1
Luận Văn
Phân tích kết quả tiêu thụ sản phẩm xi
măng ở Công ty cổ phần Constrexim
Bình Định2Mục Lục
M c L cụ ụ 2
L i Nói uờ Đầ 3
1. Tính c p thi t c a đ tàiấ ế ủ ề 3
Ch ng m tươ ộ 6
C S LÝ THUY T V HO T NG TIÊU TH S N PH MƠ Ở Ế Ề Ạ ĐỘ Ụ Ả Ẩ 6
1.1. Khái ni m và vai trò c a ho t đ ng tiêu th s n ph mệ ủ ạ ộ ụ ả ẩ 6
1.2. N i dung c a ho t đ ng tiêu th s n ph mộ ủ ạ ộ ụ ả ẩ 9
1.2.3. Các hình th c phân ph i, v n chuy n và giao nh n hàngứ ố ậ ể ậ 10
1.3. Các nhân t nh h ng đ n tiêu thố ả ưở ế ụ 11
1.3.1. Nh ng nhân t thu c v doanh nghi pữ ố ộ ề ệ 11
1.3.2. Nh ng nhân t thu c v môi tr ng bên ngoài doanh nghi pữ ố ộ ề ườ ệ 14
1.4. Khái ni m, vai trò và n i dung c a phân tích ho t đ ng kinh doanhệ ộ ủ ạ ộ 15
1.4.1. Khái ni m v phân tíchệ ề 15
1.4.3. N i dung c a phân tích ho t đ ng kinh doanhộ ủ ạ ộ 17
1.5. Ph ng pháp và n i dung c a phân tích ho t đ ng tiêu th s n ph mươ ộ ủ ạ ộ ụ ả ẩ 18
1.5.1. Ph ng pháp chi ti tươ ế 19
1.5.2. Ph ng pháp so sánhươ 20
3.1. ánh giá th c tr ng tiêu th s n ph m xi m ng c a công tyĐ ự ạ ụ ả ẩ ă ủ 53
3.1.1. Nh ng thành côngữ 54
3.1.2. Nh ng b t c p còn t n t iư ấ ậ ồ ạ 55
3.2. nh h ng phát tri n c a Công ty c ph n Constrexim Bình nhĐị ướ ể ủ ổ ầ Đị 57
3.3.1. Thi t l p phòng tiêu th s n ph m và h tr bán hàngế ậ ụ ả ẩ ỗ ợ 59
3.3.2. Bi n pháp liên k t v i các l nh v c kinh doanh khác trong công ty đ đ y m nh tiêu th s n ệ ế ớ ĩ ự ể ấ ạ ụ ả
ph mẩ 62
3.3.3. Bi n pháp c ng c và m r ng m i quan h v i các đ n v xây d ng trên đ a bànệ ủ ố ở ộ ố ệ ớ ơ ị ự ị 63
3.3.4. H th p giá thành s n ph m và nâng cao ch t l ng s n ph mạ ấ ả ẩ ấ ượ ả ẩ 65
3.3.5. Duy trì và tìm thêm các h p đ ng gia công m i cho công tyợ ồ ớ 67
3.4. M t s ki n nghộ ố ế ị 68
K t Lu nế ậ 70
Lời Nói Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tất cả các hoạt động bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế quốc
dân thì công tác tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Điều đó chứng tỏ rằng chỉ có tiêu thụ sản phẩm thì các hoạt động khác của
doanh nghiệp mới có thể diễn ra một cách liên tục, đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện
được các chỉ tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp đứng
vững và phát triển trên thị trường vốn đầy tính cạnh tranh.
Hoạt động trong cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước mỗi doanh nghiệp
đều trở thành một chủ thể kinh tế của quá trình tiêu dùng. Nếu không có quá trình lưu
4
thông thì không có quá trình tiêu dùng và không có quá trình sản xuất. Mặt khác môi
trường kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động luôn biến động không ngừng, thị trường
luôn vận động theo những quy luật vốn có của nó, do vậy doanh nghiệp phải nắm bắt xu
thế vận động của thị trường, đưa ra các chiến lược, quyết định sản xuất kinh doanh phù
hợp với sự thay đổi của thị trường nói riêng và môi trường kinh doanh nói chung. Thì
doanh nghiệp mới có cơ hội thành công trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Cùng với sự
động kinh doanh.
Mặt khác do thời gian thực tập có hạn và sự hạn chế của tôi về tình hình thực tế
kinh doanh ngoài thị trường của công ty như thế nào. Chính vì vậy, bài viết của tôi không
đi sâu vào phân tích chi tiết, không phân tích tất cả các nhân tố mà chỉ đánh giá một số
nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty dựa vào những
số liệu thu thập được từ nhà máy và những thông tin liên quan đến lĩnh vực xi măng. Từ
đó, đưa ra những biện pháp nhằm cải thiện tình hình tiêu thụ sản phẩm xi măng của công
ty.
Số liệu phân tích được giới hạn trong 3 năm từ 2006 đến 2008.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liêu
Các loại dữ liệu bao gồm các báo cáo tài chính ( bảng báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh, bảng cân đối kế toán) để phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm. Dữ liệu chủ
yếu được thu thập từ phòng kinh doanh và phòng tài chính kế toán.
Các dữ liệu khác bao gồm: báo, tạp chí, Internet và các thông tin liên quan đến lĩnh
vực xi măng…
Phương pháp xử lý số liệu: từ số liệu thu thập được, dùng phương pháp so sánh để
đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm xi măng của công ty qua từng năm, dùng phương
pháp diễn dịch để đưa ra nhận xét, dùng đồ thị, biểu đồ để xử lý số liệu….
5. Kết cấu đề tài
Chuyên đề được trình bày gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Chương 2: Thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm xi măng ở Công ty cổ phần
Constrexim Bình Định.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao mức tiêu thụ sản phẩm xi măng ở Công ty cổ
phần Constrexim Bình Định.
6
Chương một
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
việc làm vô cùng khó khăn. Trong thực tế hoạt động kinh doanh cho thấy có những doanh
nghiệp tồn đọng hàng tỷ đồng vốn trong sản xuất không bán được, để thu hồi vốn này
doanh nghiệp phải bán sản phẩm với giá rẻ, thấp hơn giá thành, chấp nhận thua lỗ, sở dĩ
xảy ra tình trạng này là vì sản phẩm kém chất lượng và sản phẩm không phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng, sản phẩm sản xuất ra nhiều trong khi nhu cầu thấp, định giá sản
phẩm quá cao, chưa làm cho người tiêu dùng hiểu rõ giá trị sản phẩm…
8
Vì vậy quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp phải đạt được các yêu cầu cơ
bản sau:
- Tăng thị phần của doanh nghiệp: giữ vững và mở rộng thị trường (tăng phần thị
trường) là một trong những yêu cầu hàng đầu của quản lý doanh nghiệp.
- Đảm bảo tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Bảo đảm và nâng cao hiệu quả tiêu thụ: để tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm các
doanh nghiệp cần tiến hành tốt các hoạt động quảng cáo, tổ chức marketing, giao nhận,
phương tiện vận chuyển, phương thức thanh toán.
- Tăng tài sản vô hình của doanh nghiệp, đó chính là tăng uy tín của doanh nghiệp
nhờ tăng niền tin đích thực của người tiêu dùng đối với sản phẩm của doanh nghiệp.
- Phục vụ khách hàng góp phần vào việc thoả mãn các nhu cầu phát triển kinh tế-
xã hội của đất nước.Yêu cầu này thể hiện một khía cạnh chức năng xã hội của doanh
nghiệp và khẳng định vị trí của doanh nghiệp như một tế bào của hệ thống kinh tế quốc
dân.
1.1.3. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong hoạt động của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp công ích) lợi nhuận vẫn là mục tiêu
đang đặt lên hàng đầu, nhưng lợi nhuận chỉ có được sau khi đã tiêu thụ được sản phẩm.
Vì vậy, tiêu thụ sản phẩm chính là mục đích của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất
hay kinh doanh chỉ sau khi sản phẩm được tiêu thụ mới có thể thu hồi được vốn để sản
xuất kinh doanh. Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được liên tục, là
điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội. Công tác tiêu thụ có vai trò rất lớn đối với hiệu
quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là
chẽ về pháp lý. Đối với các doanh nghiệp hiện nay việc ký kết được một hợp đồng kinh tế
có thể là cơ hội phát triển và đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì điều này lại càng
khó khăn hơn nhiều lần. Vì vậy cần chú ý đến công tác này cả về hình thức lẫn nội dung.
Hoạt động bảo quản và xuất kho:
Công tác bảo quản và xuất kho cần phải tổ chức khoa học, phù hợp với đặc điểm
sản phẩm của doanh nghiệp nhằm đảm bảo tốt nhất cho công tác tiêu thụ sản phẩm.
Xuất nhập kho phải đủ về số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách, đảm bảo
chất lượng phục vụ tốt nhất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Hệ thống kho
tàng, bến bãi cần được tổ chức và bố trí phù hợp với công tác bảo quản và tiêu thụ. Đặc
10
biệt cần xác định lượng hàng dự trữ tối ưu nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của
khách hàng nhưng phải hạn chế chi phí bảo quản tồn trữ. Thủ tục xuất hàng cho khách
phải đảm bảo nhanh gọn, kịp thời, chính xác, tránh gây phiền hà cho khách hàng.
1.2.3. Các hình thức phân phối, vận chuyển và giao nhận hàng
Tổ chức phân phối hàng hoá:
Quyết định hình thức phân phối là một trong những quyết định quan trọng có ảnh
hưởng lớn đến công tác tiêu thụ sản phẩm. Tuỳ thuộc vào tình hình tài chính, đặc điểm
sản phẩm, ý đồ kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp chọn lựa cho mình một hình thức phân
phối phù hợp trong những hình thức phân phối sau:
- Phân phối trực tiếp:
Sơ đồ 1.1: Hình thức phân phối sản phẩm trực tiếp
+Ưu điểm: Doanh nghiệp trực tiếp quan hệ thị trường và khách hàng, từ đó có
thể nắm bắt được những thông tin về nhu cầu của thị trường, về giá cả sản phẩm, về cơ
hội tạo uy tín với người tiêu dùng, hiểu rõ tình hình bán hàng của doanh nghiệp và do đó
có khả năng thay đổi kịp thời theo yêu cầu của thị trường về sản phẩm, phương thức tiêu
thụ cũng như các dịch vụ sau bán hàng.
+ Nhược điểm: Hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm bị chậm hơn so với
phương pháp tiêu thụ gián tiếp, tốc độ chu chuyển vốn chậm, doanh nghiệp phải quan hệ
doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải xây dựng chính sách vận chuyển hợp lý
về phương tiện vận chuyển, cước phí vận chuyển, khả năng đảm bảo an toàn cho hàng
hoá, thời gian giao nhận.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ
1.3.1. Những nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Chiến lược sản phẩm:
12
Các doanh nghiệp ngày càng ý thức được sự cần thiết phải nghiên cứu hàng hoá và
dịch vụ cũng như những lợi ích gắn liền với nó. Thời hạn sống của hàng hoá hiện có hôm
nay đang thu ngắn lại và sẽ đến lúc phải thay thế, cải tiến chúng.
Nội dung cơ bản của chiến lược này là quyết định nên đưa ra thị trường sản phẩm
nào cho có lãi, trong thời gian là bao lâu thì nên đưa ra sản phẩm mới hoặc thay đổi kiểu
dáng mẫu mã sản phẩm…Với những quyết định đúng đắn trong từng thời điểm kinh
doanh sẽ mang lại hiệu quả cao cho công tác tiêu thụ sản phẩm cũng như gia tăng hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính sách giá cả:
Giá cả là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cung và lượng cầu hàng hoá trên
thị trường. Giá cả là một công cụ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu
giá cả cho tiêu thụ sản phẩm là vấn đề không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh
doanh nói chung. Mức giá của mỗi loại sản phẩm trong suốt chu kỳ sống của nó cần phải
được điều chỉnh theo sự biến động của cung - cầu và của môi trường kinh doanh. Giá cả
trong nhiều trường hợp phải được sử dụng như một công cụ cạnh tranh đắc lực của doanh
nghiệp. Vì vậy, việc xác lập chính sách giá cả đúng đắn là điều kiện quan trọng đảm bảo
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao và phát triển khả năng
chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên việc xác lập chính sách giá cả phải đảm bảo cho doanh
nghiệp thực hiện mục tiêu về lợi nhuận hoặc tỉ phần thị trường chiếm lĩnh trong một
khoảng thời gian nhất định.
Công tác hỗ trợ và xúc tiến tiêu thụ sản phẩm:
Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp có
như:
- Chào hàng: đây là biện pháp thông qua các nhân viên của doanh nghiệp
đi tìm khách hàng để bán sản phẩm.
- Tham gia hội chợ triển lãm: hội chợ là nơi gặp gỡ của các nhà sản xuất
kinh doanh với nhau và với khách hàng, nó cũng là nơi để doanh nghiệp giới
thiệu, quảng cáo, mua bán sản phẩm, tham quan tìm kiếm mặt hàng mới, ký kết
hợp đồng, tìm kiếm thị trường mới, khách hàng mới.
- Tổ chức cửa hàng giới thiệu sản phẩm: cửa hàng giới thiệu sản phẩm
không chỉ đơn giản là để quảng cáo giới thiệu sản phẩm mà còn có tác dụng
hướng dẫn nhu cầu, tạo uy tín và khả năng thâm nhập thị trường của sản phẩm.
14
Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện cụ thể , tuỳ loại sản phẩm mà doanh nghiệp có nên
tổ chức cửa hàng giới thiệu sản phẩm hay không.
1.3.2. Những nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài doanh
nghiệp
Mức độ cạnh tranh trên thị trường:
Thị trường là môi trường trong đó diễn ra quá trình người bán và người mua tác
động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá tiêu thụ. Mức độ cạnh
tranh cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nói chung và hoạt động tiêu thụ nói riêng. Đặc biệt trong cơ chế
thị trường hiện nay sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp thể hiện ở thực lực và lợi thế
của doanh nghiệp trong việc có thể thoã mãn tốt nhất đòi hỏi của khách hàng về số lượng,
chất lượng, phương thức phục vụ và giá cả. Mức độ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm
của doanh nghiệp phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp có sản phẩm cùng cạnh tranh trên
thị trường, quy mô và thế lực của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp nào có sức mạnh cạnh
tranh cao trên thị trường thì sản phẩm của doanh nghiệp đó được thị trường chấp nhận.
Quan hệ cung cầu:
Cung sản phẩm là lượng sản phẩm có thể cung ứng trên thị trường bao gồm khối
lượng sản phẩm đang lưu thông trên thị trường, khối lượng sản phẩm sẵn sàng tung ra thị
kinh doanh
1.4.1. Khái niệm về phân tích
Phân tích hoạt động kinh doanh mang nhiều tính chất khác nhau và phụ thuộc vào
đối tượng cũng như các giải pháp quản lý mà ta áp dụng. Có nhiều loại hình phân tích
kinh tế nhưng chúng đều có một cơ sở chung và phụ thuộc vào đối tượng phân tích.
Vậy phân tích hoạt động kinh doanh là gì?
Theo phó giáo sư tiến sĩ Phạm Văn Dược – Phân tích hoạt động kinh doanh –
NXB Thống Kê năm 2008
“Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để phân tích toàn bộ
quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng hoạt
động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các
phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh
nghiệp”.
16
Người ta phân biệt hoạt động kinh doanh như một hoạt động thực tiễn, vì phân tích
hoạt động kinh doanh luôn đi trước quyết định và là cơ sở cho việc ra các quyết định kinh
doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh như một ngành khoa học, nó nghiên cứu các
phương pháp phân tích có hệ thống và tìm ra các giải pháp áp dụng chúng ở mỗi doanh
nghiệp.
Như vậy phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt
động kinh doanh, một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể và phù hợp
với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả cao hơn cho
doanh nghiệp.
Từ đó, ta có thể hiểu phân tích kết quả tiêu thụ là quá trình nghiên cứu để phân tích
toàn bộ quá trình và kết quả tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ tình hình
hoạt động tiêu thụ và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, từ đó đề ra các phương án
và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ ở doanh nghiệp.
1.4.2. Vai trò của phân tích
Để kinh doanh đạt hiệu quả như mong muốn và hạn chế rủi ro xảy ra thì đòi hỏi
không?
1.4.3. Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh
Trong nền cơ chế thị trường các doanh nghiệp được quyền tự chủ trong hoạt động
kinh doanh, tự trang trải chi phí và đảm bảo có lợi nhuận. Để thực hiện được điều này,
phân tích hoạt động kinh doanh phải thường xuyên kiểm tra đánh giá mọi diễn biến và kết
quả của quá trình sản xuất kinh doanh, tìm giải pháp khai thác năng lực của doanh nghiệp
nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động. Cho nên nội dung nghiên cứu chủ yếu của phân
tích kinh doanh là:
- Phân tích các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh, như: sản lượng sản phẩm, doanh thu
bán hàng, giá thành, lợi nhuận…
- Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh được phân tích trong mối quan hệ với các chỉ tiêu
về điều kiện (yếu tố) của quá trình sản xuất kinh doanh, như: lao động, tiền vốn, vật tư,
đất đai…
Để thực hiện nội dung trên, phân tích kinh doanh cần xác định các đặc trưng về
mặt lượng của các giai đoạn, các quá trình kinh doanh (số lượng, kết cấu, quan hệ, tỷ
18
lệ…) nhằm xác định xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định những nguyên nhân ảnh
hưởng đến sự biến động của quá trình kinh doanh, tính chất và trình độ chặt chẽ của mối
liên hệ giữa kết quả kinh doanh với các điều kiện (yếu tố) sản xuất kinh doanh.
1.5. Phương pháp và nội dung của phân tích hoạt động tiêu
thụ sản phẩm
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của vòng chu chuyển vốn ở doanh nghiệp. Sản
phẩm hàng hoá chỉ được coi là tiêu thụ khi doanh nghiệp đã nhận được tiền bán hàng hay
khách hàng đã chấp nhận trả tiền cho sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, khi sản xuất đã phát triển thì vấn đề quan trọng trước
hết không phải là sản xuất mà là tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, bởi vì:
- Có tiêu thụ được sản phẩm hàng hoá, doanh nghiệp mới thu hồi được vốn, mới có
quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo và như vậy sản xuất mới có thể ổn định và phát
triển.
một khía cạnh nhất định của kết quả kinh doanh. Phân tích chi tiết theo các chỉ tiêu cho
phép đánh giá một cách chính xác, cụ thể kết quả kinh doanh đạt được. Đây là phương
pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích mọi mặt kết quả hoạt động kinh doanh.
- Chi tiết theo thời gian: kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá
trình. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng đơn vị
thời gian thường không đồng đều nhau. Ví dụ: trong doanh số bán sản phẩm từng thời
gian trong năm không bằng nhau. Việc phân tích chi tiết theo thời gian giúp ta đánh giá
được nhịp điệu, tốc độ phát triển của hoạt động kinh doanh qua các thời kỳ khác nhau, từ
đó tìm nguyên nhân và giải pháp có hiệu lực cho công việc kinh doanh. Phân tích chi tiết
theo thời gian cũng giúp ta nghiên cứu đồng thời nhịp điệu của các chỉ tiêu có liên quan
với nhau từ đó phát hiện những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện các chỉ
tiêu kinh doanh.
- Chi tiết theo địa điểm: kết quả kinh doanh được thực hiện bởi các phân xưởng tổ
đội sản xuất… hay các cửa hàng, xí nghiệp trực thuộc doanh nghiệp. Phân tích chi tiết
theo địa điểm giúp ta đánh giá kết quả thực hiện hạch toán kinh doanh nội bộ, phát hiện
20
bộ phận tiên tiến hay lạc hậu trong việc thực hện các mục tiêu kinh doanh, khai thác khả
năng tiềm tàng về sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn, đất đai… trong kinh doanh.
1.5.2. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng lâu đời và phổ biến nhất. So
sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hoá
có cùng một nội dung, một tính chất tương tự để xác định xu hướng mức độ biến động
của chỉ tiêu. Nó cho phép ta tổng hợp được những nét chung, tách ra được những nét
riêng của các hiện tượng được so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay
kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm các giải pháp quản lý tối ưu trong mỗi
trường hợp cụ thể. Vì vậy để tiến hành so sánh bắt buộc phải giải quyết những vấn đề cơ
bản như xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh, mục tiêu so sánh.
Số gốc để so sánh: Tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích mà ta xác định số
gốc để so sánh và do đó có nhiều dạng so sánh khác nhau.
(1.1)
Tốc độ tiêu thụ sản phẩm:
(1.2)
Nếu M < 1, chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp kém tính phù hợp với thị trường,
các biện pháp nghiệp vụ của hoạt động tiêu thụ, doanh nghiệp tổ chức và thực hiện chưa
tốt,
Nếu M > 1, chứng tỏ công tác tiêu thụ có hiệu quả.
Về thước đo giá trị: nhằm đánh giá chung kết quả tiêu thụ của tất cả sản phẩm
hàng hoá giữa các kỳ phân tích.
M
Sản lượng tiêu thụ thực tế
Sản lượng tiêu thụ kế hoạch
=
x 100
Khối lượng
tiêu thụ
Khối lượng
tồn kho đầu
kỳ
Khối lượng sản
xuất trong kỳ
Khối lượng
tồn kho cuối
kỳ
= + -
22
Doanh thu tiêu thụ: đây là chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động tiêu thụ sản
phẩm ở doanh nghiệp, được xác định:
Doanh thu = Sản lượng tiêu thụ x Giá bán (1.3)
x
% HTKHTT
MH
x 100=
Lượng thực tế
trong KH từng SP
Đơn giá cố định
tương ứng
x
Lượng kế hoạch
từng sản phẩm
Đơn giá cố định
tương ứng
x
23
Cơ cấu mặt hàng thay đổi làm giá trị sản lượng tiêu thụ tăng hoặc giảm. Việc đánh
giá ảnh hưởng của nhân tố này phải căn cứ vào điều kiện cụ thể: doanh nghiệp thuộc loại
hình sản xuất có thể thay đổi cơ cấu mặt hàng theo nhu cầu của thị trường hay doanh
nghiệp sản xuất theo cơ cấu mặt hàng ổn định. Đối với loại hình doanh nghiệp thứ nhất,
việc thay đổi cơ cấu mặt hàng được đánh giá là tốt nếu làm tăng sản lượng và ngược lại.
Đối với loại hình doanh nghiệp thứ hai, nếu cơ cấu mặt hàng thay đổi trong điều
kiện doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch tiêu thụ chung và kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ
yếu là tốt, ngược lại cần xác định rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục.
1.6.2.2. Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là hệ thống những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác
định bằng thông số có thể đo được hoặc so sánh được phù hợp với điều kiện hiện tại và
thoả mãn được những nhu cầu hiện tại nhất định của xã hội. Chất lượng sản phẩm là yếu
tố quan trọng nhất định tạo nên uy tín cho doanh nghiệp trên thị trường. Chất lượng sản
phẩm ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến tốc độ tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Thật
vậy, khi khách hàng biết đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp và tin vào chất lượng
của Bộ Xây Dựng.
Trụ sở: Km 1219 Quốc lộ 1A- Thị Trấn Diêu Trì- Tuy Phước- Bình Định.
Điện thoại: 056.3834434 – 3833662 Fax: 3833661
Đơn vị chủ quản: Công ty đầu tư xây dựng và xuất nhập khẩu Việt Nam
(Constrexim Holdings ).
25
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 3506000001 ngày 10/10/2003 do Sở Kế
Hoạch đầu tư tỉnh Bình Định cấp.
Tiền thân của công ty là Xí Nghiệp Xi Măng Nghĩa Bình được thành lập từ năm
1977. Lúc bấy giờ xí nghiệp sản xuất xi măng lò đứng với công nghệ, thiết bị cũ và lạc
hậu, sản xuất theo phương pháp bán khô, xi măng có mác thấp, chất lượng thấp nên chỉ
thích hợp cho xây nhà cấp 4 và các công trình phụ gia đình. Mức sản lượng thấp, chỉ đạt
2000 đến 3000/ năm, tiêu thụ chủ yếu trong tỉnh Nghĩa Bình (cũ).
Sau hơn 10 năm hoạt động, với nhu cầu xi măng trên thị trường ngày càng cao, đặc
biệt là nhu cầu cho các công trình xây dựng lớn như thủy điện Vĩnh Sơn, thủy điện Yaly
Bình Định cần thiết phải có một điểm nghiền xi măng mác PC 30 theo TCVN với công
xuất 70.000 tấn/ năm để thay thế dây chuyền cũ lạc hậu. Qua luận chứng kinh tế kỹ thuật
được phép ủy ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Xây Dựng đã cho phép tỉnh Bình Định liên
doanh với Tổng công ty xi măng Việt Nam và Tổng công ty xây dựng thủy điện Sông Đà,
lắp đặt một dây chuyền công nghệ nghiền Clinker với công suất 70.000 tấn/năm
(16 tấn/giờ) được UBND tỉnh Bình Định phê duyệt tại quyết định số 1134/QĐ – UB ngày
29/09/1990. Điểm nghiền được lắp đặt và chính thức đi vào sản xuất từ tháng 05/1992,
trong thời gian này doanh nghiệp lấy tên là Xí nghiệp xi măng số 4, sản phẩm làm ra quá
mới mẻ, đứng trước thị trường cạnh tranh khá gay gắt với nhiều chủng loại xi măng khác
như: Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, xi măng nhập ngoại, nên thị phần sản phẩm xi măng số 4 rất
hạn hẹp, mặt khác sự chủ động của doanh nghiệp liên doanh còn rất nhiều điều bất cập,
hạn chế, không thích ứng trong cơ chế thị trường.
2.1.1.2. Quá trình phát triển của công ty
Đầu năm 1996 để chủ động trong sản xuất kinh doanh và nhằm sử dụng có hiệu