Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, thuế đóng vai trò là công cụ quan trọng của Nhà nước
để quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh cũng như phân phối tiêu dùng, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Thuế là nguồn thu chủ yếu trong ngân sách nhà nước, bảo đảm sự tồn tại cho bộ máy chính trị quốc
gia, và là nguồn tài chính không thể thiếu cho các chính sách đầu tư công, phát triển cơ sở vật chất hạ
tầng phục vụ cho các hoạt động kinh tế, và đảm bảo cho đời sống an sinh xã hội.
Có được một hệ thống chính sách thuế phù hợp, đồng bộ, hoàn thiện và luôn theo kịp sự vận
động phát triển của thực tiễn là điều kiện cần thiết và cấp bách. Chính sách thuế không những phải phù
hợp với tình hình và định hướng phát triển của quốc gia, mà còn phải phù hợp với các thông lệ, chuẩn
mực quốc tế, đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng như hiện nay.
Bởi vậy một tất yếu đó là, chính sách thuế của Việt Nam phải không ngừng được cải cách, kiện
toàn, trở thành công cụ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định chính trị, thực hiện công bằng xã hội,
và phân bổ hiệu quả các nguồn lực, vì mục tiêu phát triển bền vững.
Bài tiểu luận “Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam” đưa ra những tìm hiểu cơ bản về thực
trạng cải cách chính sách thuế ở Việt Nam từ trước đến nay và kiến nghị một số giải pháp nhằm cải
cách, nâng cao hiệu quả chính sách thuế ở Việt Nam.
Trang 1
Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật
Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ :
1.1. Khái niệm :
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và tổ chức có nghĩa vụ phải thực hiện đối với
Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính
chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.
1.2. Đặc điểm :
1.2.1. Thuế luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước
Có thể nói, đánh thuế là một đặc quyền của Nhà nước, đặc quyền này được quy định bằng
luật pháp. Chẳng hạn, chương II – CHẾ ĐỘ KINH TẾ, Điều 22 của Hiến Pháp nước ta
c) Thuế đánh vào tài sản. Ví dụ: Thuế nhà đất, thuế trước bạ, …
d) Thuế đánh vào việc sử dụng, khai thác một số tài sản. Ví dụ: Thuế tài nguyên, Thuế
sử dụng đất nông nghiệp, ...
1.4. Vai trò của thuế :
1.4.1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước
− Thuế được xem như là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một
phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước.
− Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền
kinh tế quốc dân. Do đó, thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của một
nền tài chính quốc gia lành mạnh.
1.4.2. Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
− Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống
xã hội. Hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng thông qua sự phân bổ và sử dụng các nguồn
lực. Nó cũng là đòn bẫy kinh tế quan trọng, kích thích hiệu quả sản xuất kinh doanh.
− Tính chất điều tiết thông qua thuế được thể hiện ở việc xây dựng đúng đắn và mối quan
hệ giữa các loại thuế, qua việc xác định hợp lý đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế,
thuế suất, biểu thuế, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế trên cơ sở hạch
toán đầy đủ, chính xác. Ý nghĩa điều tiết của thuế bao gồm hai mặt:
• Khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết làm ăn có hiệu quả
cao.
• Đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn
chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống sa hoa, lãng phí.
− Bên cạnh đó, thuế còn có vai trò hướng dẫn và khuyến khích hợp tác đầu tư nước ngoài,
đẩy mạnh hoạt động XNK đồng thời với việc bảo vệ sản xuất nội bộ.
1.4.3. Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
− Công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa, đòi hỏi mọi người trong xã hội
chỉ có thể thu nhập ngang nhau. Người có thu nhập cao phải đóng thuế cao hơn người
có thu nhập thấp nhưng phải đảm bảo người có thu cao sẽ làm ăn ngày một có hiệu quả
hơn so với người có thu nhập thấp nhằm khuyến khích cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật,
đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn có thu nhập chính đáng.
xây dựng chính sách và tổ chức chỉ đạo, quản lý việc thu các loại thuế xuất nhập cảng, các thứ
thuế gián thu (rượu, muối, thuốc lá điếu...). Cụ thể:
• Ở mỗi kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) có "Sở thuế quan".
• Ở mỗi tỉnh có "Sở chánh thu thuế quan"; dưới sở chánh thu là "Sở tiểu thu" phụ trách các
đồng muối ...
• Ở Hà nội, Đà nẵng, Sài gòn có "Sở tổng thu" tập trung các khoản thu của mỗi kỳ.
• Riêng ở Hải phòng, Đà nẵng, Sài gòn có thanh tra thường trú phụ trách thuế xuất nhập cảng.
(Tổ chức như trên gần giống như tổ chức ngành thương chính thời Pháp thuộc).
Trang 4
Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật
− Ngày 25/3/1946, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 210-TC thành lập Nha Thuế
trực thu Việt Nam (trực thuộc Bộ Tài chính) có nhiệm vụ nghiên cứu, đề nghị thi hành và kiểm
soát các công việc liên quan đến các loại thuế trực thu (thuế điền thổ, thuế thổ trạch, thuế môn
bài, thuế lương bổng, thuế lãi doanh nghiệp, thuế lợi tức tổng hợp). Cụ thể:
• Ở mỗi kỳ có Nha thuế trực thu cấp kỳ;
• Ở mỗi tỉnh có phòng thuế trực thu.
− Ngày 29/5/1946, Theo sắc lệnh 75/SL, cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính thay đổi. Về
thuế có Nha thuế quan và thuế gián thu; Nha thuế trực thu; Nha trước bạ Công sản - Điền thổ
(sau chuyển thành Nha Công sản - Trực thu - Địa chính được gọi là nha Công - Trực - Địa).
Riêng về thuế quan và thuế gián thu, ở mỗi kỳ có Sở thuế quan, ở mỗi tỉnh có Ty Chánh thu; ở
mỗi khu vực có đồng muối hoặc nguồn thu quan trọng có Ty phụ thu. Thuế trực thu và các loại
thu khác có một phòng trong Uỷ ban hành chính phụ trách.
3.2. Sau khi có hệ thống chính sách thuế mới dưới Chính quyền cách mạng (1951-1958) :
− Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ( 2/1951), Chính phủ đã ban hành hệ thống chính sách
thuế mới, chủ yếu là thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp.
− Ngày 14/7/1951, Bộ Tài chính đã ban hành Nghị định số 55/NĐ thành lập Vụ Thuế Nông
nghiệp (trực thuộc Bộ Tài chính) với nhiệm vụ xây dựng và tồ chức chỉ đạo, quản lý thu thuế
nông gnhiệp. Ở các liên khu tỉnh huyện, cơ quan tài chính trực tiếp phụ trách công tác chỉ đạo,
quản lý thu thuế nông nghiệp trên địa bàn.
− Ngày 17/7/1951, Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 63/NĐ thành lập hệ thống tổ chức
doanh và chính sách thuế công thương nghiệp trong khu vực kinh tế tập thể cá thể. Ngành
thuế công thương nghiệp không còn tổ chức theo hệ thống dọc. Ở địa phương, tổ chức thu
quốc doanh và thuế nằm trong cơ quan tài chính.
• Vụ thuế nông gnhiệp được chuyển thành Vụ TÀI VỤ HỢP TÁC XÃ VÀ THUẾ NÔNG
NGHIỆP chuyên trách xây dựng chế độ tài vụ đối với hợp tác xã nông nghiệp và quản lý,
thu thuế nông nghiệp khu vực tập thể cá nhân.
− Ngày 20/3/1974, Theo nghị định số 61/CP của Hội đồng chính phủ ban hành điều lệ về tổ chức
và hoạt động của Bộ tài chính, Vụ thu quốc doanh và thuế cùng với Vụ tài vụ hợp tác xã và thuế
nông nghiệp lại được giải thể để tổ chức:
• CỤC THU QUỐC DOANH: chuyên trách xây dựng chính sách, chế độ quản lý, thu trong
khu vực kinh tế quốc doanh, bảo đảm nguồn thu chủ yếu trong ngân sách nhà nước, các tỉnh
thành phố có các chi cục thu quốc doanh hoạt động sự chỉ đạo của ngành dọc cấp trên.
VỤ THUẾ TẬP THỂ CÁ THỂ: chuyên trách xây dựng chính sách và tổ chức quản lý các loại
thuế đối với khu vực tập thể - cá thể hoạt động công thương nghiệp và thương nghiệp. Ở các địa
phương, các bộ phận chỉ đạo quản lý, thu thuế nằm trong cơ quan tài chính.
3.4. Thời kỳ thống nhất đất nước trước cải càch hệ thống chính sách thuế (1975-1989) :
− Ngày 18/11/1978, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90-CP sửa đổi tổ chức bộ
máy Bộ Tài chính, trong đó có Vụ thuế tập thể - cá thể được tách ra để thành lập 2 vụ thuế mới:
VỤ THUẾ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP và VỤ THUẾ NÔNG NGHIỆP để có điều kiện chỉ đạo,
quản lý, thu thuế cho chuyên ngành đạt hiệu quả hơn.
Trang 6
Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật
− Ngày 11/10/1980, Chính phủ đã ban hành quyết định 120-CP quy định tổ chức ngành thuế công
thương nghiệp thống nhất với nội dung chủ yếu là:
• Ở Trung ương: Có CỤC THUẾ CON (nằm trong Bộ Tài chính) do cục trưởng phụ trách.
• Ở Tỉnh và cấp hành chính tương đương có các chi cục thuế công thương nghiệp (nằm trong
Sở, Ty Tài chính) do một phó giám đốc hoặc phó trưởng Ty Tài chính phụ trách chi cục
trưởng thuế công thương nghiệp.
• Ở huyện và cấp hành chính tương đương, có phòng thuế công thương nghiệp (nằm trong
Ban Tài chính - Giá cả) do một Phó trưởng ban Tài chính giá cả phụ trách trưởng phòng
dân.
− Ngày 15/10/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành quyết định số 155/HĐBT và 156/HĐBT qui
định chức năng nhiệm vụ và tổ chức Bộ Tài chính và kiện toàn bộ máy thu quốc doanh và thuế
trong cơ quan tài chính các cấp với nội dung:
• Ở trung ương có Cục Thu quốc doanh, cục thuế công thương nghiệp, cục thuế nông nghiệp
trực thuộc Bộ Tài chính.
• Ở tỉnh hay đơn vị hành chính tương đương: Có chi cục hoặc phòng thu quốc doanh (phụ
trách cả xí nghiệp trung ương và xí nghiệp địa phương); chi cục thuế công thương nghiệp;
chi cục hoặc phòng thuế nông gnhiệp; trực thuộc Sở tài chính;
• Ở huyện hoặc cấp tương đương: có phòng thuế trực thuộc Ban tài chính - thương nghiệp (cơ
quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân huyện quản lý về tài chính, giá cả, thương nghiệp).
Cán bộ các tổ chức thu quốc doanh, thuế công thương nghiệp do Uỷ ban nhân dân địa
phương quản lý, bố trí sử dụng theo quy định của Bộ Tài chính về chức danh tiêu chuẩn
nghiệp vụ. Trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của chính quyền địa phương đối với bộ
máy thuế quốc doanh, thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp được gắn chặt chẽ với sự
chỉ đạo về mặt chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan thuế quốc doanh và thuế cấp trên.
3.5. Thời gian thành lập ngành thuế nhà nước thống nhất (từ 1990 đến nay) :
− Ngày 7/8/1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 218-HĐBT về việc thành lập
ngành THUẾ NHÀ NƯỚC được hợp nhất từ 3 hệ thống thuế: Thuế quốc doanh; Thuế công -
thương nghiệp; Thuế nông nghiệp.
− Hội đồng quyết định thực hiện sự đổi mới cơ bản về hệ thống tổ chức thống nhất, kiện toàn bộ
máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm các mục tiêu cải cách hệ thống thuế mới với hiệu quả
cao nhất.
− Ngành thuế nhà nước được tổ chức qua 3 cấp: (1) Tổng cục thuế; (2) Cục thuế; (3) Chi cục thuế.
Từng cấp được xác định rõ quyền hạn trách nhiệm và sự phân công cụ thể hợp lý giữa cơ quan
thuế ngành dọc cấp trên và chính quyền từng cấp trong tổ chức lãnh đạo chỉ đạo thực hiện
nghiêm chỉnh chính sách chế độ thuế chung cả nước và trên địa bàn lãnh thổ theo nguyên tắc
song hành lãnh đạo....
Chương II:
THỰC TRẠNG CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH THUẾ Ở VIỆT NAM
• Bộ máy thu thuế phân tán, chưa tạo thành một hệ thống chặt chẽ, thống nhất để chỉ đạo tổ
chức thực hiện các khoản thu.
− Trước những yêu cầu đổi mới của đất nước theo Nghị quyết đại hội Ðảng toàn quốc lần thứ VI
về cơ chế quản lý kinh tế, xã hội, thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mở cửa với
Trang 9
Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật
nước ngoài, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà Nước theo định hướng lên
CNXH đòi hỏi chính sách thuế phải thay đổi phù hợp với kinh tế thị trường có nhiều thành
phần.
1.2. Mục tiêu cải cách giai đoạn 1990 -1995 :
− Mục tiêu, yêu cầu chủ yếu đặt ra cho thuế là phải bao quát hết mọi nguồn thu, để có thể khai
thác động viên, để thuế có thể trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN. Thuế phải có tác dụng
góp phần giải phóng mọi tiềm năng, đảm bảo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, thúc
đẩy việc tổ chức, sắp xếp lại lao động, sản xuất hợp lý, tăng cường hạch toán kinh doanh
XHCN, tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng tích tụ cho cơ sở, tạo điều
kiện nộp thuế được nhiều, góp phần bình đẳng, công bằng xã hội.
− Hệ thống thuế không nên quá phức tạp song cũng phải bao gồm một số sắc thuế nhất định. Mỗi
sắc thuế có chức năng, tác dụng, mục đích khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
tác động qua lại để phát huy tác dụng toàn diện của cả hệ thống thuế.
1.3. Nội dung cải cách giai đoạn 1990 -1995 :
− Trước tình hình thực tiễn của nước ta và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Quốc hội khoá VIII
kỳ họp thứ 6 cuối năm 1989 đã thông cơ cấu hệ thống thuế mới của nước ta gồm 9 sắc thuế:
thuế nông nghiệp, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức, thuế XNK, thuế tài
nguyên, thuế thu nhập, thuế nhà đất, chế độ thu sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cấp.
Thời gian Quốc
Hội thông qua
Thời gian
ban hành
Thời gian có hiệu
lực thi hành
Thông qua bước cải cách này,hệ thống thuế Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản, toàn diện
và sâu sắc. Toàn diện vì hệ thống thuế bao trùm mọi hoạt động kinh doanh và mọi doanh nghiệp
dưới dạng luật mở đường cho tăng cường tính cưỡng chế của thuế; bộ máy hành thu được cải tổ
sâu sắc. Căn bản, cải cách thuế mở ra hướng đi mới trong việc sử dụng thuế làm công cụ quản lí
và điều tiết kinh tế vĩ mô.
• Về mặt kinh tế :
− Qua năm 5 chuyển khai thực hiện chính sách thuế mới, số thu cho NSNN bảo đảm khoản 80
- 90% tổng số thu trong nước, nâng dần tỷ lệ thuế và phí trong GDP từ 12,8% năm 1991 lên
khoản 24% năm 1995. Qua đó bảo đảm về cơ bản yêu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng
của NSNN, góp phần giảm tỷ lệ bội chi NS, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, dành một
phần tích lũy ngày càng tăng cho xây dựng cơ bản.
− TỶ LỆ ĐỘNG VIÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC SO VỚI GDP
ÐVT 1991 1992 1993 1994 1995
GDP Tỷ đồng 76.707 110.535 136.751 170.258 210.000
Tổng thu NSNN/ GDP % 13,8 19,0 23,2 23,8 25,0
Nguồn: Ðề án "Cải cách bước 2 hệ thống chính sách thuế phù hợp với yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2000", Hà nội ngày 24/5/1995.
− Thực tế trong những năm qua cho thấy thuế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tổng
nguồn thu ngân sách nhà nước. Từ khi áp dụng các luật về thuế, mức thu thuế và lệ phí
chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước. Ðiều này thể hiện rõ mục
tiêu của Nhà nước khi xây dựng các luật về thuế " ... động viên một phần thu nhập của
người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước..."
− TỶ TRỌNG THUẾ VÀ LỆ PHÍ TRONG GDP QUA CÁC NĂM
ÐVT 1991 1992 1993 1994 1995
Thuế, lệ phí Tỷ đồng 9.844 18.514 28.623 36.410 52.400
Trang 11
Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật
Thuế, lệ phí/ GDP % 12,8 16,7 21 21,8 24
Thuế/tổng thu NSNN % 92,75 88 90,3 91,8 96,8
Nguồn: Ðề án "Cải cách bước 2 hệ thống chính sách thuế phù hợp với yêu cầu công
Giai đoạn 1996-2000 là giai đoạn thực hiện cải cách thuế trong bối cảnh nền kinh tế phát triển
theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và thế
Trang 12
Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật
giới, tham gia hội nhập quốc tế phải thực hiện bảo hộ có chọn lọc. Các doanh nghiệp hoạt động
trong nền kinh tế đa dạng hoá gồm nhiều loại hình và thuộc nhiều thành phần kinh tế khác
nhau. Hệ thống chính sách thuế qua cải cách bước I vẫn còn những tồn tại nhất định, chưa đáp
ứng được sự phát triển của nền kinh tế.
2.2. Mục tiêu cải cách giai đoạn 1996 -2000
Để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nước, cuộc cải cách hệ thống thuế bước II được thực hiện nhằm khắc phục
những nhược điểm, tồn tại của cải cách hệ thống thuế bước I, phát huy vai trò của công cụ thuế
trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo tỷ
lệ động viên hợp lý cho NSNN, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích tụ vốn để đầu tư,
phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài. Chính sách thuế tiến tới đơn giản, ổn định, công
bằng.
2.3. Nội dung cải cách giai đoạn 1996 – 2000 :
Nghị quyết Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 11 (ngày 10/5/1997) đã ban hành Luật thuế giá trị
gia tăng (GTGT) và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999
thay thế Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức. Năm 1998, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB),
Luật thuế XNK cũng được sửa đổi để bảo đảm sự đồng bộ.
a) Về thuế giá trị gia tăng (GTGT) thay thế thuế doanh thu :
− Thuế GTGT tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu
trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng nên khắc phục được nhược điểm thuế đánh
trùng lắp của thuế doanh thu; thuế được hoàn đối với hàng hoá xuất khẩu sẽ phát huy tốt tác
dụng khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi
trên thị trường quốc tế; thuế GTGT kết hợp với hàng nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với
hàng nhập khẩu, góp phần tích cực bảo vệ hàng sản xuất trong nước; tăng cường hạch toán
kế toán kinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hoá thực hiện tốt chế độ hoá đơn để được
lý sản xuất trong nước theo tinh thần bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện, có thời hạn, phù hợp
với tiến trình hội nhập quốc tế.
d) Về sửa đổi Luật thuế tiêu thụ đặc biệt :
− Mục tiêu khắc phục những tồn tại của thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) hiện hành, bảo đảm yêu
cầu động viên hợp lý cho NSNN.
− Nội dung chủ yếu trong Luật thuế TTĐB mới là: Điều chỉnh các thuế suất đối với thuốc lá
điếu xì gà (từ 32%, 52% và 70% xuống còn 25%, 45% và 65%); đối với rượu từ 75% và
90% xuống còn 55% và 70% (riêng rượu cồn etylic thuộc diện nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với
thuế suất 90% được chuyển sang diện nộp thuế giá trị gia tăng với thuế suất 10%); đối với
bia từ 75% và 90% xuống còn 50%,. 65% và 75%.
− Chuyển các loại pháo không có tiếng nổ từ diện đánh thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế suất 100%)
sang diện đánh thuế giá trị gia tăng (10%);
Trang 14