Thực trạng hệ thống thuế & các kiến nghị cải cách hệ thống thuế ở Việt Nam
1. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG THUẾ Ở VIỆT NAM
1.1 Cơ cấu hệ thống thuế ở Việt Nam
Các sắc thuế hiện hành ở Việt Nam
Stt Sắc thuế Ngày ban hành Hiệu lực từ ngày
1 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 10.7.1993 1.1.1994
2 Thuế nhà, đất 19.5.1994 1.1.1995
3 Thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao
23.07.2004 01.07.2004
4 Thuế chuyển quyền sử dụng
đất
22.6.1994 1.7.1994
5 Thuế tài nguyên 16.4.1998 1.6.1998
6 Thuế giá trị gia tăng 09.04.2007 04.06.2007
7 Thuế thu nhập doanh nghiệp 14.02.2007 01.01.2007
8 Thuế tiêu thụ đặc biệt 29.11.2005 01.01.2006
9 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 15.12.2005 01.01.2006
2000 2002 2003 2004 2005 2006
TỔNG THU 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Thu trong nước (Không kể thu từ
dầu thô) 50.95 51.29 51.67 54.77 52.49 52.03
Thu từ doanh nghiệp Nhà nước 21.7 20.24 18.88 16.85 17.12 16.58
Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài 5.22 5.87 6.53 7.91 8.36 9.25
Thu từ khu vực công, thương
nghiệp, dịch vụ ngoài quốc
doanh 6.39 6.27 6.8 6.95 7.42 7.9
Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1.96 0.62 0.1 0.07 0.06 0.04
Thuế thu nhập đối với người có
như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn, mỗi cá nhân dù có thu nhập từ
các nguồn khác nhau đều được điều chỉnh thống nhất trong một chính sách thuế; người có thu
nhập thấp chưa phải nộp thuế.
Ngoài ra, đối tượng nộp thuế có bổ sung thêm cá nhân có thu nhập chịu thuế từ đầu tư
vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ thừa kế, quà tặng.
Thu nhập chịu thuế được mở rộng đối với các khoản như: thu nhập từ đầu tư vốn; thu
nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản trong đó có chuyển nhượng quyền sở
hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất ở; chuyển nhượng quyền thuê đất, thuế mặt nước; một số
khoản thu nhập từ thừa kế, quà tặng; thu nhập từ trúng thưởng trong các hình thức cá cược,
casino.
Thuế xuất, nhập khẩu và thuế GTGT
Chính sách thuế đã góp phần khuyến khích xuất khẩu. Hàng hóa xuất khẩu không phải chịu thuế
giá trị gia tăng, đồng thời được hoàn lại toàn bộ số thuế giá trị gia tăng đã nộp ở đầu vào.
Thuế sử dụng đất nông nghiệp (thuế SDĐNN)
Trang2/17
Thực trạng hệ thống thuế & các kiến nghị cải cách hệ thống thuế ở Việt Nam
Nghị quyết của Quốc hội về miễn, giảm thuế SDĐNN từ năm 2003 đến năm 2010 là một
chủ trương lớn được đa số cử tri cả nước tán thành. Thực sự, với người nông dân mức sống của
họ thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của cả nước. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về
miễn, giảm thuế SDĐNN lần này là Nhà nước đầu tư trực tiếp phần thuế cho hộ nông dân nhằm
giúp họ có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất, ổn định cuộc sống.
Ngoài ra, việc miễn giảm thuế cho họ còn mang một ý nghĩa xã hội rất lớn, góp phần đẩy
nhanh tốc độ xóa đói giảm nghèo, nâng cao phần nào đời sống nông thôn, hạn chế tốc độ phân
cấp giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn hiện nay.
Mặt khác, số thuế từ SDĐNN chiếm tỷ trọng không lớn so với tổng thu ngân sách và
Chính phủ cũng đã có lộ trình điều chỉnh, giảm dần từ vài năm trước, nên không ảnh hưởng gì
lớn đến việc cân đối ngân sách của các địa phương.
Theo nội dung của Nghị quyết, các đối tượng được miễn thuế SDĐNN bao gồm:
− Hộ nông dân sử dụng diện tích trong hạn mức quy định tại Luật Đất đai, kể cả hộ nông dân
đó được cho, tặng, thừa kế, nhận chuyển nhượng đất để sản xuất nông nghiệp, mà tổng diện
chuyển sang đối tượng chịu thuế nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế GTGT và tạo thuận lợi
hơn cho cơ sở sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó cũng cần bổ sung cụ thể hoá các dịch vụ tài
chính mới chưa được quy định trong Luật, như: dịch vụ hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp
đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại tệ,...(gọi chung là các dịch vụ tài chính phái sinh) và
các giao dịch chuyển nhượng vốn để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình thực hiện và phù
hợp với thông lệ quốc tế.
Hai là, về thuế suất thuế GTGT
Năm 1997, khi ban hành Luật thuế GTGT, ngoài thuế suất 0%, còn có 3 mức thuế suất:
5%, 10 % và 20%. Từ ngày 1 tháng 4 năm 2004; áp dụng Luật sửa đổi bổ sung: bỏ thuế suất
20%, chỉ còn 2 thuế 5% và 10%. Trong đó 5 % là mức thuế suất ưu đãi, được áp dụng đối với
hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ nhu cầu thiết yếu của
người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, trước những khó khăn của nền kinh tế, diện áp
dụng mức thuế suất 5% cũng được mở rộng và chưa theo đúng nguyên tắc nêu trên. Từ đó dẫn
đến doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh một số hàng hoá, dịch vụ ở mức thuế suất này không
những không phải nộp thuế mà còn được hoàn thuế từ ngân sách Nhà nước, do đó, cần thiết rà
soát lại diện áp dụng mức thuế suất 5% để phù hợp với thực tiễn.
Mặt khác, tiêu chí phân định ranh giới áp dụng mức thuế suất 5% và 10% chưa rõ ràng:
vừa theo tên hàng hoá, dịch vụ, vừa theo công dụng hàng hoá, dịch vụ, vừa theo tính chất của
hàng hoá, dịch vụ, dẫn đến việc áp dụng mức thuế suất không thống nhất, nảy sinh vướng mắc
trong quá trình thực hiện.
Ví dụ: sản phẩm cơ khí tiêu dùng áp dụng mức thuế suất 10%, sản phẩm cơ khí là tư liệu
sản xuất áp dụng mức thuế suất 5%, trên thực tế có những sản phẩm cơ khí không thể phân định
được rõ ràng là dùng cho tiêu dùng hay dùng cho sản xuất.
Ba là, về điều kiện được khấu trừ, được hoàn thuế
Luật thuế GTGT hiện hành quy định căn cứ khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào là hoá đơn
GTGT mua hàng hoá, dịch vụ. Thực tiễn quản lý thuế thời gian qua cho thấy quy định nêu trên
chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, dễ bị lợi dụng khấu trừ khống hoặc hoàn thuế khống thông qua việc
sử dụng hoá đơn ghi chép không trung thực với thực tế giao dịch và các loại hoá đơn bất hợp
pháp khác để gian lận trong khấu trừ, làm giảm số thuế GTGT phải nộp hoặc tăng số thuế
GTGT được hoàn khống rút tiền ngân sách, gây bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối
giá nhập khẩu mà người mua phải thanh toán cho người bán
Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế chuyển quyền sử dụng đất là 4% đối với đất ở, đất xây dựng công trình và 2% đối
với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối Thuế chuyển quyền sử
dụng đất hiện nay quy định là quá cao, khiến người dân chấp nhận mua bán trao tay, không qua
đăng ký, làm cho Nhà nước thất thu thuế và không quản lý được việc sử dụng nhà đất.
Ví dụ: một hộ gia đình mua 1 ngôi nhà có diện tích đất 50 m2, với giá trung bình hiện nay
ở Hà Nội khoảng 30 triệu đồng/m2, chủ nhân phải đóng thuế CQSDĐ là 60 triệu đồng.
Trong thực tế hiện nay, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với nhau, đa
số là thông qua hợp đồng chuyển nhượng được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận, hình thức
trao tiền qua tay mà không hề sử dụng đến tờ hóa đơn, nên đã xảy ra trường hợp là giá đất
chuyển nhượng thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá đất
mà UBND tỉnh quy định tại thời điểm trước bạ. Do vậy, trong trường hợp này thì cơ quan thuế
tính thu theo giá thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay là giá UBND
tỉnh quy định.
Trang5/17
Thực trạng hệ thống thuế & các kiến nghị cải cách hệ thống thuế ở Việt Nam
Từ thực tế này dẫn đến việc gia tăng và tồn tại chủ yếu hoạt động mua bán “trao tay” hoặc
lập hai hợp đồng mua bán, trong đó có một hợp đồng giả giảm giá bán để trốn thuế. Còn đối với
khu vực đất nông thôn lại diễn ra tình trạng mua bán bằng giấy viết tay, không qua giao dịch để
tránh nộp thuế.
Chính sách ban hành hiện nay chưa nhất quán, cùng một thời điểm thu như nhau, cùng
một diện tích đất, vị trí đất cũng như nhau mà căn cứ để tính thu khác nhau là không phù hợp
với thực tế.
Ví dụ: Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có sử dụng hóa đơn, giá thực tế ghi
trên hóa đơn cao hơn giá UBND tỉnh quy định, thì tính lệ phí trước bạ là giá ghi trên hóa đơn,
còn người chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất theo giá
đất UBND tỉnh quy định.
Thuế chuyển quyền sử dụng đất mang tính “cào bằng”, bất kỳ trường hợp sang nhượng
nào, dù có thu lợi nhuận hay không cũng đều phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất.