skkn một số biện pháp về công tác chủ nhiệm lớp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý các lớp liên kết đào tạo tại trung tâm gdtx tỉnh thanh hóa - Pdf 24


1
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ TRONG QUẢN LÝ CÁC LỚP LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG
TÂM GDTX TỈNH THANH HÓA” I-Đặt vấn đề
Trong một nhà trƣờng Hiệu trƣởng là ngƣời chịu trách nhiệm cao nhất về mọi
hoạt động của nhà trƣờng. Còn giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là “linh hồn” của lớp
học, là nhân tố quan trọng quyết định đến sự tiến bộ và thành công của lớp học.
Vai trò của GVCN đặc biệt quan trọng là vậy, cho nên để làm tròn trách nhiệm
của mình, GVCN phải đảm nhiệm một khối lƣợng lớn công việc. Đặc biệt là công tác
chủ nhiệm đối với các lớp học các hệ bổ túc văn hóa, liên thông, vừa làm vừa học, các
lớp bỗi dƣỡng nâng cao trình độ đang học tập tại các Trung tâm Giáo dục thƣờng
xuyên (TTGDTX) các tỉnh thì công tác chủ nhiệm đối với các lớp thuộc hệ đào tạo
này thì vai trò ngƣời giáo viên làm công tác chủ nhiệm lại càng có vị trí quan trọng và
khó khăn hơn nhiều, vì đối tƣợng tham gia học tập không đồng đều về trình độ và tuổi
tác và nó phải là cầu nối giữa lớp với đơn vị chủ trì đào tạo và với đơn vị liên kết đào
tạo nhằm giải quyết các công việc có liên quan, toàn bộ công tác điều hành, quản lý
học viên; thu học phí chủ yếu là do các đơn vị phối hợp đào tạo phụ trách mà công
tác này các đơn vị phối hợp đào tạo giao cho GVCN các lớp. Nếu ngƣời giáo viên
chủ nhiệm lớp không điều hành, quản lý lớp học theo đúng chức năng, nhiệm vụ
đƣợc giao thì có nhiều ảnh hƣởng rất lớn đến việc giảng dạy của giảng viên và việc
học tập của học viên cũng nhƣ giải quyết các công việc có liên quan của 2 đơn vị
liên kết ( đơn vị chủ trì đào tạo và đơn vị phối hợp đào tạo).
Qua thực tế của ngƣời giáo viên chủ nhiệm trong năm học 2012-2013 đối với
các lớp đang học tại Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu,
tìm hiểu và đƣa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lớp.
Với lý do đó tôi viết Sáng kiến kinh nghiệm với tiêu đề:


chủ nhiệm và tác động đến sự phát triển nhân cách của mỗi học sinh trong tập tập thể

3
đó, chịu trách nhiệm trƣớc nhà trƣờng về chất lƣợng giáo dục của lớp mình phụ trách.
1.2.Chức năng của GVCN lớp
1.2.1. Chức năng quản lý: GVCN lớp là ngƣời thay mặt Hiệu trƣởng làm
nhiệm vụ quản lý toàn diện học sinh.
1.2.2. Chức năng giáo dục: GVCN lớp trƣớc hết phải là nhà giáo dục, thông
qua việc tổ chức các hoạt động của tập thể lớp để giáo dục những phẩm chất, nhân
cách của mỗi học sinh.
1.2.3. Chức năng đại diện: Ngƣời GVCN lớp đại diện cho Hiệu trƣởng
truyền đạt những yêu cầu đối với học sinh. GVCN lớp còn là đại diện cho quyền lợi
chính đáng của học sinh trong lớp, bảo vệ học sinh một cách hợp pháp. Phản ánh
kịp thời với Hiệu trƣởng, với gia đình học sinh về những nguyện vọng chính đáng
của học sinh và của tập thể lớp để cùng có biện pháp để giải quyết phù hợp, kịp
thời, có tác dụng giáo dục.
1.3.Nội dung công tác chủ nhiệm lớp
1.3.1.Tìm hiểu và nắm vững đối tƣợng giáo dục: Tìm hiểu đối tƣợng giáo
dục vừa là nội dung vừa là điều kiện để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. GVCN lớp
cần hiểu rõ hoàn cảnh, cuộc sống, tình cảm của học sinh. Đặc biệt là đối với các
trƣờng hợp đặc biệt.
1.3.2. Tổ chức đội ngũ cán bộ lớp tự quản và xây dựng tập thể học sinh lớp
tự quản: Đội ngũ cán bộ lớp là những ngƣời trợ giúp đắc lực giúp GVCN lớp thực
hiện chức năng của mình. Đội ngũ cán bộ lớp tốt, có trách nhiệm sẽ tạo cho lớp
thành tập thể tốt, qua đó có tác dụng giáo dục tích cực đến các thành viên trong lớp,
nhƣng đội ngũ cán sự không phải là công cụ, hay cánh tay nối dài của GVCN lớp.
GVCN lớp cần phải bồi dƣỡng năng lực tổ chức và quản lý tập thể lớp cho đội ngũ
cán bộ lớp để
đảm bảo sự thống nhất giữa quản lý của GVCN và tự quản của học sinh.
1.3.3. Liên kết với các lực lƣợng giáo dục trong nhà trƣờng: Giáo dục mỗi cá

5
2-Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp tại TTGDTX tỉnh Thanh Hoá

2.1-Đặc điểm tình hình chung
Vào đầu năm học 2012-2013 Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa có 31 lớp
liên kết đang học tại Trung tâm (1 lớp QLGD K1 thi TN tháng 11/2012; 4 lớp đại
học Khóa 51 thi TN tháng 12/2012 và tháng 1/2013), trong đó chƣa tính 2 lớp mới
thi tuyển sinh trong tháng 12/2012 (1 lớp đại học QLKT của trƣờng ĐH KTQD Hà
Nội và 1 lớp đại học công tác xã hội của trƣờng Đại học lao động xã hội. Nhƣ vậy
tính đến cuối năm học 2012-2013 tại Trung tâm có 29 lớp của 14 trƣờng Đại học,
Học viện với tổng số học viên là: 2.288 Học viên
Trong tổng số 29 lớp trên có 7 lớp thuộc khối sƣ phạm tiểu học và mần non
là học vào thời gian hè, 5 lớp thƣờng xuyên học vào thứ 6,7 và chủ nhật (2 lớp
QLGD, 3 lớp tài chính ngân hàng) còn lại các lớp chủ yếu theo từng kỳ hoặc vào
thứ 7 và chủ nhật. Lớp có số lƣợng đông nhất 114HV (lớp đại học SPTH K12 của
trƣờng ĐHSPHN I) và lớp có ít học viên nhất là 29 học liên (lớp Đại học xây dựng
cầu đƣờng của trƣờng Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng).
Lịch học của các lớp liên kết trong Trung tâm có thể phân thành 3 nhóm cụ
thể nhƣ sau:
Nhóm 1: Chỉ học vào thời gian hè: Tập trung chủ yếu là các lớp thuộc khối
sƣ phạm vì đây là thời điểm nghỉ hè của các trƣờng nên các trƣờng chủ trì đào tạo
thông thƣờng thực hiện vào thời điểm này.
Nhóm 2: Chỉ học vào 2 ngày thứ 7 và chủ nhật, nhóm này chủ yếu là các lớp
liên thông chính quy và liên thông vừa làm vừa học nhƣ các lớp Ngân hàng, Quản
lý Giáo dục, các lớp thuộc hệ từ xa
Nhóm 3: Học theo từng kỳ, từng môn, nhóm này chủ yếu là các lớp thuộc
khối kinh tế, kỹ thuật nhƣ các lớp XD cầu đƣờng, Quản lý kinh tế
Công tác chủ nhiệm các lớp chủ yếu đƣợc phân công kiêm nhiệm cho cán bộ,
giáo viên của phòng Quản lý đào tạo (có phụ lục kèm theo). Đây cũng là một trong


- Về chế độ đối với giáo viên phục trách lớp Trung tâm có chế độ, chính sách
động viên kịp thời cho giáo viên phụ trách lớp nhƣ tiền điện thoại, tiền trích phần
trăm học phí cho giáo viên
- Nền nếp học tập của học viên và công tác đón tiếp giảng viên của các
trƣờng đại học về làm nhiệm vụ tại Trung tâm đã đƣợc thực hiện tốt từ nhiều năm,
chính vì vậy đã xây dựng tốt đƣợc mối quan hệ giữa Trung tâm với các trƣờng Đại
học, Học viện.
- Trung tâm đã thành lập Ban quản lý nền nếp lớp học do đồng chí phó Giám
đốc làm trƣởng ban quản lý, chính vì vậy đây là một thuận lợi, là điểm tựa cho giáo
viên về công tác quản lý học viên.
- Cơ sở vật chất, phòng nhà khách, nhà ăn, các điều kiện, thiết bị dạy học đã
đƣợc Trung tâm đầu tƣ khang trang có khá đầy đủ hệ thông máy chiếu, phòng máy
vi tính cho các lớp đƣợc học tập theo yêu cầu của nội dung chƣơng trình.
- Ban cán sự các lớp sau khi đƣợc bầu và đi vào hoạt động đã khá năng nổ, nhiệt
tình và có trách nhiệm với nhiệm vụ đƣợc phân công hoàn thành công việc đƣợc giao.
2.2.2- Khó khăn:
- Do cơ cấu tổ chức ở các Trung tâm GDTX cấp tỉnh không có phòng Quản
lý học sinh sinh viên nhƣ các trƣờng chuyên nghiệp, mà nhiệm vụ này là một phần
công việc của phòng quản lý đào tạo nên việc theo dõi sĩ số, kế hoạch dạy và học
đƣợc giao cho GVCN lớp quản lý, theo dõi. Trong khi đó GVCL lớp chủ yếu là
kiêm nhiệm, bên cạnh đó học viên tham gia học tập chủ yếu là cán bộ công chức
nên ít nhiều công việc cơ quan cuãng bị chi phối vào thời gian học tập nên tình
trạng học viên đi học không thƣờng xuyên là điều không tránh khỏi. Chính vì vậy
công tác quản lý học viên gặp khá nhiều khó khăn.
- Đối tƣợng đi học tại Trung tâm phần lớn là cán bộ công chức đang làm việc
tại các cơ quan, công sở nhà nƣớc, kiến thức văn hóa cơ bản có nhiều hạn chế, khả

8
năng tƣ duy và tiếp thu kiến thức mới chậm, trong khi đó thời gian tự học chƣa
đƣợc đầu tƣ phù hợp nên chất lƣợng học tập chƣa cao. Và một đặc điểm nữa đó là

lớp và Trung tâm, do vậy trong quá trình điều hành, quản lý lớp gặp rất nhiều khó khăn.
- Ban cán sự một số lớp tự ý liên hệ và giải quyết các công việc có liên quan
đến kế hoạch, học tập trực tiếp với các trƣờng Trung ƣơng và giảng viên, chính vì
vậy gây bị động cho giáo viên chủ nhiệm và Trung tâm trong công tác điều hành,
quản lý.
- Mốt số trƣờng Trung ƣơng do công tác lập kế hoạch không chính xác, khoa
học chính vì vậy đã gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành, quản lý, sắp xếp
kế hoạch học tập tại Trung tâm (Trƣờng đại học công nghệ Đông Á, Học viện
QLGD )
- Việc tổ chức thi lần 1 và lần 2 của Viện Đại học Mở Hà Nội của 2 lớp Đại
học KT và QTKD chƣa hợp lý gây nhiều bất cập trong việc thông báo cho học viên
đến dự thi lần 2.
- Ý thức, lập trƣờng của học viên về việc học tập còn nhiều dao động, chƣa
nhất quán đƣợc việc có học nữa hay dừng không đi học nữa chính vì vậy điều này
gây khá nhiều khó khăn cho việc quản lý lớp (đặc biệt là học viên các lớp hệ từ xa
của Viện đại học Mở Hà Nội).
2.3. Tình hình thực hiện công tác chủ nhiệm lớp tại Trung tâm GDTX tỉnh
Thanh Hóa
Trong những năm gần đây công tác chủ nhiệm của GVCN và hoạt động của
các lớp liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều chuyển
biến rõ rệt, GVCN các lớp đã bám sát các lớp học mặc dù đó là những ngày nghỉ
nhƣng GVCN lớp vẫn thƣờng xuyên có mặt để quản lý, điều hành và giải quyết các
công việc của lớp và của 2 đơn vị liên kết, nền nếp thực hiện của các lớp đã khá
đảm bảo theo quy định. Song bên cạnh những thành tích đã đạt đƣợc nêu trên vẫn

10
còn có những tồn tại hạn chế yếu kém nhƣ:
- GVCN lớp chƣa xây dựng đƣợc kế hoạch tổng thể cho kỳ học, tính chuyên
nghiệp trong công tác chủ nhiệm lớp chƣa cao. Học viên đi học tinh thần, trách
nhiệm và tính chuyên cần chƣa thật sự đảm bảo, nhiều khi còn ỷ lại cho hoạt động

- Vn cũn tn ti mt trng hp hc viờn do nhiu lý do khỏc nhau khụng i
hc m nh ngi khỏc n hc h, im danh h.
- Ban cán sự của một số lớp hoạt động ch-a thật sự tích cực còn ỷ lại, ch-a
tích cực trong công việc, nhiệm vụ đ-ợc Trung tâm và tập thể lớp giao cho. Điều
này đã ảnh h-ởng không nhỏ đến việc thực hiện việc duy trì tính chuyên cần và nền
nếp lớp học. Một số cán bộ lớp còn bao che cho nhau trách sự kiểm tra của giảng
viên và giáo viên chủ nhiệm lớp chính điều này đã ảnh h-ởng đến nề nếp của lớp.
3-Mt s bin phỏp
cụng tỏc ch nhim ca GVCN cỏc lp liờn kt t hiu qu cao, phự hp
vi tỡnh hỡnh thc t vi cỏc loi hỡnh cỏc lp liờn kt o to ang hc ti Trung
tõm GDTX tnh Thanh Húa. Trong thi gian cụng tỏc ti phũng Qun lý o to tụi
ó a ra mt s bin phỏp c th nh sau:
3.1. Kho sỏt, nghiờn cu k c im tỡnh hỡnh ca lp t ú xõy dng
ni quy, k hoch hot ng ca lp v tin hnh i hi bu ra ban cỏn s lp:
- Ngay sau khi nhn lp GVCN lp phi tỡm hiu, nghiờn cu v c im,
tỡnh hỡnh ca lp mỡnh ph trỏch nh: tui trung bỡnh ca lp (hc viờn nhiu
tui nht, hc viờn ớt tui nht, trỡnh hc vn, trỡnh chuyờn mụn, chc v
cụng tỏc ó qua ca hc viờn ) qua ú lm cn c quan trng GVCN lp xõy
dng k hoch, a ra cỏc bin phỏp qun lý sao cho phự hp vi tỡnh hỡnh ca lp.
- Cn c vo c im tỡnh hỡnh ca lp, ca n v ch trỡ o to GVCN lp
phi xõy dng k hoch chi tit cho c k hc, khúa hc v bn k hoch ny phi
c xõy dng trờn c s a ra bn bc tht s dõn ch trong tp th lp, trong i

12
hội lớp có nhƣ vậy bản kế hoạch mới đảm bảo tính khả thi và tính hiệu quả
- Trong kỳ học đầu tiên phải tiến hành đại hội lớp, tham mƣu cho lãnh đạo
đơn vị hoặc đơn vị chủ trì đào tạo bầu chọn ban cán sự lớp (có thể gồm từ 3 đến 5
ngƣời) việc bầu chọn, cử ban cán sự lớp phải đƣợc tiến hành hết sức công khai, dân
chủ đảm bảo chọn đƣợc một bộ máy ban cán sự lớp có tinh thầm trách nhiệm cao,
nhiệt tình trong công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ khi đƣợc giao.

dung quan trọng đó là phải cho học viên đăng ký chữ ký gốc (chữ ký này sử dụng
trong toàn bộ khóa học khi có liên quan đến việc học tập và thi, kiểm tra học phần) và
phải ghi tên mình bằng chữ thƣờng (không đƣợc viết chữ in hoa). Toàn bộ bản cam
kết phải viết tay nộp bản gốc trên khổ giấy A4 không đƣợc đánh máy. Nếu chúng ta
làm đƣợc nhƣ vậy thì đây là căn cứ, là cơ sở quan trọng để xét điều kiện thi học phần
và hạn chế đƣợc mức thấp nhất những học viên không đi học nhƣ ngƣời học hộ.
- Tiến hành chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ (từ 3 dến 5 nhóm tùy theo số
lƣợng học viên). Các nhóm sau khi đƣợc chia, mỗi nhóm phải thành lập một nhóm
trƣởng và từng thành viên trong nhóm đƣợc cố định chỗ ngồi trong lớp (vị trí này
đƣợc cố định trong cả khóa học hoặc nếu cần thiết mới thay đổi). Toàn bộ sơ đồ
ngồi trong lớp đƣợc thông báo cho: Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên giảng dạy, trợ
lý phòng và đƣợc miên yết tại lớp học.
- Từng môn học có một sổ điểm danh riêng (phần phụ lục) sổ điểm danh này
do học viên tự ghi họ tên và ký vào sổ điểm danh (ghi đúng nhƣ mẫu đã đăng ký từ
đầu năm học, khóa học). Sổ điểm danh nay học viên tự chuyển cho nhau để điểm
danh, cán sự lớp chỉ theo dõi chốt số lƣợng học viên đi học vào cuối mỗi buổi, mỗi
ngày học tùy theo yêu cầu. Sau khi kết thúc môn học GVCN lớp cùng với ban cán
sự và giáo viên giảng dạy thống nhất và ký vào danh sách những học viên đủ điều
kiện dự thi học phần môn đã học.
- GVCN lớp, ban cán sự lớp hoặc giảng viên có thể dễ dàng điểm danh qua

14
sơ đồ lớp học vào bất kỳ thời điểm nào trong khi đang học tập mà không cần phải
dựng việc học tập của lớp.
3.4. Xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tạo môi trường thân thiện, gần gũi
giữa các lớp trong Trung tâm với nhau tạo nên một sức mạnh tổng hợp thực
hiện hiệu hiệu quả nhiệm vụ được giao.
Hàng năm tại Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa có trên 30 lớp liên kết
đào tạo học tập, nếu giáo viên chủ nhiệm các lớp tập hợp đƣợc sức mạnh tổng
hợp của các lớp, giáo viên chủ nhiệm là cầu nối, là sợi dây gắn kết để các lớp

tốt. Phần lớn học viên cuối mỗi môn học đều đƣợc xét đủ điều kiện tham
dự thi học phần và số lƣợng học viên không đi học chuyên cần nhƣ ngƣời
học hộ, điểm danh hộ đã giảm đáng kể hầu nhƣ các đối tƣợng học hộ,
điểm danh hộ không còn tồn tại trong các lớp liên kết đào tạo tại Trung
tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Do thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp nên các phong trào, các công
việc của lớp thực hiện đảm bảo nhịp nhàng và hiệu quả cao, nhƣ công tác thu nộp
học phí đƣợc thực hiện đúng tiến độ về thời gian và mức thu của các trƣờng Trung
ƣơng, không còn tình trạng học viên nợ đọng học phí kéo dài, phong trào xây dựng
quỹ khuyến học của các lớp đã đƣợc thực hiện có hiệu quả.
4.3.Mối quan hệ giữa tập thể lớp với Trung tâm GDTX tỉnh và trƣờng chủ trì
đào tạo đƣợc thƣờng xuyên, liên tục, đảm bảo đúng theo quy định. Công tác đón
tiếp cán bộ, giáo viên vào giảng dạy và công tác tại Trung tâm đƣợc đảm bảo “ Vùi
lòng khách đến, vừa lòng khách đi” và điều này đã tạo đƣợc ấn tƣợng tốt đẹp của
các trƣờng Đại học, Học viện đối với tỉnh Thanh Hóa nói chung và với Trung tâm
GDTX tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
4.4. Nhờ làm tốt công tác chủ nhiệm, điều hành các lớp chính vì vậy đã thực

16
hiện thành công cuộc vận động xã hội hóa XDCSCV cho Trung tâm cụ thể đó là
trong năm học 2012-2013 các lớp đã lƣu niện bằng hiện vật tại phòng học trí giá
gần 200 triệu đồng.
4.5. Sự đấu mối hài hòa giữa lớp, Giáo viên chủ nhiệm với các trƣờng liên
kết về xây dựng, điều chỉnh kế hoạch dạy học trong những năm qua đã có nhiều
thay đổi, tiến bộ rõ rệt cụ thể đó là công tác kế hoạch dạy học của các trƣờng với
Trung tâm, với các lớp đã đƣợc thực hiện một cách nhịp nhàng, khoa học, chính
xác theo đúng quy định của các trƣờng.
4.6. Tỷ lệ học viên bỏ học đã giảm nhiều, trong năm học 2012-2013 số lƣợng
học viên bỏ học của các lớp hầu nhƣ không đáng kể (dƣới 5%).
III- Kết luận và đề xuất:

08/7/2010 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc chấn chỉnh hoạt động liên kết đào
tạo. Chỉ thị đã nêu rõ “không tuyển mới công chức, viên chức và chuyển ngạch
công chức, viên chức đối với những học viên là giáo vên và cán bộ QLGD đƣợc
cấp bằng theo phƣơng thức đào tạo từ xa”. Nhƣng do cách thực hiện, vận dụng của
các đơn vị có nhiều khác nhau dẫn đến có nhiều khó khăn cho học viên sau khi học
tập các hệ đào tạo từ xa tốt nghiệp ra trƣờng, đề nghị Sở GD&ĐT, UBND tỉnh
Thanh Hóa cần có một cơ chế thống nhất để sao cho đảm bảo công bằng quyền lợi
của ngƣời học đang công tác, làm việc trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 16 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
ngƣời khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)

Lê Trọng Sơn

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status