Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng - Pdf 26

Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
Chương 1. Cơ sở lý thuyết
về chi phí sản xuất kinh doanh
và giá thành sản phẩm
1.1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất kinh doanh:
1.1.1. Một số khái niệm về chi phí sản xuất kinh doanh:
Chi phí sản xuất kinh doanh là tất cả các chi phí tồn tại và phát sinh gắn liền với
quá trình hoạt động kinh doanh từ khâu hình thành và tồn tại doanh nghiệp, đến khâu
tạo ra sản phẩm và tiêu thụ xong chúng [2, 44].
Chi phí của doanh nghiệp là tất cả những chi phí phát sinh gắn liền với doanh
nghiệp trong quá trình hình thành, tồn tại và hoạt động từ khâu mua nguyên vật liệu,
tạo ra sản phẩm đến khi tiêu thụ nó [3, 157].
Chi phí sản xuất là toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá
cho sản xuất trong một kỳ kinh doanh nhất định (thường là tháng, quý, năm) và được
biểu hiện dưới hình thái giá trị [5, 201].
Chi phí về lao động sống, như: tiền lương của cán bộ công nhân viên, chi phí
bảo hiểm xã hội và các khoản tiền khác thuộc lương.
Chi phí về lao động vật hóa, bao gồm: chi phí về nguyên vật liệu, chi phí về
nhiên liệu, năng lượng, chi phí về khấu hao TSCĐ, …
Như vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản hao phí vật chất được tính bằng
tiền mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, có đặc điểm
là luôn vận động mang tính đa đạng và phức tạp gắn liền với tính đa dạng, phức tạp
của ngành nghề sản xuất, qui trình sản xuất.
Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự
vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác quá
trình sản xuất hàng hoá là quá trình kết hợp của 3 yếu tố:
- Tư liệu lao động: máy móc, thiết bị, nhà xưởng.
- Đối tượng lao động: nguyên nhiên vật liệu.
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
1
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN

2
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
định căn cứ vào định mức lao động, đơn giá tiền lương, khối lượng công việc hoặc
theo hệ số và mức lương cấp bậc, theo hợp đồng, theo hiệu quả kinh doanh [3, 162].
* Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ:
Chi phí khấu hao TSCĐ là khoản chi phí liên quan đến việc sử dụng các TSCĐ
của doanh nghiệp trong kỳ xem xét. Khoản này được khấu trừ khỏi thu nhập của
doanh nghiệp trước khi tính thuế thu nhập, nhưng là khoản chi phí “ảo”. Lý do là
khoản này không phải là khoản thực chi của doanh nghiệp và được xem như một
thành phần tạo ra tích lũy cho doanh nghiệp.
* Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài:
Bao gồm toàn bộ số tiền phải trả cho dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh trong kỳ như: chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài, chi phí điện
nước, điện thoại, tiền bốc vác, vận chuyển hàng hoá sản phẩm, tiền trả hoa hồng đại
lý, môi giới, uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu, tiền mua bảo hiểm tài sản, tiền thuê kiểm
toán, tư vấn, quảng cáo và dịch vụ mua ngoài khác. Các khoản chi này được hạch
toán theo thực tế phát sinh do Giám đốc duyệt chi và chịu trách nhiệm về quyết định
của mình [3, 163].
* Yếu tố chi phí khác bằng tiền:
Là các khoản chi phí ngoài các chi phí đã quy định ở trên như thuế môn bài,
thuế sử dụng đất hoặc tiền thuê đất, thuế tài nguyên, lệ phí cầu phà, chi phí tiếp tân,
khánh tiết, quảng cáo, tiếp thị, chi phí giao dịch đối ngoại, chi phí hội nghị, chi phí
tuyển dụng, tập quân sự, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho cán bộ công nhân viên,
chi phí bảo hộ lao động, các khoản thiệt hại được phép hạch toán vào chi phí, chi phí
bảo hành sản phẩm, các khoản dự phòng, tiền nộp quỹ quản lý tổng công ty, tiền
đóng hội phí, chi phí dự thầu, trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định của
Luật Lao động và các khoản chi khác [3, 163].
Ưu điểm của việc phân loại chi phí theo yếu tố:
- Phân loại rõ ràng, đảm bảo tính thống nhất của doanh thu, chi phí giữa các
doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế, thuận lợi cho việc quản lý của nhà nước.

* Khoản mục 3: Chi phí sản xuất chung.
Chi phí sản xuất chung là tất cả những chi phí phát sinh tại nơi sản xuất hay
phân xưởng mà không phải là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
4
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
trực tiếp. Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí nguyên liệu gián tiếp, khấu hao tài
sản cố định, sửa chữa, bảo trì, quản lý tại phân xưởng,... Trên giác độ toàn doanh
nghiệp cũng phát sinh những khoản chi phí tương tự gắn liền với quá trình quản lý và
tiêu thụ, nhưng không được kể là một phần của chi phí sản xuất chung. Chi phí sản
xuất chung (CPSXC) có ba đặc điểm sau:
- Bao gồm nhiều khoản mục chi phí khác nhau nên chúng được nhiều bộ phận
khác nhau quản lý, và rất khó kiểm soát.
- Có tính chất gián tiếp với từng đơn vị sản phẩm nên không thể tính thẳng vào
sản phẩm hay dịch vụ cung cấp.
- Cơ cấu CPSXC bao gồm cả định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp, trong đó
định phí thường chiếm tỷ trọng cao nhất.
Như vậy, khoản mục CPSXC bao gồm các tiểu khoản mục sau [3, 159]:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng.
+ Chi phí vật liệu.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: giá trị khâu hao toàn bộ tài sản cố định mà
bộ phận sản xuất đó được quản lý và sử dụng trong kỳ.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: giá trị dịch vụ mua ngoài được sử dụng trong kỳ ở
bộ phận sản xuất.
+ Chi phí bằng tiền: các khoản chi phí hoạt động sản xuất ở bộ phận sản xuất
trực tiếp dưới hình thức giá trị như tiếp khách, hội họp, văn phòng phẩm.
* Khoản mục 4: Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí này phản ánh các chi phí quản lý chung của doanh nghiệp gồm các chi
phí quản lý kinh doanh, chi phí quản lý hành chính, chi phí chung khác liên quan đến

- Chi phí bằng tiền khác.
Trong 5 khoản mục trên:
- Ba khoản mục đầu tiên là chi phí trực tiếp cho quá trình sản xuất và sẽ bù đắp
lại khi sản phẩm dịch vụ hoàn thành đem bán dưới dạng giá vốn hàng bán.
- Hai khoản mục sau liên quan đến quá trình quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Theo
quy định hiện nay không phải phân bổ trực tiếp cho các loại sản phẩm mà bù đắp
bằng lợi nhuận gộp trong kỳ.
* Ưu điểm của việc tính giá thành theo khoản mục chi phí:
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
6
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
Cho biết mục đích của các khoản mục chi phí, thể hiện rõ hơn công dụng và địa
điểm bỏ ra chi phí sản xuất cho từng khu vực.
Kết hợp được các yếu tố chi phí công đoạn và yếu tố chi phí tổng hợp mới tạo
nên khoản mục.
Việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh thành các khoản mục cho phép phân
tích đánh giá sử dụng nguồn lực ở các khâu khác nhau của quá trình sản xuất kinh
doanh. Nó cho phép tính được giá thành đơn vị sản phẩm, cho phép phân tích cơ cấu
chi phí, cơ cấu giá thành để từ đó đề xuất các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm.
* Nhược điểm:
Đôi khi không rõ ràng, có thể có sự nhầm lẫn giữa các khoản mục do phương
pháp này tính toán phức tạp hơn. Không có tính thống nhất giữa các danh mục.
Không thể hiện kết cấu giữa các yếu tố.
1.1.2.3. Theo mối quan hệ giữa chi phí và đối tượng chịu chi phí:
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn bộ chi phí
được chia làm 3 loại:
* Chi phí sản xuất kinh doanh: bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt động sản
xuất, tiêu thụ hàng hoá, quản lý doanh nghiệp.
* Chi phí hoạt động tài chính: bao gồm các chi phí liên quan đến hoạt động vay nợ,

1.2. Giá thành sản phẩm:
1.2.1. Khái niệm giá thành:
Giá thành sản phẩm dịch vụ là toàn bộ những chi phí tính bằng tiền để sản xuất
và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Hay nói cách khác, giá
thành sản phẩm dịch vụ là hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cho một đơn
vị khối lượng sản phẩm hoặc lao vụ nhất định biểu hiện bằng tiền.
Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí bằng tiền để sản xuất và tiêu thụ một
khối lượng sản phẩm nhất định [1, 346].
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống
và lao động vật chất có liên quan đến khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành
trong kỳ.
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
8
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
Có thể nói giá thành là một chỉ tiêu phản ánh toàn diện chất lượng hoạt động
của doanh nghiệp bao gồm các mặt: trình độ công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất,
trình độ quản trị v.v…
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu chất lượng, phản ánh và đo lường kết quả sử
dụng vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp kinh
tế kỹ thuật mà các doanh nghiệp đã thực hiện.
Đồng thời giá thành còn giữ chức năng thông tin và kiểm tra về chi phí giúp cho
người quản lý có cơ sở để đề ra quyết định đúng đắn kịp thời.
1.2.2. Phân loại giá thành:
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ
khác nhau.
1.2.2.1. Theo thời điểm xác định giá thành:
Căn cứ vào thời điểm xác định giá thành, giá thành sản phẩm được chia làm 2
loại: Giá thành kế hoạch, giá thành thực tế.
* Giá thành kế hoạch:

bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản
xuất chung. Giá thành sản xuất là căn cứ để xác định giá vốn hàng hoá và mức lãi
gộp lại trong kỳ.
* Giá thành đầy đủ:
Giá thành đầy đủ là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên
quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (Bao gồm giá thành sản xuất, chi phí quản
lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng).
Giá thành toàn bộ là cơ sở để tính toán lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh của từng loại
mặt hàng, từng loại sản phẩm.
1.2.2.3. Theo số lượng đối tượng tính giá thành:
* Giá thành đơn vị sản phẩm:
Giá thành đơn vị sản phẩm là giá thành tính cho một loại sản phẩm và một đơn
vị sản phẩm nhất định. Giá thành đơn vị dùng để so sánh với giá thành kế hoạch, với
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
10
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
các kỳ sản xuất trước đó và với các đối thủ cạnh tranh để có biện pháp giảm giá thành
[1, 351].
* Tổng giá thành sản phẩm:
Tổng giá thành sản phẩm là tập hợp toàn bộ chi phí để sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp trong kỳ sản xuất kinh doanh. Tổng giá thành sản phẩm cho
biết kết cấu các loại chi phí trong giá thành để có biện pháp giảm giá thành [1, 352].
1.2.3. Phân biệt chi phí và giá thành:
a. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt có những mặt
khác nhau:
Thứ nhất: Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh ra chúng,
còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với một khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn
thành.

xuất dở
dang cuối kỳ
kỳ
+
=
-
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
phí doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí sản xuất trong
kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng
phí chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, dịch
vụ. Vì vậy, quản trị giá thành phải gắn liền với quản trị chi phí sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chúng đều bao gồm các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh
nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh. Về thực chất chi phí và giá thành là 2
mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chi phí phản ánh mặt hao phí còn giá thành
phản ánh mặt kết quả sản xuất.
Chúng giống nhau về chất và khác nhau về lượng. Nghĩa là không phải toàn bộ
chi phí thực tế phát sinh trong kỳ đều được tính vào sản phẩm trong kỳ. Có những chi
phí thực tế đã phát sinh những được tính vào giá thành của kỳ sau, ngược lại có
những chi phí chưa phát sinh nhưng lại được tính vào giá thành của kỳ này. Do có sự
khác nhau giữa sản phẩm dở dang đầu kỳ và sản phẩm dở dang cuối kỳ nên gây ra
chênh lệch giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện qua sơ
đồ sau:
Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Tổng giá thành sản phẩm dịch vụ hoàn thành Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Qua sơ đồ trên ta thấy:
Như vậy chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Nếu tiết kiệm chi
phí sản xuất thì sẽ hạ giá thành sản phẩm.
b. Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành:

1.3. Các phương pháp tính giá thành:
1.3.1. Phương pháp tính giá thành kế hoạch:
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
13
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
Giá thành kế hoạch của doanh nghiệp được tính trước khi diễn ra kỳ kế hoạch.
Giá thành kế hoạch của doanh nghiệp được tính căn cứ vào sản lượng kế hoạch và
tuân theo các nguyên tắc sau:
- Các chi phí có định mức thì xác định theo định mức và đơn giá kế hoạch.
- Các chi phí không có định mức thì xác định theo dự toán bằng cách sử dụng
hệ số biến động.
Bằng cách trên tính được tổng chi phí kế hoạch tương ứng với sản lượng kế
hoạch của kỳ sản xuất kinh doanh, từ đó xác định được tổng giá thành sản phẩm và
giá thành đơn vị sản phẩm kế hoạch của kỳ kế hoạch.
1.3.2. Phương pháp tính giá thành thực tế:
Giá thành thực tế được thống kê và tính sau khi kết thúc kỳ sản xuất kinh
doanh. Để tính giá thành thực tế, thực hiện các bước như sau:
- Tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ theo khoản mục và phân bổ (nếu cần) cho
các đối tượng tính giá thành.
- Kiểm kê và xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ theo phương pháp phù
hợp với thực tế của doanh nghiệp.
- Xác định tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm thực tế.
1.4. Phân tích giá thành sản phẩm:
1.4.1. Lựa chọn phương pháp phân tích:
1.4.1.1. Phương pháp so sánh (giản đơn):
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng lâu đời phổ biến nhất. So sánh
trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hoá có
cùng một nội dung, một tính chất tương tự để xác định xu hướng mức độ biến động
của các chỉ tiêu. Nó cho phép chúng ta tổng hợp được những nét chung, tách ra được
những nét riêng của các hiện tượng được so sánh, trên cơ sở đó đánh giá các mặt phát

thế sẽ tính được mức ảnh hưởng của nhân tố được thay thế.
1.4.1.3. Phương pháp phân tích chi tiết [3, 20]:
Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi trong phân tích hoạt động kinh doanh.
Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo các hướng khác nhau.
Thông thường trong phân tích, phương pháp chi tiết được thực hiện theo những
hướng sau:
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
15
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
* Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu:
Mọi kết quả kinh doanh đều biểu hiện trên các chỉ tiêu đến bao gồm nhiều bộ
phận. Chi tiết các chỉ tiêu theo các bộ phận cùng với sự biểu hiện về lượng của các bộ
phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được. Với ý
nghĩa đó, phương pháp chi tiết theo bộ phận cấu thành được sử dụng rộng rãi trong
phân tích mọi mặt kết quả kinh doanh.
Cụ thể trong phân tích giá thành, chỉ tiêu giá thành đơn vị sản phẩm hoặc mức
giá thành thường được chi tiết theo các khoản mục giá thành.
* Chi tiết theo thời gian:
Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Do nhiều nguyên
nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng
đơn vị thời gian xác định thường không đồng đều. Chi tiết theo thời gian sẽ giúp ích
cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được sát, đúng và tìm được các giải pháp có
hiệu quả cho công việc kinh doanh.
* Chi tiết theo địa điểm:
Phân xưởng, tổ, đội,... thực hiện kết quả kinh doanh được ứng dụng rộng rãi
trong phân tích kinh doanh trong các trường hợp sau:
- Đánh giá kết quả thực hiện hạch toán kinh doanh nội bộ. Trong trường hợp
này, tuỳ chỉ tiêu khoán khác nhau có thể chi tiết mức thực hiện khoán ở các đơn vị có
cùng nhiệm vụ như nhau, chẳng hạn như khoán chi phí thì chỉ tiêu cần chi tiết là mức
hao phí các yếu tố nguyên vật liệu, nhân công trên một đơn vị sản phẩm.

, Z
K
, Z
1
‐ tương ứng là giá thành tổng sản lượng thực hiện năm trước,
kế hoạch năm nay và thực hiện năm nay, được tính trên toàn bộ sản lượng
của doanh nghiệp.
Z
K
= ∑q
Ki
z
Ki
; Z
0
= ∑q
0i
z
0i
; Z
1
= ∑q
1i
z
1i
• Q
0
, Q
K
, Q

1K
‐ tương ứng là mức hạ vả tỷ lệ hạ giá thành tổng sản lượng thực
hiện năm nay so với kế hoạch năm nay.
Mức hạ và tỷ lệ hạ giá thành kế hoạch so với năm trước được xác định:
M
K0
= ∑q
Ki
z
Ki
- ∑q
0i
z
0i
T
K0
= M
K0
∑q
0i
z
0i
= M
K0
Z
0
Mức hạ và tỷ lệ hạ giá thành thực hiện so với kế hoạch được tính theo:
M
1K
= ∑q

K0
Mức hạ và tỷ lệ hạ giá thành thực hiện năm nay so với thực hiện năm trước:
M
10
= ∑q
1i
z
1i
- ∑q
0i
z
0i
; M
10
= M
1K
+ M
K0
T
10
= M
10
∑q
0i
z
0i
= M
10
Z
0

Tổng mức chi phí nhân công trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố: Số lượng
công nhân sản xuất và tiền lương bình quân. Tiền lương bình quân của công nhân sản
xuất chịu sự tác động của: kết cấu công nhân của từng bộ phận sản xuất hoặc từng
loại công nhân và tiền lương bình quân của công nhân sản xuất trong từng bộ phận
hoặc từng loại công nhân.
Trong phân tích khoản mục khấu hao TSCĐ cần chú ý, mức khấu hao năm phụ
thuộc vào hai nhân tố: Nguyên giá của TSCĐ và tỷ lệ khấu hao.
1.5. Các phương hướng hạ giá thành sản phẩm:
1.5.1. Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp [1, 371]:
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
18
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
Đây là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, nên việc tiết
kiệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đóng vai trò quan trọng. Để tiết kiệm chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp doanh nghiệp cần tập trung giải quyết hai vấn đề:
* Giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm bằng các biện pháp
sau đây:
- Tổ chức tốt khâu cung ứng và sử dụng nguyên vật liệu tránh thất thoát, tiêu
hao nguyên vật liệu trên đường vận chuyển.
- Bố trí các kho hợp lý, thuận tiện cho việc nhập kho, bảo quản, thu hồi và kiểm
kê nguyên vật liệu.
- Tổ chức cấp phát, theo dõi, giám sát, kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng nguyên
vật liệu theo định mức, bảo quản tiết kiệm.
- Tổ chức tốt khâu vận chuyển nguyên vật liệu trong nội bộ doanh nghiệp.
- Tổ chức việc thu hồi và tận dụng triệt để phế liệu, phế phẩm.
- Nâng cao ý thức tiết kiệm nguyên vật liệu trong đội ngũ công nhân và nhân
viên của doanh nghiệp.
- Xây dựng chế độ khen thưởng do tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu hợp lý.
- Cải tiến máy móc thiết bị và áp dụng kỹ thuật và công nghệ chế tạo tiên tiến
để giảm định mức tiêu hao nguyên vật liệu.

- Chú trọng đến xây dựng văn hoá doanh nghiệp, phát triển tinh thần đoàn kết,
khả năng làm việc theo nhóm trong doanh nghiệp, xây dựng quan hệ tốt giữa cấp lãnh
đạo và công nhân viên và có cơ chế để khuyến khích sự sáng tạo, tăng năng suất của
công nhân viên.
1.5.3. Khai thác tối đa công suất của máy móc thiết bị [1, 373]:
Các máy móc thiết bị của doanh nghiệp thường không được sử dụng hết công
suất, điều này làm tăng chi phí khấu hao trên một đơn vị sản phẩm. Vì vậy, nếu có
biện pháp khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị sẽ giảm chi phí khấu hao trên
một đơn vị sản phẩm. Các biện pháp nâng cao mức độ khai thác công suất máy móc
thiết bị gồm:
- Hoạch định công suất máy móc thiết bị phù hợp sản lượng bán hàng và năng
lực sản xuất của doanh nghiệp.
- Tăng sản lượng bán hàng để tăng sản lượng sản xuất, từ đó nâng cao mức độ
khai thác công suất máy móc thiết bị.
- Giảm các máy móc thiết bị dư thừa trong sản xuất kinh doanh của doanh.
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
20
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
- Xây dựng định mức sử dụng máy móc thiết bị, có chế độ bảo quản sửa chữa,
xây dựng lịch trình kiểm tra, sửa chữa và cải tiến máy móc thiết bị để nâng cao công
suất máy móc thiết bị.
1.5.4. Giảm lãng phí trong sản xuất [1, 374]:
Trong sản xuất doanh nghiệp thường gặp hai biến cố là sản phẩm bị hư hỏng và
ngưng sản xuất làm tăng giá thành. Vì vậy, nếu giảm được các biến cố này sẽ giúp
doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm.
* Các biện pháp để giảm số sản phẩm hư hỏng gồm:
- Xây dựng tỷ lệ các sản phẩm hư hỏng ở mỗi thời kỳ, có biện pháp nâng cao
chất lượng sản phẩm và giảm tỷ lệ sản phẩm hư hỏng.
- Xây dựng qui trình và thủ tục sản xuất sản phẩm, tuyệt đối tuân thủ các
nguyên tắc của qui trình và thủ tục.

nhau với các yêu cầu và mục đích khác nhau của công tác quản lý.
Nêu các phương pháp tính giá thành: phương pháp tính giá thành kế hoạch,
phương pháp tính giá thành thực tế.
Trình bày các phương pháp thường dùng và các nội dung yêu cầu của công tác
phân tích giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Đưa ra các phương hướng và các biện pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu hạ
giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Nhiệm vụ đặt ra trong Chương tiếp theo là: vận dụng các nội dung lý thuyết của
Chương 1 vào việc phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm tại
Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng - VVMI. Xác định được các mặt còn yếu kém,
chưa hoàn thiện trong công tác quản trị chi phí, giá thành sản phẩm của Công ty.
Nội dung phân tích trong Chương 2 phải bám sát với cơ sở thực hiện đồ án
thông qua việc tìm hiểu, khảo sát và thu thập số liệu về tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh trong những năm gần đây của doanh nghiệp.
Chương 2. Phân tích TìNH HìNH THựC HIệN
Kế HOạCH giá thành sản phẩm tại
Vò Phó Cêng_QTDN-KS2-K20 Khoa Kinh tÕ vµ Qu¶n lý
22
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK HN
Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng - VVMI
2.1. Đặc điểm và tình hình sản xuất kinh doanh gần đây của doanh nghiệp:
2.1.1. Giới thiệu khái quát doanh nghiệp:
Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng - VVMI tiền thân là Xí nghiệp sản xuất và
cung ứng Vật liệu xây dựng trực thuộc Công ty than Nội Địa - Tổng công ty than
Việt Nam (nay là Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam); đơn vị được
thành lập vào tháng 3 năm 2002.
Ngày 01/06/2006 đơn vị chuyển đổi mô hình tổ chức thành Công ty cổ phần
Vật liệu xây dựng Than Nội Địa nằm trong công ty mẹ cấp trên là Công ty TNHH
một thành viên Than Nội Địa. Tháng 4 năm 2007 đơn vị đổi tên là Công ty cổ phần
Vật liệu xây dựng - VVMI trực thuộc công ty mẹ là Công ty TNHH một thành viên

Giám đốc điều hành
Phó GIáM Đốc
Phòng
TCHC-BV
Phòng
TK-KT-TC
Phòng
KH-VT
Phòng
KT-AT-CĐ
Phân xưởng
khai thác
Tổ
cấp dưỡng
Tổ
xúc, gạt
Tổ
sửa chữa
Tổ nghiền,
sàng
Tổ
lái xe
Tổ khoan,
nổ mìn
Khảo sát địa hình,
địa chất theo thiết kế
Khoan - Nổ mìn
Xúc chuyển
Xúc bốc
Bán cho hộ tiêu thụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status