BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Giải pháp thị trường với phát triển thương
mại sản phẩm xi măng tại công ty Cổ Phần Vật Liệu
Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay.
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2
1.2. XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN ĐỀ TRONG ĐỀ TÀI 4
1.3.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.5. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ PHÂN ĐỊNH NỘI DUNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.5.1 Một số khái niệm 5
1.5.2 Khái quát về sản phẩm xi măng 9
1.5.3 Phân định nội dung về vấn đề nghiên cứu 12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC
TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM XI MĂNG
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG BỈM SƠN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 14
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp 14
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 15
2.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM XI MĂNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU
XÂY DỰNG BỈM SƠN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN THƯƠNG
MẠI SẢN PHẨM NÀY 15
2.2.1 Tình hình phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm
Sơn 15
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm xi măng 17
2.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU THỨ CẤP 20
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG NHẰM PHÁT TRIỂN
THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM XI MĂNG TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG BỈM SƠN 26
3.1 CÁC KẾT LUẬN VÀ PHÁT HIỆN QUA NGHIÊN CỨU 26
Là DN nhỏ kinh doanh trong lĩnh vực vật liệu xi măng vì vậy công ty Cổ
Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ tác động
bởi các yếu tố trên. Lợi nhuận của DN trong các năm có sự biến động không đều
năm 2008 lợi nhuận tăng 21914 triệu đồng so với 2007 nhưng đến năm 2009 chỉ
tăng lên 3658 triệu đồng , hiệu quả thương mại của DN có sự thay đổi khi mà tỷ
suất lợi nhuận trên chi phí năm 2008 là 13,17 đã giảm xuống còn 5,64 năm
2009. Bên cạnh đó thị trường tiêu thụ của DN tính đến năm 2009 chỉ chiếm
0,19% thị phần cả nước do khả năng quản lý của DN cũng như nguồn ngân sách
chi cho phát triển thị trường còn hạn chế và hoạt động điều tra nghiên cứu thị
trường chưa được chú trọng.
Những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển thương
mại sản phẩm xi măng của công ty trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy mà
em chọn đề tài: “Giải pháp thị trường với phát triển thương mại sản phẩm xi
măng tại công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện
nay”.
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài.
Để phát triển thương mại sản phẩm xi măng trên thị trường nội địa trong
giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Chuyên đề khảo sát thực trạng phát triển
thương mại sản phẩm xi măng của công ty trên thị trường nội địa, thông qua các
bản báo cáo tổng kết, báo cáo tình hình tiêu thụ sản phẩm của xi măng. Từ đó
tập trung vào nhóm giải pháp phát triển thương mại theo hướng mở rộng quy mô
thương mại. Chuyên đề tập trung giải quyết:
- Thực trạng phát triển thương mại sản phẩm xi măng tại công ty cổ phần
Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn?
- DN phải làm thế nào để phát triển thương mại sản phẩm xi măng theo
hướng mở rộng quy mô thương mại?
1.3.Mục tiêu nghiên cứu.
+ Khảo sát, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu thứ cấp. Từ đó, phát hiện
thực trạng phát triển thương mại sản phẩm xi măng của DN trong giai đoạn hiện
nay.
hài hoà mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội- Môi trường.
- Bản chất của sự phát triển thương mại
Các hoạt động nhằm phát triển thương mại thì phải đảm bảo làm cho lĩnh
vực này có sự mở rộng về quy mô, sự thay đổi về chất lượng, nâng cao tính hiệu
quả kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững hoặc cả bốn vấn đề trên
+ Sự mở rộng về quy mô thương mại
Mở rộng quy mô thương mại tức là làm cho lĩnh vực thương mại có sự gia
tăng sản lượng tiêu thụ qua đó gia tăng giá trị thương mại và có sự mở rộng về
thị trường tiêu thụ. Phát triển thương mại sản phẩm về mặt quy mô là tạo đà cho
sản phẩm bán được nhiều hơn, quay vòng nhanh và giảm bớt thời gian trong quá
trình lưu thông. Quy mô tác động tới quá trình tiêu thụ sản phẩm, tác động tới
việc sử dụng vốn để tái đầu tư sản xuất nhằm ngày càng thoã mãn hơn nhu cầu
của người tiêu dùng, tác động vào thị hiếu ngưới tiêu dùng đối với sản phẩm.
Đối với sản phẩm xi măng của công ty Cổ phần VLXD Bỉm Sơn mở rộng
về quy mô thương mại theo hướng kết hợp mở rộng cả chiều rộng và chiều sâu.
Theo hướng mở rộng về chiều rộng: mở rộng thêm thị trường các tỉnh
phía Bắc và các tỉnh Miền Trung, tăng số lượng khách hàng, phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm xi măng về mặt số lượng
Theo hướng mở rộng về chiều sâu: nâng cao chất lượng hiệu quả thị
trường của DN. Hướng tới việc tăng doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên
chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ để tạo được dự hấp dẫn đối với khách hàng.
Phát triển theo hướng thâm nhập sâu vào thị trường và mở rộng thị trường từ đó
làm doanh thu bán hàng tăng giúp tăng thị phần của DN trên thị trường.
+ Lĩnh vực thương mại phải có sự thay đổi về chất lượng
Phát triển thương mại sản phẩm về mặt chất lượng là sự đổi mới, cải tiến
hoạt động thương mại sản phẩm nhằm tạo lòng tin của khách hang đồng thời
nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên. Phát triển thương mại góp
phần thoã mãn hơn nhu cầu của khách hàng, khắc phục nhược điểm còn tồn tại
trong sản phẩm. Lĩnh vực thương mại có sự dịch chuyển về cơ cấu hàng hoá
theo hướng gia tăng hàng hoá có chất lượng tốt, khai thác hiệu quả thị trường cũ
nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của sản phẩm.
+ Phát triển thương mại hướng đến tính bền vững
Là sự kết hợp giữa mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường. Sự phát triển
thương mại sản phẩm không làm ảnh hưởng tới quá trình phát triển trong tương
lai.
- Về bản chất thì phát triển bền vững phải đáp ứng được:
+ Đảm bảo hài hoà mối quan hệ lợi ích trong phtá triển giữa hiện tại và
tương lai về tất cả các khía cạnh: kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường
+ Lồng ghép một cách hài hoà các khía cạnh tăng trưởng kinh tế với công
bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
- Vậy để đáp ứng cho việc phát triển thương mại một cách bền vững thì
cần có sự đảm bảo về:
+ Sự phát triển bền vững về kinh tế: có tăng trưởng GDP và GDP bình
quân đầu người cao và ổn định, trong điều kiện hiện nay các quốc gia phải có
thu nhập GDP tăng với tỷ lệ cao vào khoảng 5% mới có thể xem là bền vững.
Cơ cấu GDP theo hướng tỷ lệ đóng góp của công nghiệp và dịch vụ trong GDP
phải cao hơn nông nghiệp nhằm đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định và lâu
dài. GDP và GDP bình quân đầu người bằng hoặc cao hơn mức trung bình hiện
nay của các nước đang phát triển.
+ Sự phát triển bền vững về xã hội: phải đáp ứng được yêu cầu duy trì và
phát huy tính đa dạng về bản sắc dân tộc, giảm đói nghèo. Giảm khoảng cách
giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội.
+ Sự phát triển bền vững về môi trường: phải sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên, bảo tồn được sự đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm, cải
thiện môi trường.
+ Sự kết hợp hài hòa và hợp lý ba mặt lợi ích kinh tế, xã hội và môi
trường trong quá trình phát triển: phát triển bền vững chỉ có thể đạt được khi quá
trình phát triển đáp ứng được yêu cầu có một sự cân bằng nhất định của 3 nội
dung kinh tế, văn hóa và xã hội.
Để phát triển thương mại sản phẩm xi măng theo hướng phát triển bền
Xi măng Pooclăng là một hỗn hợp nghiền mịn của clinker, thạch cao có
thể có hay không có đá phụ gia. -Tùy theo hàm lượng đá phụ gia nghiền mà
thành phần các oxit chính trong xi măng thay đổi. Xi măng Pooclăng gồm các
loại xi măng mác 30,40,50.
Chia thành 2 loại chính là xi măng Pooclăng và xi măng Pooclăng hỗn
hợp
- Xi măng Pooclăng hỗn hợp ký hiệu là PCB gồm các loại PCB30,
PCB40, PCB50 xi măng Pooclăng hỗn hợp được sản xuất từ việc nghiền hỗn
hợp clinker, thạch cao và phụ gia (lượng phụ gia kể cả thạch cao không quá 40%
trong đó phụ gia đầy không quá 20%). Chất lượng xi măng Pooclăng hỗn hợp
được xác định theo tiêu chuẩn TCVN 6260 : 1997.
- Xi măng Pooclăng ký hiệu là PC gồm các loại PC30, PC40. là xi măng
Pooclăng được nghiền từ clinker với một lượng thạch cao nhất định (chiếm từ 4-
5%). Chất lượng xi măng Pooclăng được xác định theo tiêu chuẩn TCVN 2682 :
1999
Là vật liệu kết dính sử dụng trong xây dựng, Xi măng Pooclăng và
Pooclăng hỗn hợp có những đặc tính ưu việt:
+ Có đặc tính hóa lý ổn định.
+ Tăng thêm độ dẻo cho vữa và bê tông.
+ Có cường độ phát triển nhanh, rút ngắn thời gian thi công.
+ Tăng cường độ bền vững theo thời gian.
+ Tăng cường tính chống thấm và xâm thực của môi trường.
Giá trị 30,40,50 là giới hạn cường độ nén của mẫu vữa xi măng sau 28
ngày dưỡng hồ bằng N/mm
2
, xây dựng theo TCVN 6016:1995[ISO
679:1989(E)]. Giá trị càng cao thì độ kết dính của xi măng càng tốt.
- Các ứng dụng của xi măng
Vật liệu xây dựng xi măng được ứng dụng rộng rãi do ưu điểm thi công
đơn giản , nguyên liệu ban đầu đơn giản sẵn có, có tính chất cơ học tốt và tuổi
măng bao gồm khái niệm phân loại và ứng dụng của sản phẩm này.
Chuyên đề chủ yếu nghiên cứu các yếu tố thuộc về thị trường sản phẩm xi
măng như: khả năng cung cấp sản phẩm xi măng, nhu cầu sử dụng sản phẩm, thị
trường tiêu thụ sản phẩm của DN. Tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các nguồn là
những bảng báo cáo tài chính của DN về tình hình sản xuất kinh doanh và báo
cáo tình hình tiêu thụ sản phẩm xi măng trên các thị trường, hiệu quả kinh doanh
của DN trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2009 từ đó đưa ra những nhận định
chung về thị trường của DN.
Thông qua quá trình khảo sát chuyên đề đã phát hiện ra những thành tựu
mà DN đạt được đó là quy mô doanh thu thương mại tăng qua các năm và thị
trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng. Bên cạnh đó vấn đề còn tồn tại là tốc
độ gia tăng quy mô thương mại tuy tăng nhưng không ổn định, thị trường sản
phẩm xi măng của DN chỉ chiếm thị phần nhỏ so với thị trường cả nước, thị
phần của DN tại các thị trường truyền thống ngày càng giảm do khả năng cạnh
tranh của DN và khả năng tiếp cận thị trường của DN là tương đối kém.
Từ quá trình khảo sát trên chuyên đề đã đưa ra những giải pháp theo
hướng mở rộng quy mô thương mại sản phẩm trong DN đó là: đẩy mạnh hoạt
động điều tra nghiên cứu thị trường, tăng ngân sách chi cho phát triển thị trường,
hoàn thiện bộ máy kinh doanh và phát triển nhân sự, sử dụng tốt công cụ giá cả
để thu hút khách hàng.
Thông qua các giải pháp để mở rộng quy mô thương mại sản phẩm xi
măng của DN, chuyên đề đưa ra kiến nghị đối với nhà nước về những chính
sách hỗ trợ cho hoạt động mở rộng quy mô thương mại sản phẩm cả về chiều
rộng và chiều sâu trên thị trường nội địa nhằm giúp cho DN có thể. phát triển
thương mại sản phẩm xi măng trong thời gian tới.
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương
Chương 1: Tổng Quan Nghiên Cứu Đề Tài.
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu và thực trạng phát triển thương mại
sản phẩm xi măng của công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai
đoạn hiện nay.
phương pháp được sử dụng để so sánh dữ liệu giữa các thời kỳ khác nhau
hoặc so sánh hoạt động thương mại sản phẩm xi măng của công ty với các đối
thủ cạnh tranh để đánh giá sự phát triển thương mại sản phẩm xi măng trong giai
đoạn hiện nay.
- Phương pháp chỉ số
Các chỉ số được sử dụng để đánh giá sự tăng lên hoặc giảm xuống, tỷ
trọng, thị phần tiêu thụ sản phẩm xi măng của DN trên các thị trường khác nhau
từ đó đánh giá được các vấn đề phát triển thương mại sản phẩm nay.
- Phương pháp diễn giải
Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt chuyên đề giúp cho người đọc
có thể hiểu rõ hơn các vấn đề trong chuyên đề.
- Phương pháp khác
Phương pháp chủ yếu sử dụng các phần mền chuyên dụng bằng máy vi
tính và công nghệ thông tin để từ đó có thể phân tích, đánh giá thực trạng và dự
báo tương lai về thương mại sản phẩm xi măng.
2.2 Đánh giá tình hình phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty
Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay và các
nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm này.
2.2.1 Tình hình phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty Cổ
Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn.
Là một DN nhỏ trong lĩnh vực VLXD xi măng, DN đã gặp nhiều khó
khăn và thách thức trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên DN đã có
nhiều nỗ lực để phát triển và khai thác tốt các cơ hội thị trường để có thể kinh
doanh hiệu quả.
- Quy mô doanh thu thương mại sản phẩm xi măng của công ty.
Năm 2007 tổng doanh thu của DN đạt 71800 triệu đồng, năm 2008 là
99214 triệu đồng tăng 38,18% so với năm 2007. Năm 2009 doanh thu của DN là
112872 triệu đồng tăng 13,76% so với năm 2008. Tổng doanh thu nhiệm kỳ II
( 2005-2009) là 401023 triệu đồng so với nhiệm kỳ I (2000-2004) là 247576
triệu đồng tăng 161,34%. Nhận thấy doanh thu các năm liên tiếp của DN tăng
đó có các nhà phân phối lớn như Hoa Thường tại Nghệ An tiêu thụ sản phẩm xi
măng chiếm tới 40% sản lượng tiêu thụ của DN. Nhà phân phối Thông Thúy tại
Hà Tĩnh tiêu thụ 29,95% sản lượng tiêu thụ của DN. Còn lại là các nhà phân
phối nhỏ ở các địa phương khác nhau hầu hết đều tiêu thụ sản lượng xi măng
chiếm 3,34% sản lượng xi măng của DN.
Để mở rộng thị trường DN đã kết hợp với nhà phân phối Hoa Thường và
Thông Thúy và các nhà phân phối khác để tiến hành chiến lược phát triển mới
cho việc tiêu thụ xi măng PCB 40 như: Mở rộng chi nhánh phân phối ở các
huyện, đi kèm với chiến lược là hỗ trợ cước vận chuyển, thưởng kích cầu ở các
mức khác nhau. Chính những hoạt động của các nhà phân phối này mà DN đã
thực hiện chiến lược đúng hướng nhằm huy động nguồn lực đồng thời đáp ứng
thõa mãn nhu cầu kinh doanh cho các đại lý cấp 2,3 và người tiêu dùng cuối
cùng từ đó góp phần giúp cho DN tăng uy tín và tăng thị phần tạo đà cho sự phát
triển, góp phần phát triển thương mại sản phẩm về mặt quy mô.
Bên cạnh đó có một số các nhà phân phối của DN không những phân phối
sản phẩm của DN mà còn phân phối sản phẩm của DN khác, điều đó làm giảm
thị phần của DN đồng thời làm giảm sản lượng xi măng tiêu thụ chung của DN,
ảnh hưởng tới độ tăng trưởng của toàn DN. Đây cũng là nguyên nhân kiến cho
năm 2009 tốc độ tăng trưởng của DN là 127,8% so với năm 2008 chỉ tăng hơn
4,8%, trong khi đó tốc độ tăng trưởng năm 2008 so với năm 2007 tăng 23%.
- Về phía đối thủ cạnh tranh của DN
Đối thủ cạnh tranh là yếu tố tác động trực tiếp đến sản lượng tiêu thụ sản
phẩm xi măng của DN. Đồng thời đây là yếu tố góp phần cho DN cải thiện cơ sở
hạ tầng, hoàn chỉnh hệ thống kênh phân phối, nâng cao chất lượng sản phẩm,
mẫu mã…
Trên thị trường xi măng hầu hết các DN sản xuất và kinh doanh là những
DN có quy mô, vốn đồng thời đã có sự đầu tư nghiên cứu thị trường. Trong đó
các DN thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam là những DN chiếm thị phần lớn
trên thị trường.
Thị trường chính của DN là thị trường Nghệ An và Hà Tĩnh, tuy nhiên
trình của mình đồng thời tiết kiệm chi phí. Vì thế DN chỉ có thể tiếp cận được
với thị trường ở các tỉnh nhỏ ở phía bắc và thị trường các tỉnh miền trung. Đặc
biệt thị trường miền trung là khu vực tiêu thụ sản phẩm của DN lớn nhất bởi
ngoài vấn đề về thu nhập thì đây là khu vực có điều kiện thiên nhiên khắc
nghiệt, thường xuyên chịu bão lụt vì vậy người dân có nhu cầu tiêu dùng sản
phẩm xi măng nhiều hơn để cải tạo lại cơ sở vật chất. Đây là thị trường tiêu thụ
sản phẩm xi măng tiềm năng trong tương lai của DN.
- Về chính sách nhà nước.
Nhà nước tác động đến quá trình phát triển thương mại sản phẩm xi măng
thông qua công cụ luật pháp như: luật thương mại, luật cạnh tranh, luật doanh
nghiệp… Các hoạt động kinh doanh sản phẩm của DN dựa vào nền tảng là các
luật định của nhà nước. Đặc biệt đối với sản phẩm xi măng, DN sản xuất sản
phẩm cần phải đạt tiêu chuẩn TCVN 6260 – 1997. Bên cạnh đó hệ thống pháp
luật ở Việt Nam còn đang trong quá trình thay đổi, chưa đạt được sự ổn định,
chính vì vậy tác động lớn đến việc phát triển thương mại sản phẩm xi măng của
DN. Ngoài ra chính sách của nhà nước là thực hiện nền kinh tế thị trường đã góp
phần giúp cho DN có thể tìm thêm những cơ hội mới để phát triển thị trường sản
phẩm. Sự điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế tạo nên sự công bằng giữa các
DN, tạo cơ hội cho các DN nhỏ tiếp cận đồng thời mở rộng thị trường. Chính
những ưu đãi đó góp phần giúp cho DN tiết kiệm được chi phí sản xuất kinh
doanh, tăng sản lượng tiêu thụ trên thị trường, mở rộng quy mô và phát triển.
Bên cạnh đó, các DN nhỏ nói chung và công ty cổ phần vật liệu xây dựng Bỉm
Sơn nói riêng chịu ảnh hưởng bởi chính sách về lãi suất cho vay. Nếu nhà nước
nâng cao mức lãi suất thì đồng nghĩa với việc hạn chế khả năng đầu tư của các
DN và ngược lại. Tại Công ty cổ phần vật liệu xây dựng hiện nay số vốn vay
ngân hàng công thương Bỉm Sơn là 11,7 tỷ đồng, vì vậy quá trình phát triển
thương mại sản phẩm xi măng phụ thuộc rất lớn vào mức quy định lãi suất của
DN. Lãi suất cơ bản trong các năm từ năm 2004 đến 2009 có xu hướng biến đổi
liên tục, tính đến cuối năm 2009 là 7%/năm. Lãi suất thay đổi ảnh hưởng không
nhỏ tới việc đầu tư kinh doanh, áp dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại.
lợi nhuận của DN giảm là do DN tập trung vốn để đầu tư cho việc xây dựng máy
nghiền xi măng công suất 14 tấn/h và xây dựng hệ thống phân phối ở các tỉnh
phía bắc
Bảng 2.2 Cơ cấu thị trường tiêu thụ sản phẩm xi măng của công ty
( 2007 – 2009 ).
Đơn vị: Tấn
Thị trường của DN
2007 2008 2009
Sản
lượng
Tỷ
Trọng
%
Sản
lượng
Tỷ
Trọng
%
Sản
lượng
Tỷ
Trọng
%
Nghệ An 30000 53 35500 50 40000 46
Hà Tĩnh 18000 32 22000 32 30000 35
Thanh Hóa và các
tỉnh phía bắc
8780 15 12300 18 16750 19
Tổng sản lượng tiêu
thụ của DN
Doanh Nghiệp 2008 2009
Sản lượng Tỷ Trọng% Sản lượng Tỷ Trọng%
Vicem
16.34 38 18.2 40
Liên Doanh
13.89 34 13.2 29
Thành phần khác
11.37 27.832 14.013 30.81
VLXD
0.0698 0.168 0.0868 0.19
Cả nước
41.67 100 45.5 100
(Nguồn: báo cáo thị trường tiêu thụ trong cả nước của
DN)
Dựa trên bảng số liệu về sản lượng tiêu thụ xi măng trên thị trường nội địa
giai đoạn 2008 – 2009 có thể thấy được các DN thuộc tổng công ty xi măng
(Vicem) và DN liên doanh có thị phần lớn nhất, thị phần năm 2008 lần lượt là
38%, 34%, năm 2009 thị phần là 40% và 29%. Thị phần của Vicem và DN liên
doanh lớn năm 2008 bởi các DN này được chú trọng đầu tư về mặt cơ sở hạ
tầng, trang thiết bị máy móc cũng như được đầu tư nghiên cứu thị trường, năng
lực cạnh tranh cao. Tuy nhiên đến năm 2009 sản lượng tiêu thụ của các DN liên
doanh giảm do trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều DN sản xuất và kinh
doanh được xây dựng.
Các thành phần khác trên thị trường xi măng là những DN sản xuất xi
măng lò đứng ở các địa phương và các trạm nghiền xi măng năm 2008 sản
lượng tiêu thụ là 11.37 triệu tấn chiếm 27,832% thị trường xi măng cả nước.
Đến năm 2009 sản lượng tiêu thụ tăng 14,013 triệu tấn chiếm 30,81% thị phần
cả nước.
Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Bỉm Sơn năm 2008 sản lượng là
0,0698 triệu tấn chiếm 0.168% thị phần cả nước, năm 2009 sản lượng tăng lên