Thực trạng vốn kinh doanh và các giải pháp tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Châu Thành - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
CHƯƠNG I
VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TẠO VỐN KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VỐN KINH DOANH
1. Khái niệm về vốn kinh doanh
Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp nào cũng cần phải có
vốn. Vốn là điều kiện cần thiết, cơ bản với mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh.
Vậy vốn kinh doanh là gì?
Đó là lượng tiền vốn nhất định cần thiết ban đầu nhằm đảm bảo cho các yếu
tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh (mua sắm nguyên vật liệu, trang bị tài
sản cố định, trả tiền công cho người lao động …). Vốn kinh doanh của doanh
nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được
đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Trong nền kinh tế thị trường, vốn
kinh doanh còn được coi là một qũy tiền tệ đặc biệt không thể thiếu của doanh
nghiệp.
Tiền được gọi là vốn khi nó thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Một là, tiền đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định hay nói cách khác
tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực.
- Hai là, tiền phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định, đủ để tiến
hành kinh doanh.
- Ba là, tiền phải được vận động bằng mục đích sinh lời.
Từ cách định nghĩa này có thể thấy điều kiện 1,2 được coi là điều kiện ràng
buộc để trở thành vốn, điều kiện 3 được coi là đặc trưng cơ bản nhất của vốn.Thử
hình dung chúng ta có tiền nhưng lượng tiền lớn đó chỉ nằm một chỗ, không vận
động quay vòng thì đó chỉ là những đồng tiền "chết". Theo Mác thì "tiền không tự
đẻ ra tiền".
Một lượng tiền nhất định trở thành vốn chỉ khi nó được vận động và nhằm
mục đích sinh lời, tức là cho vay phải có lãi. Các Mác đã khái quát hoá phạm trù
1

vốn vô chủ. Cũng cần phân biệt quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn.Tùy theo hình
2
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể đồng nhất với người sử dụng vốn hoặc
người sở hữu vốn được tách khỏi người sử dụng vốn.
- Vốn phải được quan niệm là hàng hoá đặc biệt: những người dư thừa vốn
có thể đầu tư vốn vào thị trường. Những người cần vốn tới thị trường vay nghĩa là
được sử dụng vốn của người chủ nợ. Quyền sở hữu vốn không di chuyển nhưng
quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự vay nợ. Người vay được quyền sử
dụng trong một thời gian nhất định, phải trả cho một khoản chi phí nhất định cho
chủ sở hữu đó là lãi vay.
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn được
biểu hiện bằng những tài sản vô hình như: bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết
công nghệ, thương hiệu..... Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự
tiến bộ của khoa học công nghệ, những tài sản vô hình ngày càng giữ vai trò quan
trọng, tạo khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
4. Phân loại vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp thường được chia thành nhiều phần
khác nhau tuỳ theo mục đích và tính chất sử dụng vốn.
4.1. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn
Vốn kinh doanh được chia thành 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động
4.1.1. Vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng ra hình
thành TSCĐ của doanh nghiệp. Là một khoản đầu tư ứng trước để mua sắm TSCĐ
có hình thái vật chất và TSCĐ không có hình thái vật chất nên quy mô của vốn cố
định sẽ quyết định đến quy mô TSCĐ. Song đặc điểm vận động của TSCĐ lại
quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định. Từ mối quan
hệ đó ta có thể khái quát sự vận động của vốn cố định trong sản xuất kinh doanh
như sau:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, có đặc điểm này là do

nâng cao hiệu suất sử dụng vốn lưu động, sử dụng vốn tiết kiệm nhằm bảo toàn và
phát triển vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
4.2. Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn
Nếu căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn người ta chia vốn kinh doanh
thành hai loại: vốn bằng tiền và vốn hiện vật
4
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
4.2.1. Vốn bằng tiền
Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, vốn
trong thanh toán và các khoản đầu tư ngắn hạn. Ngoài ra vốn bằng tiền của doanh
nghiệp còn bao gồm cả những giấy tờ có giá trị để thanh toán.
4.2.2. Vốn hiện vật
Là các khoản vốn có hình thái biểu hiện cụ thể bằng hiện vật như tài sản cố
định, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá.
5. Nguồn vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp thường được hình thành từ các nguồn
khác nhau tuỳ thuộc vào loại hình, điều kiện và mục đích kinh doanh của từng
doanh nghiệp. Dựa vào những tiêu thức nhất định có thể chia nguồn vốn của doanh
nghiệp thành nhiều loại, ở đây chúng ta đi nghiên cứu một số phương pháp phân
loại chủ yếu sau:
5.1. Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn
Theo cách phân loại này nguồn vốn kinh doanh có thể chia thành 2 loại: Vốn
chủ sở hữu và nợ phải trả
5.1.1. Vốn chủ sở hữu:
Bao gồm vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau
thuế và từ các quỹ của doanh nghiệp; vốn tài trợ của Nhà nước (nếu có).
5.1.2. Nợ phải trả
Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải có
trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như tiền vay ngân hàng và
các tổ chức khác, tiền vay từ phát hành trái phiếu, các khoản phải nộp cho ngân

kinh doanh khác,phát hành trái phiếu nợ người cung cấp và các khoản nợ khác.
Cách phân loại này chủ yếu giúp cho việc xem xét huy động nguồn vốn cho
doanh nghiệp đang hoạt động. Doanh nghiệp cần chủ động tích cực huy động vốn,
duy trì nguồn vốn cũ, tìm kiếm thêm nguồn vốn mới, có biện pháp hữu hiệu để
khai thác được các lợi thế từ bên ngoài và tận dụng khả năng sẵn có.
II. SỰ CẦN THIẾT VÀ CÁC HÌNH THỨC CHỦ YẾU TẠO VỐN KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP +-
1. Sự cần thiết phải tạo vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một lượng
vốn nhất định đủ lớn như là một tiền đề quyết định cho sự tồn tại và phát triển của
6
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
doanh nghiệp. Không có vốn sẽ không có bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh
nào. Sự cạnh tranh trên thị trường và sự tiến bộ trong khoa học công nghệ là những
nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp phải có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp,
hợp thị hiếu người tiêu dùng và giá cả phải chăng so với doanh nghiệp khác trên
thị trường. Trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển chỉ bằng cách là
không ngừng tự cải tiến và hoàn thiện mình.Doanh nghiệp rất cần có vốn để thực
hiện mục tiêu đề ra.
Tuy nhiên, để đi đến quyết định đầu tư, doanh nghiệp không thể không tính
đến khả năng tài chính. Mỗi doanh nghiệp chỉ có nguồn tài chính đầu tư có giới
hạn nhất định, bao gồm vốn tự có và vốn có khả năng huy động. Doanh nghiệp
không thể quyết định đầu tư những dự án vượt quá khả năng tài chính của mình.
Do vậy, các nguồn vốn riêng lẻ nhàn rỗi trên thị trường đã được tập trung lại để
hình thành một thế lực tiền vốn nhằm tạo điều kiện cho lĩnh vực hoạt động sản
xuất kinh doanh lớn; tập trung đầu tư chiều sâu.
Trong nền kinh tế thị trường, các khoản bao cấp về vốn qua cấp phát của
ngân sách Nhà nước không còn nữa. Các doanh nghiệp phải tự trang trải mọi chi
phí và dảm bảo kinh doanh có lãi, phải tổ chức và sử dụng đồng vốn có hiệu quả.

được để lại là số lợi nhuận còn lại sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho
Nhà nước. Phần lợi nhuận để lại này được doanh nghiệp sử dụng vào để bù đắp và
bảo toàn vốn trích lập các quỹ: Quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng thất nghiệp,
quỹ đầu tư phát triển… Phần lợi nhuận để lại được trích cho quỹ đầu tư phát triển
là một nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp có thể huy động để phục vụ cho các
mục tiêu phát triển của mình.
- Nguồn thứ hai: Quỹ khấu hao cơ bản
Giá trị hao mòn được tính chuyển vào giá trị sản phẩm được tiêu thụ, số tiền
này được trích lại và tích luỹ thành quỹ khấu hao tài sản cố định. Quỹ này phục vụ
cho mục đích tái sản xuất giản đơn tài sản cố định của doanh nghiệp, được gọi là
quỹ khấu hao cơ bản.
- Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể khai thác nguồn vốn do thanh lý,
nhượng bán tài sản cố định. Số tài sản đã bị hư hỏng nhiều không sử dụng được
chờ thanh lý và tài sản cố định không sử dụng đến không những không góp phần
vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn gây khó khăn thêm như: bảo
quản, sửa chữa, làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp.
Ý thức được vấn đề này, việc thanh lý chuyển nhượng các tài sản cố định
chưa cần dùng và không cần dùng cũng tháo gỡ phần nào khó khăn nhằm tăng
nguồn vốn cho doanh nghiệp.
Trong việc huy động vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đáp ứng nhu
cầu về đầu tư thì nguồn vốn bên trong (nguồn nội lực) là vô cùng quan trọng. Nó
8
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại của các doanh nghiệp. Khi sử dụng nó doanh
nghiệp sẽ không phải bỏ ra chi phí sử dụng vốn như đối với các nguồn vốn vay.
2.2.2. Nguồn vốn bên ngoài:
Bao gồm nhiều nguồn khác nhau:
* Vay dài hạn ngân hàng: đây là nguồn vốn quan trọng trong việc đầu tư của
doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp đi vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng, doanh

* Thuê tài chính: Trong hoạt động kinh doanh thuê tài chính là một phương
thức giúp cho các doanh nghiệp nếu thiếu vốn có thể huy động bình thường. Thuê
tài chính hay còn được gọi là thuê vốn, là một phương thức tín dụng trung và dài
hạn. Theo phương thức này, người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu
cầu của người thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã được thoả thuận
và không được cắt ngang hợp đồng. Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê được
chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo thoả thuận trong
hợp đồng thuê.
* Huy động vay vốn người lao động trong doanh nghiệp
Muốn có một đội ngũ cán bộ CNV gắn bó lâu dài với doanh nghiệp tất nhiên
sẽ có nhiều biện pháp song một công cụ rất quan trọng vừa làm tăng sức mạnh của
doanh nghiệp vừa tạo khả năng gắn kết chặt chẽ của người lao động với doanh
nghiệp đó là việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong cán bộ công nhân viên và
người lao động trong doanh nghiệp.
3. Vai trò của tài chính trong việc tạo vốn kinh doanh ở các doanh nghiệp
Vốn theo khái niệm rộng không chỉ là tiền tệ mà còn là các nguồn lực, tài
nguyên lao động, đất đai và trí tuệ, vốn trở thành yếu tố quan trọng trong nền kinh
tế và trong sản xuất. Vì thế để tổ chức và sử dụng vốn có hiệu quả cũng như việc
làm thế nào để tạo vốn cho doanh nghiệp là điều hết sức quan trọng. Tài chính đóng
vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như:
* Huy động đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp
Vai trò tài chính trong doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng
đắn các nhu cầu cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, và
tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn
bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh
nghiệp. Do vậy, vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng
trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm
bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động là thấp
nhất.

02/01/1993 do Chủ tịch UBND tỉnh Nam Hà ký. Xí nghiệp được Nhà nước đầu tư
xây dựng mới dây chuyền sản xuất gạch đất sét nung chất lượng cao công suất 20
triệu viên/năm bằng nguồn vốn ngân sách tại quyết định số 1645 QĐUB ngày
30/09/1996 của UBND tỉnh Nam Định. Tháng 06/1997 nhà máy gạch Tuynel Châu
Thành được thành lập và đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh tại thông tư số
436 CT/CĐKT ngày 27/01/1998.
Thực hiện chỉ thị số 20/1998/CT-TTg của Chính phủ ngày 21/4/1998 về đẩy
mạnh, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, nhà máy gạch Tuynel Châu
Thành lại đổi tên thành Công ty sản xuất vật liệu xây dựng Châu Thành.
Thực hiện nghị định của Nhà nước số 103/1999/NĐ-CP ngày 10/09/1999
của Chính phủ về giao bán, khoán kinh doanh, cho thuê Doanh nghiệp Nhà nước
và theo quyết định số 1735/2003/QĐUB ngày 30/6/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh
Nam Định về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần, Công ty
sản xuất vật liệu xây dựng Châu Thành được cổ phần hoá.
Căn cứ theo quyết định số 100/2003/QĐ ngày 19/12/2003 của UBND tỉnh
Nam Định về việc đổi tên công ty sản xuất vật liệu xây dựng Châu Thành thành
Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Châu Thành có giấy phép kinh doanh số
0703000320 ngày 24/12/2003 do Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Nam Định cấp.
- Tên gọi đầy đủ: Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Châu Thành
- Địa chỉ trụ sở chính: Km 7 - Quốc lộ 21B, Cầu Vòi, xã Hồng Quang -
huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định.
12
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
- Điện thoại: 0350.829.614 - Fax: 0350.829.499
- Tài khoản: 4801000000193-2 tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Nam Định.
- Ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất kinh doanh gạch đất sét nung
bằng công nghệ Tuynel phục vụ cho ngành xây dựng và nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Châu Thành có tư cách pháp nhân theo
pháp luật Việt Nam; thực hiện chế độ hạch toán độc lập. Tổ chức và hoạt động theo
luật Doanh nghiệp và điều lệ của Công ty cổ phần đã được Đại Hội Cổ Đông thông qua.

được nhu cầu tiêu dùng cho ngành xây dựng. Công ty với dây chuyền công nghệ
hiện đại liên hoàn đã nhanh chóng nâng công suất từ 20 triệu viên/năm lên 30 triệu,
35 triệu và đến năm 2005 là trên 40 triệu viên/năm.
(Phụ lục 2: Quy trình công nghệ sản xuất gạch tuynel)
- Khu vực sản xuất:
+ Bộ phận tạo hình sản phẩm
+ Bộ phận phơi, kiêu đảo, vận chuyển gạch mộc nhập kho
+ Bộ phận xếp goòng
+ Bộ phận vận hành hầm sấy - lò nung, nung đốt sản phẩm
+ Bộ phận phân loại sản phẩm, nhập kho.
+ Bộ phận cơ điện, máy ủi, nghiền than, sửa chữa goòng.
Để tiện cho việc tính toán các chỉ tiêu các loại sản phẩm gạch của Công ty
được quy thành gạch viên tiêu chuẩn 2 lỗ, đơn vị tính là 1000 viên tiêu chuẩn.
2.3. Bộ máy kế toán của Công ty: gồm 09 người (phụ lục 03)
- Công ty đang áp dụng hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống báo cáo tài
chính ban hành theo quyết định 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài
chính, có sửa đổi bổ sung theo Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002.Từ
tháng 4/2006 Công ty áp dụng hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo quyết định
số 15 ngày 20/03/2005 của Bộ Tài Chính, các chứng từ áp dụng đều tuân thủ theo
đúng quy định của Nhà nước, được lập theo mẫu in sẵn của Bộ Tài chính đã phát
hành hoặc Công ty xây dựng theo đăc thù sản xuất kinh doanh của Công ty. Niên
độ kế toán bắt đầu từ ngày 01/01 năm N và kết thúc vào ngày 31/12 năm N.
- Do Công ty có quy mô vừa phải, hoạt động sản xuất kinh doanh không
phức tạp, hạch toán kinh tế độc lập nên bộ máy kế toán được tổ chức theo hình
thức kế toán tập trung. Toàn bộ công tác kế toán được thực hiện tại phòng kế toán
từ khâu ghi chép ban đầu đến khâu tổng hợp lập báo cáo và kiểm tra kế toán.
Nguyên tắc dánh giá hàng tồn kho: Theo giá mua thực tế.
14
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Theo phương pháp kê khai thường xuyên.

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
nước và giá nhập khẩu xăng dầu. Chi phí nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng công cụ
trực tiếp cho sản xuất chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí sản xuất.
- Công ty đang gặp phải những khó khăn về vốn đầu tư cho công nghệ mới,
cơ sở hạ tầng cũng cần được nâng cấp nhưng vốn vay ngân hàng lãi suất không
được ưu đãi.
- Về nguyên vật liệu chính là đất sét bồi tụ đã có quy hoạch song đường vận
chuyển không thuận lợi do quy định của Cục đê điều vào mùa lũ từ tháng 8 năm
trước đến tháng 2 năm sau không được phép vận chuyển trên đê.
Đồng hành với những khó khăn ấy là những tồn tại mà công ty cần phải khắc
phục như vấn đề sử dụng lao động chưa hợp lý trong dây chuyền sản xuất, việc sử
dụng nguyên liệu chưa tốt làm cho sản phẩm mộc hư hỏng nhiều dẫn đến lãng phí
than, điện trong quy trình sản xuất sản phẩm, công tác tiếp thị chưa hoàn thiện làm
ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm.
II. THỰC TRẠNG VỀ VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY
DỰNG CHÂU THÀNH NĂM 2004-2005
1. Vốn và nguồn vốn kinh doanh của Công ty
1.1. Vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Châu Thành
Ngay từ khi mới hoạt động theo thông tư số 436CT/CĐKT ngày 27/01/1998
để tăng khả năng cạnh tranh đối với các sản phẩm của các doanh nghiệp khác trong
và ngoài tỉnh cũng như tạo uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng… Công ty
đã không ngừng đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm… Vì
thế quy mô vốn kinh doanh của công ty cũng không ngừng tăng lên. Năm 2003,
tổng số vốn kinh doanh của công ty là 126.308.410 (nghìn đồng). Nhưng đến năm
2004 tổng số vốn kinh doanh của công ty đã lên tới 172.770.118 (nghìn đồng). Tuy
nhiên, đến năm 2005 vốn kinh doanh của Công ty có giảm so với năm 2004. Để
thấy được điều này ta xem xét bảng 1.
Bảng 01: Vốn kinh doanh trong năm 2004 - 2005
Đơn vị: nghìn đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005

(%)
Số tiền
Tỷ lệ
(%)
STĐ
Tỷ lệ
(%)
Vốn lưu động 66.808.793 38,67 70.783.026 44,96 +3.974.223 5,95
Vốn cố định 105.961.325 61,33 86.644.226 55,04 -19.317.099 -18,23
Cộng 172.770.118 100 157.427.25
2
100 -15.342.866 -8,88
Qua bảng 02 ta nhận thấy trong năm 2004 tỷ trọng vốn lưu động chiếm
38,67% trong tổng số vốn kinh doanh của công ty. Nhưng sang tới năm 2005 tỷ
trọng vốn lưu động tăng lên tới 44,96%. Mức tăng vốn lưu động năm 2005 so với
năm 2004 về số tuyệt dối là 3.974.233 (nghìn đồng) tương ứng với tỷ lệ tăng là 5,95%.
17
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
Đối với vốn cố định thì năm 2005 so với năm 2004 lại giảm xuống. Năm
2004 tỷ trọng vốn cố định chiếm trong tổng số vốn kinh doanh của công ty là
61,33% nhưng sang năm 2005 tỷ trọng này chỉ còn ở mức 55,04% với mức giảm
vốn cố định về số tuyệt đối là 19.317.099 (nghìn đồng) tương đương với tỷ lệ giảm
vốn cố định 18,23%. Từ số liệu phân tích ở trên cho thấy mức giảm về vốn cố định
năm 2005 so với năm 2004 lớn hơn rất nhiều so với mức tăng vốn lưu động. Điều
này đã làm cho vốn kinh doanh của công ty giảm, về số tuyệt đối là 15.342.866
(nghìn đồng) tương ứng với tỷ lệ giảm là 8,88%. Với cơ cấu vốn như trên là chưa
được hợp lý, theo kinh nghiệm của một số đối tác trong khu vực, với ngành sản
xuất vật liệu xây dựng ở một số doanh nghiệp thường có cơ cấu vốn tối ưu là mức
vốn cố định chiếm khoảng 80% và vốn lưu động chiếm khoảng 20% trên tổng vốn
kinh doanh. Nhưng đối với Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Châu Thành thì vốn

(nghìn đồng).
- Vốn ngân sách Nhà nước cấp: năm 2004 và năm 2005 đều không thay đổi
và bằng số vốn ngân sách Nhà nước cấp khi thành lập là 11.886.400 (nghìn đồng).
- Vốn tự bổ sung: đây là nguồn cung cấp quan trọng cho nhu cầu vốn kinh
doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này chủ yếu là lợi nhuận để tái đầu tư chiếm
tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của công ty nhưng điều đó đã cho
thấy công ty đã tận dụng một cách triệt để nguồn khai thác từ nội bộ. Từ số liệu
bảng 3 cho thấy tỷ trọng nguồn vốn tự bổ sung trong tổng nguồn vốn kinh doanh
của công ty qua các năm lên từ 0,82% năm 2004 lên 2,34% năm 2005 tỷ lệ tăng là
163,39%.
* Nguồn nợ phải trả: nguồn này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số nguồn
vốn kinh doanh của công ty. Nguồn nợ phải trả bao gồm có nợ ngắn hạn, nợ dài
hạn và các khoản nợ vay ngắn hạn, dài hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Qua
bảng phân tích ta thấy tổng nợ phải trả năm 2004 là 159.483.129 (nghìn đồng)
chiếm tỷ trọng 92,31% trong tổng nguồn vốn, năm 2005 là 141.631.325 (nghìn
đồng) chiếm tỷ trọng 90,11%. Trong năm 2005 so với 2004 tổng nợ phải trả giảm
11,06% tương ứng với số tuyệt đối giảm là 17.631.325 (nghìn đồng).
Trong nợ phải trả thì:
- Đối với vay nợ dài hạn: chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 2004 tổng nợ dài hạn
chiếm 60,18% trong tổng nguồn vốn. Sang năm 2005 công ty không tiến hành vay
thêm mà thực hiện trả bớt một số các khoản nợ dài hạn đến hạn trả làm cho tổng số
nợ dài hạn trong năm 2005 giảm xuống còn 80.907.839 (nghìn đồng) chiếm tỷ trọng
51,39% trong tổng nguồn vốn kinh doanh và giảm so với năm 2004 là 22,18%.
19
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
- Đối với các khoản nợ ngắn hạn: bao gồm các khoản vay ngắn hạn phải trả
cho người bán, thuế và các khoản phải nộp cho ngân sách, phải trả công nhân viên
và các khoản phải trả phải nộp khác. Trong đó vay ngắn hạn chiến tỷ trọng lớn
nhất. Tính đến cuối năm 2004 tổng nợ ngắn hạn của công ty là 50.739.375 (nghìn
đồng) chiếm tỷ trọng 29,16% trong tổng nguồn vốn. Cuối năm 2005 con số này

tổng tài sản của công ty là 177.075,830 (NĐ) nhưng đến ngày 31/12/2005 con số
này giảm xuống còn 157.427.252 (NĐ). Trong khi đó các khoản phải thu, hàng tồn
kho lại tăng lên. Kết quả này cho thấy quy mô sản xuất kinh doanh của công ty từ
năm 2003 đến năm 2005 không những không được mở rộng mà có phần bị thu hẹp
lại. Tuy nhiên việc đánh giá thông qua bảng cân đối kế toán chỉ mang tính tổng
hợp, chưa đánh giá thực chất của vấn đề. Chúng ta cần phải xem xét và đánh giá
thực trạng của công ty thông qua kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty qua các năm (Bảng 5).
Trong nhiều năm qua, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
tăng lên đáng kể với tổng doanh thu đạt được trong năm 2005 tăng so với năm
2004 là 5.059.647 (NĐ) tương ứng với tỷ lệ tăng doanh thu là 2,36%. Kết quả này
có được là do trong năm 2005 công ty đã tăng sản lượng sản phẩm và tiêu thụ tổng
sản lượng sản xuất được trong năm 2004 là 37.384.516 (viên); sang năm 2005 tổng
sản lượng sản xuất được là 41.342.936 (viên) tăng 3.958.420 (viên) so với năm
2004 tương ứng với tỷ lệ tăng là 10,59% . Chi phí quản lý doanh nghiệp trong năm
2005 giảm so với năm 2004 là 394.495 (NĐ) tương ứng với tỷ lệ giảm là 1,53%.
Đây là kết quả đáng khích lệ mà công ty cần phát huy hơn nữa nhằm góp phần tăng
doanh thu, tăng lợi nhuận cho công ty trong những năm tới.
Các khoản giảm trừ trong năm 2005 tăng so với năm 2004. Năm 2004, giá trị
khoản giảm trừ doanh thu là 356.987 (nghìn đồng) và năm 2005 là 389.567 (nghìn
đồng) tăng so với năm 2004 là 32.580 (nghìn đồng) tương ứng với tỷ lệ tăng là
9,12%. Các khoản giảm trừ doanh thu tăng lên cho thấy một lượng hàng đã bị trả
lại do chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Vì vậy, trong thời gian tới công
ty cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Đối với các khoản chi phí bán hàng năm 2005 giảm xuống so với năm 2004.
Năm 2004, chi phí bán hàng là 36.383.515 (NĐ) nhưng tới năm 2005 giảm xuống
21
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
là 35.197.632 (NĐ) giảm 1.185.883 (NĐ) so với năm 2004 tương ứng với tỷ lệ
giảm là 3,26%.

công ty sẽ hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch, tạo đà phát triển cho những
năm tiếp theo.
Để đánh giá một cách chính xác hơn nữa kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty qua các năm, chúng ta cần phải tính toán các chỉ tiêu tài chính
đặc trưng. So sánh các chỉ tiêu đó giữa các năm và với các chỉ tiêu của ngành.
Thông qua bảng 04 và bảng 05 ta có các kết quả tính toán sau:
* Khả năng thanh toán tổng quát =
- Khả năng thanh toán tổng quát 2004 = = 1,08
- Khả năng thanh toán tổng quát 2005 = = 1,11
* Khả năng thanh toán hiện thời =
- Khả năng thanh toán hiện thời 2004 = = 1,33
- Khả năng thanh toán hiện thời 2005 = = 1,29
* Khả năng thanh toán nhanh =
- Khả năng thanh toán nhanh 2004 = = 0,03
- Khả năng thanh toán nhanh 2005 = = 0,01
* Hệ số nợ = x 100%
- Hệ số nợ 2004 = x 100% = 92%
- Hệ số nợ 2005 = x 100% = 90%
* Tỷ suất tự tài trợ = 1 - Hệ số nợ
- Tỷ suất tự tài trợ 2004 = 1-0,92 = 0,08
- Tỷ suất tự tài trợ 2005 = 1 - 0,9 = 0,1
* Tỷ suất đầu tư = x 100%
- Tỷ suất đầu tư 2004 = x 100% = 57%
- Tỷ suất đầu tư năm 2005 = x 100% = 55%
* Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ = x 100%
- Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ 2004 = x 100% = 13%
- Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ 2005 = x 100% = 18%
* Số vòng quay hàng tồn kho =
- Số vòng quay hàng tồn kho 2004 =
58,23

- Vòng quay vốn lưu động 2004 =
34,3
2
793.808.66150.124.61
206.735.213
=
+
- Vòng quay vốn lưu động 2005 =
18,3
2
026.783.70793.808.66
273.762.218
=
+
* Vòng quay toàn bộ vốn =
- Vòng quay toàn bộ vốn 2004 =
22,1
2
118.770.172830.075.177
206.735.213
=
+
- Vòng quay toàn bộ vốn 2005 =
33,1
2
252.427.157118.770.172
273.762.218
=
+
* Doanh lợi doanh thu = x 100%

2
448.575.15989.286.13
233.847.3
=
+
x
Từ kết quả tính toán trên ta có bảng 06 so sánh các chỉ tiêu tài chính đặc
trưng của cổ phần vật liệu xây dựng Châu Thành năm 2004 - 2005.
24
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHQL và KD Hà Nội
Qua số liệu về các chỉ tiêu tài chính đặc trưng ta có một số nhận xét chung
về tình hình tài chính và tình hình sử dụng vốn kinh doanh của công ty như sau :
- Đối với nhóm các chỉ tiêu về khả năng thanh toán ta thấy rằng khả năng
thanh toán tổng quát của công ty trong năm 2005 tăng một chút so với năm 2004.
Nhưng khả năng thanh toán hiện thời và khả năng thanh toán nhanh lại có xu
hướng giảm. Nếu xem xét kỹ ta có thể thấy khi TSLĐ tăng lên kịp thời thì các
khoản nợ ngắn hạn cũng tăng. Điều này chứng tỏ công ty chủ yếu dùng vốn vay
ngắn hạn để đầu tư cho TSLĐ. Việc sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư cho
TSLĐ là rất hợp lý. Tuy nhiên công ty cần phải có kế hoạch cho việc hoàn trả nợ
đúng hạn, phải xây dựng được một cơ cấu vốn hợp lý và cân đối tránh tình trạng
mất khả năng thanh toán.
- Đối với các chỉ tiêu phản ánh kết cấu tài chính cho thấy hệ số nợ của công
ty còn khá cao, mặc dù có xu hướng giảm vào cuối năm 2005. Điều này chứng tỏ
vốn kinh doanh của công ty chủ yếu phụ thuộc vào vốn vay của ngân hàng và các
tổ chức tài chính tín dụng. Đây là một hiện tượng không lành mạnh trong kinh
doanh, rất dễ dàng đưa đến tình trạng mất khả năng thanh toán, hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty bị phụ thuộc và không được chủ động trong việc sử dụng
các nguồn vốn. Tuy nhiên trong điều kiện vốn ngân sách Nhà nước cấp còn hạn
hẹp, vốn tự bổ sung không lớn thì hiện tượng này rất khó tránh khỏi. Nhưng một
cơ cấu nguồn vốn như vậy, nếu công ty quản lý tốt và sử dụng có hiệu quả nguồn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status