đòi hỏi phải mở rộng tầm
hiểu biết chi phối. Thái độ đối với môn học đã được phân hóa (môn “hay”, môn
“không hay”). Nhiều bạn đã có hứng thú bền vững đối với môn học, say mê học
tập. Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của thiếu niên
bị phân tán và không bền vững và có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm
túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống.
2.2. Giao tiếp
“Giao tiếp là những liên hệ qua lại đã được ý thức giữa người với người, nó
có mặt trong bất kì cộng đồng nào.” (K.K Llatônốp) hay “Giao tiếp là sự tác động
qua lại giữa hai hay nhiều người để trao đổi thông tin” (Từ điển Tâm lý học của
Liên Xô) là những khái niệm tồn tại về giao tiếp dưới góc độ tâm lí học. Vậy với
lứa tuổi thiếu niên, nó có khác biệt gì không và khác biệt như thế nào?
Quá trình giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức (trực tiếp
bằng lời nói hay bằng các máy móc thông tin điện tử như điện thoại, máy tính, các
trang mạng xã hội, các diễn đàn ). Cho dù với hình thức nào đi nữa thì vai trò của
nó cũng là giúp lứa tuổi thiếu niên tăng vốn kiến thức xã hội, biến những kinh
nghiệm đó thành vốn sống cho riêng mình để phục vụ cho cuộc sống Cụ thể, hôm
nay em sẽ đi tìm hiểu hai mối quan hệ giao tiếp cơ bản nhất của học sinh, đó là với
người lớn (cha mẹ, thầy cô ) và với bạn bè.
*Với người lớn: Ở tuổi thiếu niên xuất hiện cảm giác mình đã là “người
lớn”. Các bạn cảm thấy mình không còn là trẻ con nhưng lại không hẳn vậy. Những

chân thành và có giá trị cao) – thì có lẽ đáp án sẽ là do họ không thuộc cùng thế hệ
với học sinh, sự xa lánh qua những lần dạy bảo Xã hội ngày một phát triển, sự
thay đổi giữa các thế hệ học sinh cũng ngày một rõ rệt (hoàn cảnh sống, mục đích
học tập, cách học, ). “Sao mày ngu quá, coi thằng A, con B nó học giỏi quá
chừng” hay “con nhà người ta ” là những câu nói mà các bạn cảm thấy rất khó
chịu khi nghe từ bố mẹ. Các bạn cho biết mình không thích bị so sánh với một mẫu
hình “lí tưởng”, không thích bị áp học theo một phương pháp như thời bố mẹ hay
cấm đoán toàn bộ các phương tiện giải trí; điều này chỉ khiến quan hệ giữa bố mẹ
và các con thêm đối chọi (hay xung đột) mà thôi, thậm chí học sinh sẽ hoàn toàn cố
tình làm trái lại, dẫn tới việc dạy dỗ ấy không thu được kết quả gì.
2.3. Nhân cách và ứng xử
a. Muốn được tự do và tự lập
Cùng với sự thay đổi về thể lí thì học sinh bắt đầu muốn bố mẹ cho mình cái
quyền tự do và độc lập (được phát biểu ý kiến, có quyền, luật lệ riêng tư, ). Theo
các chuyên viên tâm lí thì điều này không có gì là bất thường. Trái lại, nó giúp cho
các bạn có tinh thần tự tin vào chính mình hơn. (Tất nhiên điều đó không có nghĩa
10
là bố mẹ hoàn toàn nghe theo lời con, không có sự kiểm soát, thả con hoàn toàn tự
do )
b. Muốn được tôn trọng
Khi bị so sánh với bạn khác hay nghe những lời mà bản thân cảm thấy khó
chịu từ bố mẹ, các bạn sẽ thường không đáp ứng những nhu cầu ấy mà trái lại khiến
mối quan hệ giữa bố mẹ và con ngày càng rạn nứt. Ở tuối này, các bạn rất dễ bị tổn
thương và tự ái khi bị la rầy; các bạn muốn tự bản thân hoàn thành công việc theo
cách riêng của mình để khẳng định mình.
c. Thách thức thẩm quyền của cha mẹ
Với những thay đổi về tâm lý cộng thêm những kiến thức thu nhận từ trường
học, từ xã hội, thiếu niên ngày nay hiểu biết hơn và biết lý luận để bênh vực những
hành động của mình. Một khi bị la mắng về những chuyện nhỏ hoặc không đúng,
các bạn thường trả lời lại và nói lên những suy nghĩ riêng để bào chữa.

điểm và lỗi lầm của mình. Chính thái độ nhận lỗi này của cha mẹ là một tấm gương
cho con biết nhận trách nhiệm khi làm sai và tạo được lòng kính trọng và tin cậy
với con của mình. Nếu muốn con trở nên một người tử tế trong xã hội thì cha mẹ
phải làm gương cho con noi theo. Chính hành động của cha mẹ là một bài học thực
tế nhất cho con.
Thể theo nguyện vọng của học sinh như đã nêu ở trên, các bạn đều mong
muốn bố mình tránh những việc như đã nêu. (Điều này không có nghĩa là bố mẹ
không quan tâm đến việc con học hay hoàn toàn thả phanh các phương tiện giải trí;
mà hãy tìm hiểu để rõ hơn đặc điểm tính cách riêng biệt của con rồi từ đó có những
biện pháp đúng đắn). Về phần giải trí, có một số trường hợp bố mẹ càng cấm thì các
bạn càng tò mò, càng cố gắng tìm tất cả các biện pháp để đạt được điều mình mong
muốn và ngược lại; nếu bố mẹ để cho các bạn chơi khoảng một tuần thả phanh, dần
dà các bạn sẽ cảm thấy chán và không còn mong muốn chơi nữa (chỉ những bạn có
thói quen nhanh chán). Về học tập, bố mẹ có thể giảm bớt thời gian học thêm cho
con, chỉ học thêm ít nhưng chất lượng
Hai là, sau khi đọc Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên theo các cấp học trong
học tập, em thấy rằng ngày nay thầy cô trong quá trình dạy học cần phải quan sát
thái độ, hành vi của học sinh qua ánh mắt, cử chỉ, mức độ chú ý…; cần điều chỉnh
cảm xúc theo các nội dung nhất định và diễn biến tâm lý của học sinh, nhất là phải
giữ vững được thái độ tích cực của mình trước tập thể học sinh, không bao giờ
mang tâm trạng tiêu cực đến lớp học; gây được thiện cảm ban đầu với học sinh,
đó là những yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng dạy học, giờ học. Ngoài ra,
thầy cô còn cần hiểu rõ tính cách, khí chất, năng khiếu của người học. Mặt khác,
cần chú ý tới tài liệu học tập: Tài liệu học tập phải súc tích về nội dung khoa học,
tránh kiến thức hàn lâm, phải gán với cuộc sống của học sinh, làm cho học sinh
hiểu rõ ý nghĩa của kiến thức môn học, phải gợi cảm, gây cho học sinh hứng thú
12
học tập và phải trình bày bài học, phải gợi cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu bài học
đó, phải giúp đỡ học sinh biết cách học, có phương pháp học tập phù hợp.
Ba là, cụ thể, qua phỏng vấn và trong phiếu khảo sát, có bạn đã trình bày ý

không phải là ghi nhớ được tất cả những điều thầy cô truyền đạt mà học từ nhiều
nguồn, học qua nhiều cách, và học qua trải nghiệm thực tế.
13
Rất mong trong một ngày không xa, thiếu niên, tức học sinh trường trung học
cơ sở sẽ là những con người tài năng, sáng tạo, nâng cao và phát triển tốt mọi mặt
học tập, giao tiếp, nhân cách và ứng xử.
Trên đây là những tìm hiểu thực tế, quan điểm ý kiến của riêng con trong
việc tìm hiểu tâm lí học học sinh trung học cơ sở. Rất mong nhận được sự góp ý
kiến của các thầy cô giáo và ban giám khảo. Con xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2014
Học sinh
Lê Hoàng Hà
14
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005
2. Giáo trình tâm lí học đại cương
(Nguyễn Quang Uẩn)
3. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở
(Đỗ Thị Hạnh Phúc)
4. Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
( Đỗ Văn Thông)
5. Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên theo các cấp học
(Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục)
6. Hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học trò cơ sở để xây dựng quan hệ thầy
trò
(Võ Thị Minh Chí)
15
PHIẾU KHẢO SÁT
Đánh dấu vào đáp án mà bạn cho là đúng: (từ 1 đến 11)
Câu 1: Theo bạn, độ tuổi nào dưới đây được tính vào độ tuổi thiếu niên?

 Đôi khi
Câu 6: Bạn đã phải kiếm tiền chưa?
 Rồi  Chưa
Câu 7: Theo bạn, kiến thức xã hội của bạn như thế nào?
 Rất kém  Kém
16
 Tốt
 Rất tốt
Câu 8: Bạn có hay tham gia vào các hoạt động của phường, quận không?
 Có  Không
 Đôi khi
Câu 9: Khi bố mẹ trách móc hay nhắc nhở, bạn thường làm gì?
 Cãi lại
 Mặc kệ
 Nghe và tiếp thu
 Khác
Câu 10: Quan hệ trong và ngoài lớp của bạn như thế nào?
 Rất kém
 Kém
 Tốt
 Rất tốt
Câu 11: Về việc vào học trường trung học cơ sở, bạn thấy như thế nào?
 Không quan trọng
 Khá quan trọng
 Quan trọng
 Rất quan trọng
17
Câu 12: Ngoài học chính, trung bình thời gian học thêm của bạn là bao nhiêu? giờ/ngày
Câu 13: Bạn có mong muốn gì trong học tập, gia đình cũng như các hoạt động sinh hoạt khác
không?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status